Bạn đang ở: Trang chủ Trích đoạn Nhận biết và chứng ngộ Các khái niệm trong cuộc sống Đạo đức và Tôn giáo
 
 
Các khái niệm trong cuộc sống

Đạo đức và Tôn giáo

Phải hiểu rất rõ ràng rằng đạo đức không phải là tôn giáo, mặc dù tôn giáo mang tính đạo đức. Người đạo đức không nhất thiết có tính tôn giáo, nhưng người tôn giáo nhất thiết có đạo đức; người đó không thể khác được. Người đạo đức thậm chí không nhất thiết có quan tâm tới tôn giáo: người đó có thể là người vô thần, người đó có thể là người bất khả tri – dầu vậy người đó có thể có đạo đức. Nhưng người tôn giáo không có khả năng nào là vô đạo đức. Chính tâm thức của người đó là đủ để cho người đó chiều hướng đúng. Người đó không phụ thuộc vào lời dạy bảo do những người sáng lập tôn giáo lớn cho hay bởi kinh sách tôn giáo; người đó có hướng dẫn của mình theo nhận biết riêng của mình.
Và bởi vì người đó sống tương ứng theo ánh sáng riêng của người đó, có niềm vui trong việc sống của người đó. Đạo đức của người đó không phải là gánh nặng. Đạo đức của người đó không phải là cái gì đó được áp đặt lên người đó. Đạo đức của người đó là cái gì đó giống như niềm vui tràn ngập, hân hoan thừa thãi. Người đó yêu vì người đó có nhiều yêu thế. Người đó không thể ghét được vì ghét đã biến mất khỏi bản thể người đó.
 
Tôi nhớ tới một người đàn bà rất vĩ đại – Rabiya al-Adabiya, người đàn bà Sufi. Nhà huyền bí Sufi vĩ đại, Hassan, đã ở cùng với Rabiya. Vào buổi sáng ông ấy muốn đọc Koran linh thiêng. Ông ấy đã không mang sách riêng của mình, cứ tưởng rằng Rabiya phải có Koran linh thiêng và điều đó sẽ có tác dụng.
Rabiya đưa cho ông ấy cuốn sách của bà ấy. Ông ấy mở nó ra và ông ấy bị choáng, vì Rabiya đã sửa nhiều chỗ trong Koran linh thiêng! Với bất kì người tôn giáo cuồng tín nào, với bất kì người chính thống nào, không cái gì có thể báng bổ hơn. Người Mô ha mét giáo không thể nghĩ được rằng bạn có thể sửa sứ giả duy nhất của Thượng đế, và là sứ giả cuối cùng. Bây giờ Thượng đế sẽ không gửi ấn bản khác đã được cải tiến của kinh sách linh thiêng của ngài. Bản cuối cùng ngài đã gửi là Koran linh thiêng. Người Mô ha mét giáo nói chỉ có một Thượng đế; một nhà tiên tri, Mohammed, và một kinh sách linh thiêng, Koran. Và bà già này, Rabiya, đang làm sửa chữa – bà ấy đã cắt đi vài dòng hoàn toàn!
Hassan nói, "Rabiya này, dường như ai đó đã làm hỏng sách của bà."
Rabiya nói, "Không ai đã làm hỏng sách của tôi. Tôi đã đơn giản sửa nó đấy."
Hassan nói, "Tôi không thể hiểu được. Tôi bao giờ cũng nghĩ rằng bà là người đàn bà tôn giáo lớn. Tôi không thể quan niệm được rằng bà sẽ làm điều như vậy."
Bà ấy nói, "Tôi phải làm điều đó. Nhìn vào điều tôi đã xoá đây này!" Câu trong Koran là: "Khi ông thấy quỉ, ghét quỉ." Và bà ấy đã xoá nó đi.
Rabiya nói, "Vì tôi đã trải nghiệm bản thể bên trong nhất của tôi, tôi không có bất kì ghét nào còn lại. Cho dù quỉ đứng trước tôi, tôi không có gì cúng dường ngoài yêu. Tôi phải sửa Koran. Nó là sách của tôi; nó phải tương ứng với kinh nghiệm của tôi! Mohammed không có độc quyền. Tôi sẽ không dung thứ bất kì cái gì trong sách của tôi mà đi ngược lại kinh nghiệm của tôi."
 
Con người của chứng ngộ đầy yêu, đầy vui, tới mức người đó chia sẻ nó. Việc chia sẻ tới với người đó mà không có nỗ lực nào – nó không phải là nỗ lực, nó không phải là hành động. Đó là lí do tại sao những người như Lão Tử nói "hành động vô hành động," và "nỗ lực vô nỗ lực."
Nhưng những người như Đại Huệ không thể hiểu được điều đó. Với họ, "nỗ lực vô nỗ lực" và "hành động vô hành động" sẽ có vẻ như những phát biểu phi logic, ngớ ngẩn. Làm sao có thể có hành động vô hành động được? Làm sao có thể có nỗ lực mà không nỗ lực nào? Nhưng tôi biết rằng một khi bạn thức tỉnh, bạn không làm bất kì cái gì – mọi thứ bắt đầu xảy ra. Nó chỉ là việc tràn ra tự phát, chỉ như hoa hồng tới trên bụi hồng, không có nỗ lực gì.
Yêu và từ bi, tốt và đẹp, duyên dáng và phúc lành, đơn giản tới mãi từ việc quá tràn đầy. Cũng như mây mưa trút xuống mà không có nỗ lực nào, người thức tỉnh cũng rút ra mà không có nỗ lực nào. Và cái đẹp của vô nỗ lực – và vậy mà xảy ra vô cùng – oai nghiêm thế. Nó là huy hoàng tối thượng trong sự tồn tại.
Phật Gautam đã nói... Trong bốn mươi hai năm liên tục ông ấy đã nói, và lúc kết thúc ông ấy nói, "Ta đã không thốt ra một lời." Và ông ấy là đúng, vì ông ấy đã không làm bất kì nỗ lực nào để nói. Nó đã chỉ là mây mưa trút xuống, nó đã là bụi hồng đem tới hoa hồng mà không nỗ lực nào, không hành động nào. Phật đã phải nói vì ông ấy tràn đầy thế. Mọi thơ ca đó, mọi âm nhạc đó, mọi điều đi ra từ ông ấy đơn giản là tự phát.
Người đạo đức làm nỗ lực; người đó cố gắng làm điều tốt, người đó né tránh làm điều xấu. Toàn thể cuộc sống của người đó liên tục là "Làm cái này" hay "Không làm cái kia." Người đó bao giờ cũng chia chẻ, và người đó bao giờ cũng lo nghĩ về liệu điều người đó đang làm có đúng không... nó có thực sự đúng không? Hay, ai biết được? – nó có thể không đúng. Người đạo đức hành động từ lẫn lộn. Người đó tuỳ thuộc vào người khác, những người bản thân họ cũng có thể đã bị lẫn lộn.
Lời cuối cùng của Phật Gautam trên thế gian là, "Là ánh sáng lên bản thân ông đi. Đừng bận tâm về điều người khác nói, đừng bận tâm về truyền thống, chính thống, tôn giáo, đạo đức. Chỉ là ánh sáng lên bản thân ông."
Chỉ một ánh sáng nhỏ là đủ, và bạn có thể đi tiếp với ánh sáng đó cho mười nghìn dặm đường mà không có bất kì khó khăn gì. Ánh sáng của bạn có thể chiếu chỉ một mét phía trước bạn – cứ liên tục chuyển động đi. Khi bạn chuyển động, ánh sáng sẽ đi lên trước, và nếu bạn có thể thấy phía trước một mét, điều đó là đủ. Bạn có thể đi xa như bạn muốn. Bạn có thể liên tục đi cuộc hành hương vĩnh hằng với chỉ một ánh sáng nhỏ của riêng bạn.
Không sống theo ánh sáng vay mượn.
Không sống theo mắt vay mượn.
Không sống theo khái niệm vay mượn.
Sống theo ánh sáng riêng của bạn, và cuộc sống của bạn sẽ, mỗi và mọi khoảnh khắc, là niềm vui lớn hơn, phúc lạc lớn hơn, cực lạc lớn hơn.
 
Từ "Thiền sư Đạo Huệ"
 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập