Bạn đang ở: Trang chủ Trích đoạn Trưởng thành tâm linh Quan sát - Nhận biết Lí trí và phi lí
 
 
Quan sát - Nhận biết

Lí trí và phi lí

 

Nhưng làm sao người ta có thể biết cái gì là mục đích đúng để gây hứng khởi trong sự sống nếu mọi thứ là để được chấp nhận?

 

Chính việc tìm mục đích là một phần của quá trình lí trí. Tương lai tồn tại vì lí trí. Đó là lí do tại sao với con vật không có tương lai và không có mục đích. Chúng sống, nhưng không có mục đích. Lí trí tạo ra lí tưởng; nó tạo ra mục đích; nó tạo ra tương lai. Vấn đề thực không phải là mục đích đúng là gì. Vấn đề thực là liệu có mục đích hay không.

Thế hệ mới đang hỏi liệu có mục đích hay không. Khoảnh khắc bạn có mục đích, bạn bắt đầu quay ra xa sự sống. Bạn bắt đầu tạo khuôn sự sống tương ứng với mục đích của bạn. Hiện tại trở thành ít nghĩa. Nó phải bị tạo khuôn, bị điều chỉnh theo tương lai.

Tâm trí hướng đích là lí trí, và tâm trí hướng sự sống là phi lí trí. Cho nên vấn đề không phải là làm sao có mục đích đúng. Vấn đề là làm thế nào để cho lí trí không là hiện tượng duy nhất của tâm trí.

Lí trí phải có mục đích; nó không thể tồn tại mà không có mục đích. Nhưng điều này phải không trở thành độc tài; nó phải không là cành duy nhất mọc ra. Lí trí phải tồn tại, nó là sự cần thiết, nhưng có phần trống rỗng của tâm trí con người mà không thể có mục đích, cái có thể tồn tại chỉ như con vật, như trẻ con. Nó có thể tồn tại chỉ ở đây và bây giờ. Phần trống rỗng này, phần phi lí này, trải nghiệm những miền sâu hơn của sống, của yêu, của nghệ thuật. Nó không có nhu cầu đi vào trong tương lai, cho nên nó có thể đi sâu vào trong ở đây và bây giờ. Lí trí phải phát triển, nhưng phần này phải được phát triển một cách đồng thời.

Đã từng có các nhà khoa học với nhân cách tôn giáo rất sâu. Điều này có thể xảy ra theo hai cách. Hoặc nó có thể là sự hài hoà sâu, hoặc nó có thể chỉ đóng lỗ hổng này và mở lỗ hổng khác, không có bất kì hài hoà nào. Tôi có thể là nhà khoa học và thế rồi tôi có thể bỏ thế giới khoa học và đi tới nhà thờ để cầu nguyện. Thế thì nhà khoa học không cầu nguyện. Điều đó thực sự không phải là hài hoà; nó là việc rẽ đôi sâu sắc. Không có đối thoại bên trong giữa nhà khoa học và người tôn thờ. Nhà khoa học đã không tới nhà thờ chút nào. Khi người này quay lại phòng thí nghiệm của mình, người tôn thờ không có đó. Có phân chia sâu giữa hai người này; họ không chờm lấp nhau. Trong người như vậy bạn sẽ thấy sự tách đôi chứ không hài hoà. Người đó sẽ nói những điều mà bản thân người đó cảm thấy mặc cảm khi đã nói. Người đó sẽ đưa ra những phát biểu như nhà khoa học, điều đi ngược lại tâm trí người đó như người tôn thờ.

Nhiều nhà khoa học thế đã đi tới những cuộc sống phân liệt. Một phần của họ là thứ này, phần khác là cái gì đó khác. Đây không phải là điều tôi ngụ ý bởi hài hoà. Bởi hài hoà tôi ngụ ý bạn có năng lực chuyển từ người này sang người kia mà không bao giờ bị đóng với cả hai. Thế thì nhà khoa học đi cầu nguyện, và người tôn giáo đi tới phòng thí nghiệm. Không có phân chia, không kẽ hở.

Bằng không, bạn sẽ trở thành hai người. Bình thường chúng ta là nhiều người; chúng ta có đa nhân cách. Chúng ta trở nên bị đồng nhất với nhân cách này, và thế rồi chúng ta đổi số và trở thành cái gì đó khác. Việc đổi số này không phải là hài hoà. Nó tạo ra căng thẳng rất sâu trong con người bạn. Bạn không thể thoải mái với nhiền căn cước thế. Tâm thức không phân chia, năng lực chuyển tới đối lập cực, chỉ có thể khi chúng ta có quan niệm về con người là cái một bản chất - khi không có phủ nhận các cái đối lập.

Hoài nghi là một phần của công việc của nhà khoa học. Tin cậy cũng là một phần. Chúng là hai khía cạnh nhìn vào các chiều khác nhau của cùng một sự việc. Cho nên nhà khoa học có thể cầu nguyện trong phòng thí nghiệm của mình; không có gì sai trong điều đó. Hoài nghi là một phần của công việc của ông ấy, một công cụ của công việc của ông ấy, và tin cậy cũng vậy. Không có phân đôi cố hữu. Khi người ta có thể chuyển dễ dàng, trơn chu, từ phần này sang phần kia, cho dù việc chuyển không được cảm thấy. Bạn chuyển, nhưng việc chuyển không được cảm thấy. Việc chuyển chỉ được cảm thấy khi có chướng ngại nào đó. Khi có hài hoà sâu, không việc chuyển nào được cảm thấy.

Một điều nữa: khi tôi nói "Đông" và "Tây" tôi không ngụ ý rằng ở phương Tây đã từng không có tâm trí phương Đông và ở phương Đông đã từng không có tâm trí phương Tây. Tôi đang nói về dòng chảy chính. Đôi khi chúng ta phải viết lịch sử thế giới mà trong đó thế giới không bị phân chia về địa lí mà về tâm lí. Trong nó, phương Đông sẽ có nhiều khuôn mặt từ phương Tây và phương Tây sẽ có nhiều khuôn mặt từ phương Đông.

Cho nên tôi không ngụ ý rằng cả hai xu hướng không tồn tại ở phương Tây. Tôi ngụ ý rằng dòng chảy chính ở phương Tây đã từng hướng tới sự trưởng thành lí trí, ngay cả trong tôn giáo. Đó là lí do tại sao nhà thờ trở nên chi phối thế.

Jesus đã là người phi lí, nhưng Thánh Paul đã có tâm trí rất khoa học, tâm trí rất lí trí. Ki tô giáo thuộc về Thánh Paul, không thuộc về Jesus. Với người hỗn loạn như vậy không có khả năng nào cho một tổ chức lớn thế. Điều đó là không thể được. Jesus đã mang tính phương Đông nhưng Thánh Paul thì không.

Đã từng có xung đột giữa khoa học và nhà thờ. Cả hai đều là lí trí. Cả hai đều cố hợp lí hoá hiện tượng tôn giáo. Nhà thờ nhất định bị thất bại, vì bản thân hiện tượng tôn giáo là phi lí. Lí trí thất bại khi có liên quan tới tôn giáo. Đó là lí do tại sao nhà thờ đã phải bị thất bại, và khoa học đã chiến thắng.

Ở phương Đông đã không có tranh đấu giữa khoa học và tôn giáo vì tôn giáo chưa bao giờ tuyên bố bất kì cái gì bên trong địa hạt của lí trí. Hai lĩnh vực này không thuộc cùng một phân loại, cho nên không có tranh đấu giữa chúng.

 

 

Làm sao có chuyện tôn giáo trở thành có lí trí?

 

Điều này xảy ra không phải vì bản thân tôn giáo, nhưng bất kì khi nào tôn giáo phải được hệ thống hoá, hiện tượng này xảy ra. Một Phật hay một Jesus không đi theo bất kì lí tưởng nào. Họ sống cuộc sống tự phát; họ trưởng thành theo cách riêng của họ. Họ trưởng thành như cây dại, nhưng thế thì cây dại trở thành lí tưởng cho những người đi theo của họ. Người đi theo bắt đầu có hình mẫu, tham chiếu, chân lí, kết án.

Tôn giáo có hai phần. Một phần, người có nhân cách tôn giáo sâu sắc, người là tự phát, và phần thứ hai, những người đi theo, người tạo ra tín ngưỡng, học thuyết, kỉ luật tương ứng với lí tưởng. Thế thì lí tưởng tồn tại cho các Phật tử - "Người ta phải giống Phật" - và kìm nén được tạo ra. Bạn phải phá huỷ bản thân bạn theo nhiều cách, vì chỉ thế thì bạn mới có thể trở thành lí tưởng này. Bạn phải trở thành việc bắt chước.

Với tôi, điều này là tội phạm. Nhân cách tôn giáo là đẹp, nhưng tín ngưỡng tôn giáo chỉ là thứ lí trí. Nó chỉ là lí trí đương đầu với hiện tượng phi lí.

 

 

Phật chẳng có tâm trí lí trí đó sao?

 

Ông ấy rất lí trí, nhưng ông ấy đã có kẽ hở rất phi lí. Ông ấy đã thoải mái với cái phi lí nữa. Quan niệm chúng ta có về Phật không thực sự là về Phật, mà từ truyền thống đi theo sau. Phật đã là điều khác hoàn toàn.

Vì chúng ta không thể nào làm khác được, chúng ta phải đi qua các Phật tử để đạt tới Phật. Họ đã tạo ra một tín ngưỡng dài hai nghìn năm, và họ đã làm Phật thành rất lí trí. Ông ấy không phải vậy. Bạn không thể hiện hữu nếu bạn ở sâu trong sự tồn tại. Bạn phải là phi lí nhiều lần - và Phật là vậy! Nhưng để biết điều này, chúng ta phải gạt sang bên toàn thể tín ngưỡng và đương đầu trực tiếp với Phật. Điều đó rất khó, nhưng nó có thể xảy ra.

Nếu tôi đang nói về người lí trí, một cách vô thức người đó bỏ đi mọi cái là không lí trí. Nhưng nếu tôi nói về nhà thơ, cùng câu này và cùng lời này mang nghĩa cái gì đó khác. Người lí trí không thể nhìn vào thơ ca của các lời. Người đó chỉ có thể nhìn vào logic, luận cứ. Nhà thơ nhìn lời theo cách khác. Lời có sắc thái của mầu sắc, thơ ca mà không được kết nối chút nào với bất kì luận cứ nào.

Cho nên mặt Phật khác đi tương ứng với người nhìn ông ấy. Phật đã tồn tại ở Ấn Độ trong thời kì mà toàn thể đất nước đã trải qua khủng hoảng về mọi thứ phi lí: Vedas, Upanishads, toàn thể huyền môn. Phong trào chống lại mọi điều này đã là rất lớn, đặc biệt ở Bihar nơi Phật ở.

Phật là người có sức thu hút, thôi miên. Mọi người bị ấn tượng bởi ông ấy. Nhưng việc diễn giải về Phật nhất định là lí trí. Nếu như Phật đã sống vào thời gian khác trong lịch sử, ở một phần của thế giới mà không chống lại huyền bí, ông ấy chắc đã được coi như nhà huyền bí lớn, không là nhà trí thức. Khuôn mặt được biết thuộc vào lịch sử của một thời kì đặc biệt.

Như tôi nhìn Phật, ông ấy không phải là người lí trí chủ yếu. Toàn thể quan niệm về niết bàn là huyền bí. Ông ấy đã thậm chí là huyền bí hơn Upanishads, vì Upanishads, dù chúng có vẻ huyền bí thế nào, có tính lí trí riêng của chúng. Chúng nói về luân hồi của hồn. Phật đã nói về luân hồi không có hồn. Điều đó còn huyền bí hơn. Upanishads nói về giải thoát, nhưng bạn sẽ có đó. Bằng không, toàn thể sự việc trở thành vô nghĩa. Nếu tôi không thể hiện hữu trong trạng thái tối thượng của sự tồn tại, thế thì toàn thể nỗ lực là vô dụng, phi logic. Phật đã nói nỗ lực là cần được làm - và bạn sẽ không có đó. Nó chỉ là hư không. Quan niệm này là huyền bí hơn.

 

Từ “Tâm lí của bí truyền”, ch.12