Các khái niệm trong cuộc sống

Địa quyển

Related image

 

Teihard de Chardin chia tiến hoá con người thành bốn giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất ông ấy gọi là địa quyển (geosphere), giai đoạn thứ hai là sinh quyển (biosphere), giai đoạn thứ ba, trí quyển (noosphere), và giai đoạn thứ tư, christ quyển (christosphere). Bốn giai đoạn này có ý nghĩa mênh mông. Chúng phải được hiểu. Việc hiểu chúng sẽ giúp cho bạn hiểu đỉnh cao nhất của Tâm Kinh.

Địa quyển. Nó là trạng thái của ý thức tuyệt đối ngủ, trạng thái của vật chất. Vật chất là giấc ngủ của ý thức. Vật chất không chống lại ý thức, vật chất là trạng thái ngủ của ý thức, chưa thức tỉnh. Tảng đá là Phật đang ngủ; ngày nọ hay ngày kia đá sẽ trở thành Phật. Có thể mất hàng triệu năm - điều đó không thành vấn đề. Khác biệt sẽ chỉ là thời gian, và thời gian không thành vấn đề gì mấy trong vĩnh hằng này. Đó là lí do tại sao ở phương Đông chúng ta đã từng làm tượng từ đá - điều đó rất biểu tượng: đá và Phật được bắc cầu qua tượng đá. Đá là thấp nhất và Phật là cao nhất. Tượng đá nói rằng thậm chí trong đá có ẩn kín vị Phật. Tượng đá nói rằng Phật không là gì ngoài đá đi tới biểu lộ; đá đã diễn đạt toàn thể tiềm năng của nó.

Đây là giai đoạn thứ nhất: địa quyển. Nó là vật chất, nó là vô ý thức, nó là giấc ngủ, nó là trước sự sống. Trong trạng thái này không có tự do, vì tự do đi vào qua ý thức. Trong trạng thái này chỉ có nhân-quả. Luật là tuyệt đối. Thậm chí không điều ngẫu nhiên nào là có thể. Tự do không được biết tới. Tự do đi vào chỉ như cái bóng của ý thức; bạn càng trở nên ý thức hơn, bạn càng tự do hơn. Do đó Phật được gọi là mukta - tự do hoàn toàn. Đá hoàn toàn trong lệ thuộc, bị kiềm chế mọi nơi, từ mọi phía, theo mọi chiều. Đá là linh hồn trong cầm tù, Phật là linh hồn trên đôi cánh. Không còn bất kì xiềng xích nào, bất kì lệ thuộc nào, bất kì tù túng nào; không tường nào bao quanh Phật. Ông ấy không có biên giới nào cho bản thể ông ấy. Bản thể ông ấy là bao la như bản thân sự tồn tại. Ông ấy là một với cái toàn thể.

Nhưng trong thế giới của địa quyển, nhân quả là pháp -dhamma- duy nhất, luật duy nhất, Đạo duy nhất. Khoa học vẫn còn bị giới hạn vào địa quyển, vì nó vẫn liên tục nghĩ dưới dạng nhân quả. Khoa học hiện đại là khoa học rất thô sơ, rất nguyên thuỷ, vì nó không thể quan niệm được bất kì cái gì hơn vật chất. Quan niệm của nó rất bị giới hạn, và do đó nó tạo ra nhiều khổ hơn là nó giải quyết. Cái nhìn của nó hữu hạn thế, cái nhìn của nó tí hon, nhỏ bé đến mức nó không thể hoà hợp bản thân nó với cái toàn bộ của sự tồn tại. Nó nhìn từ cái lỗ tí hon và nghĩ đó là tất cả. Khoa học vẫn còn bị hạn chế vào địa quyển. Khoa học vẫn trong lệ thuộc, nó còn chưa có cánh. Nó sẽ có cánh chỉ khi nó bắt đầu đi ra ngoài nhân quả.

Vâng, những tia lửa nhỏ có đó. Nhà vật lí hạt nhân đang đi vào trong thế giới bên ngoài nhân quả, đi ngang qua biên giới. Do đó, nguyên lí bất định nảy sinh, nảy sinh với lực lớn. Nhân quả là nguyên lí của chắc chắn: bạn làm điều này và điều này nhất định xảy ra. Bạn đun nước tới một trăm độ và nước bốc hơi - đó là nhân quả. Nước không có tự do. Nó không thể nói, “Hôm nay tôi không trong tâm trạng, và tôi sẽ không bốc hơi tại một trăm độ! Tôi đơn giản nói không!” Không, nó không thể nói điều đó; nó không thể kháng cự lại, nó không thể tranh đấu với luật. Nó là rất trọng luật, rất vâng lời. Ngày khác nào đó, khi nước cảm thấy rất sung sướng, nó không thể nói, “Bạn đừng bận tâm quá nhiều. Tôi sẽ bay hơi ở năm mươi độ. Tôi sẽ gia ơn cho bạn.” Không, điều đó không thể được.

Vật lí cổ, khoa học cổ, không có thoáng nhìn nào về nguyên lí bất định. Nguyên lí bất định ngụ ý nguyên lí của tự do. Bây giờ, chút ít thoáng nhìn đang xảy ra. Bây giờ họ không còn chắc chắn như họ vẫn thường thế. Bây giờ họ thấy rằng ở chỗ sâu nhất, trong vật chất nữa có một lượng tự do nào đó. Rất khó nói liệu điện tử là hạt hay sóng: nó hành xử theo cả hai cách, lúc thì theo cách này, lúc thì theo cách kia. Và không có cách nào để dự đoán nó. Nó là lượng tử. Và không chỉ điều đó - tự do của nó tới mức đôi khi đồng thời nó hành xử như sóng và như hạt. Đó là điều hoàn toàn không thể được đối với các nhà khoa học cổ, ngay cả để quan niệm hay hiểu. Aristotle sẽ không có khả năng hiểu được nó, Newton sẽ không có khả năng hiểu được nó. Điều đó là không thể thấy được. Điều đó đang nói lên rằng cái gì đó hành xử như đường thẳng và như điểm đồng thời; điều đó là phi logic. Làm sao cái gì đó hành xử giống như điểm đường được? Hoặc nó là đường hoặc nó là điểm chứ.

Nhưng bây giờ các nhà vật lí đang bắt đầu có những thoáng nhìn về cốt lõi bên trong nhất của vật chất. Theo một cách thức rất, rất quanh co họ đang vướng phải một trong những yếu tố lớn nhất của sự sống: tự do. Nhưng trong địa quyển nó không tồn tại. Nó là sushupti.

Từ sushupti ngụ ý ngủ tuyệt đối - thậm chí không mơ khuấy động. Đá thậm chí không mơ, chúng không thể mơ được. Để mơ chúng sẽ phải có ý thức thêm chút ít. Đá đơn giản có đấy. Nó không có cá tính, nó không có linh hồn - ít nhất không có trong thực tại. Nó thậm chí không thể mơ; giấc ngủ của nó không bị quấy rối. Ngày, đêm, hết năm nọ tới năm kia, nó liên tục ngủ. Hàng nghìn năm nó đã ngủ, và trong hàng nghìn năm nữa nó sẽ ngủ. Thậm chí không một giấc mơ nào quấy rối nó.

Trong yoga chúng ta phân chia ý thức thành bốn giai đoạn. Chúng là rất rất tương đối theo cách phân chia của Chardin. Giai đoạn thứ nhất là sushupti, ngủ say. Địa quyển tương ứng với điều đó. Địa quyển giống chết hơn giống sống. Đó là lí do tại sao vật chất dường như chết. Nó không phải vậy. Nó đang đợi cho sự sống của nó trỗi dậy, nó giống như hạt mầm. Nó dường như chết: nó đang đợi khoảnh khắc đúng của nó để bùng nổ vào sự sống. Nhưng ngay bây giờ nó là chết. Không có tâm trí. Nhớ, trong giai đoạn cuối cũng sẽ không có tâm trí lần nữa. Phật ở trong trạng thái vô trí, và đá cũng ở trong trạng thái vô trí. Do đó có ý nghĩa của tượng đá: sự gặp gỡ của hai cực. Đá đang trong trạng thái vô trí ngụ ý đá vẫn ở dưới tâm trí. Phật ở trạng thái vô trí: điều đó ngụ ý Phật đã đi ra ngoài tâm trí. Có sự tương tự, hệt như tương tự giữa đứa trẻ và thánh nhân. Đứa trẻ ở dưới tâm trí, thánh nhân ở bên ngoài tâm trí. Đá sẽ phải đi qua mọi rối loạn của sự sống như Phật đã trải qua. Ông ấy đã đi qua, đi qua và đi ra ngoài, hoàn toàn ra ngoài. Nhưng có tương tự: ông ấy lại tồn tại trong trạng thái vô trí. Ông ấy đã trở thành có ý thức đầy đủ đến mức tâm trí không được cần tới. Đá là vô ý thức đến mức tâm trí không thể tồn tại được. Trong đá vô ý thức là tuyệt đối, do đó tâm trí là không thể có. Trong Phật tâm thức là tuyệt đối và tâm trí là không được cần. Để tôi giải thích điều đó cho bạn; nó là một trong những điều quan trọng nhất để học, để hiểu.

Tâm trí được cần chỉ bởi vì bạn không thực sự ý thức. Nếu bạn thực sự ý thức, thế thì có sáng suốt, không có suy nghĩ. Thế thì bạn hành động từ sáng suốt, bạn không hành động từ tâm trí của bạn. Thế thì tâm trí không được cần tới. Khi bạn thấy một thứ là đúng, chính việc thấy đó trở thành hành động của bạn.

Chẳng hạn, bạn đang trong nhà và nhà bị cháy. Bạn thấy nó - điều đó không phải là suy nghĩ. Bạn đơn giản thấy nó, và bạn nhảy ra khỏi nhà. Bạn không chờ đợi, bạn không đắn đo, bạn không nghiền ngẫm về nó. Bạn không điều tra, bạn không tra cứu sách báo, bạn không đi hỏi lời khuyên của ai đó về phải làm gì.

Bạn đang về từ việc đi dạo buổi tối, và ngay bên đường bạn bắt gặp một con rắn. Bạn nhảy lên! Trước khi bất kì suy nghĩ nào đi vào, bạn nhảy rồi. Không phải là từ suy nghĩ mà bạn nhảy, nó là từ sáng suốt. Nguy hiểm lớn có đó - chính nguy hiểm làm bạn sống động, mãnh liệt, ý thức, và bạn nhảy từ ý thức. Đấy là cái nhảy vô trí.

Nhưng những khoảnh khắc này là hiếm hoi trong cuộc sống của bạn vì bạn còn chưa sẵn sàng sống với ý thức của bạn một cách mãnh liệt và toàn bộ. Với Phật, đó là cách thức thông thường của ông ấy. Ông ấy sống toàn bộ tới mức tâm trí không bao giờ còn cần tới, không bao giờ được tư vấn tới.

Quyển thứ nhất, địa quyển, là quyển vô trí. Không có cái ngã, hiển nhiên, vì không có tâm trí cái ngã không thể tồn tại. Lần nữa, trong quyển thứ tư, sẽ không có cái ngã - vì không có tâm trí làm sao cái ngã tồn tại được? Tâm trí cần vận hành từ một trung tâm, do đó nó tạo ra bản ngã, cái ngã. Tâm trí phải giữ bản thân nó trong kiểm soát, tâm trí phải giữ bản thân nó theo một mẫu hình nào đó, trật tự nào đó. Nó phải giữ lại bản thân nó. Để giữ bản thân mình, nó tạo ra một trung tâm, vì chỉ qua trung tâm này nó có thể giữ được kiểm soát. Không có trung tâm nó sẽ không có khả năng giữ kiểm soát. Cho nên một khi tâm trí bước vào, bản ngã đang trên đường. Sớm hay muộn tâm trí sẽ cần bản ngã. Không có bản ngã, tâm trí sẽ không có khả năng vận hành. Bằng không, ai sẽ kiểm soát, ai sẽ quản lí, ai sẽ thao tác, ai sẽ lập kế hoạch, ai sẽ mơ, ai sẽ phóng chiếu? Và ai sẽ có đó để được tham chiếu tới như một thứ thường hằng? - vì tâm trí liên tục thay đổi. Ý nghĩ nọ tiếp ý nghĩ kia... nó là đám diễu hành các ý nghĩ. Bạn sẽ lạc nếu bạn không có bản ngã nào: bạn sẽ không biết bạn là ai, và bạn đang đi đâu, và để làm gì.

Trong địa quyển không có tâm trí, không cái ngã, và không thời gian. Nó ở dưới thời gian. Thời gian chưa đi vào. Đá không biết quá khứ, hiện tại, tương lai. Và cũng là vậy cho trường hợp của Phật. Ông ấy cũng ở ngoài thời gian. Ông ấy không biết quá khứ, hiện tại, tương lai. Ông ấy sống trong vĩnh hằng. Thực ra đó là nghĩa thực của việc hiện hữu trong hiện tại. Hiện hữu trong hiện tại không ngụ ý là không gian ở giữa quá khứ và tương lai. Trong từ điển đó là nghĩa được cho: khoảng không giữa quá khứ và tương lai được gọi là hiện tại. Nhưng điều đó không phải là hiện tại. Đây là loại hiện tại gì? Nó đã trở thành quá khứ rồi; nó đang đi ra khỏi sự tồn tại. Khoảnh khắc này, nếu bạn gọi nó là ‘hiện tại’, khoảnh khắc mà bạn đã gọi nó là ‘hiện tại' nó đã trôi vào quá khứ rồi; nó không còn là hiện tại nữa. Và khoảnh khắc mà bạn gọi là ‘tương lai’ - khoảnh khắc bạn gọi nó là ‘tương lai’, nó đã trở thành hiện tại và đang đi hướng tới trở thành quá khứ. Hiện tại này không phải là hiện tại thực. Hiện tại ở giữa quá khứ và tương lai chỉ là một phần của quá khứ và tương lai, của quá trình thời gian.

Hiện tại mà tôi nói tới, cái bây giờ mà tôi nói tới, hay Phật nói tới, hay Christ khi ông ấy nói, “Đừng nghĩ về ngày mai. Nhìn hoa loa kèn trên cánh đồng - chúng không làm quần quật, chúng không xoay như chong chóng mà trông chúng đẹp làm sao. Chúng đẹp không thể tin được! Ngay cả Solomon không được trang điểm đẹp như thế trong tất cả vinh quang của ông ấy. Nhìn hoa loa kèn trên cánh đồng mà xem...” Những hoa loa kèn đó đang sống trong một loại tính bây giờ; chúng không biết tới quá khứ, chúng không biết tới tương lai.

Phật không biết tới quá khứ, tương lai và hiện tại. Ông ấy không biết phân chia. Đó là trạng thái của vĩnh hằng. Thế thì bây giờ là tuyệt đối có đó. Chỉ có bây giờ, và chỉ có ở đây, và không cái gì khác. Nhưng đá cũng ở trong trạng thái đó - vô ý thức, tất nhiên.

 

Từ "Tâm Kinh"

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập