Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Bài nói cho người tìm kiếm Tôi là lối cổng
 
 
Bài nói cho người tìm kiếm

Tôi là lối cổng - (8)

8. Chỉ mở cửa sổ

Osho kính yêu,

Các nhà thượng đế học nói về những nhóm thầy khác nhau vẫn tồn tại về mặt vật lí hay thậm chí phi vật lí. Có bao nhiêu nhóm đó hiện vẫn đang tồn tại ngày nay? Các nhóm bí truyền đó là gì, và làm sao họ ảnh hưởng tới những người tìm kiếm và hoạt động của thế giới? Xin Thầy nói cho chúng tôi về mối quan hệ của Thầy với các nhóm thầy bí truyền đó.

Tri thức tâm linh có nhiều khó khăn để tồn tại. Khó khăn thứ nhất là ở chỗ nó không thể được diễn đạt một cách thích hợp. Cho nên thậm chí khi ai đó nhận ra, người đó cũng không thể diễn đạt nó một cách đích xác. Điều đã được biết không thể được truyền trao dễ dàng. Ai đó biết điều gì đó, có những người tìm kiếm muốn biết, nhưng tri thức không thể nào được truyền đạt. Chỉ bởi vì bạn muốn biết nó và chỉ bởi vì ai đó có khả năng nói cho bạn không có nghĩa là trao đổi có thể xảy ra. Chính bản chất của tri thức tâm linh là ở chỗ khoảnh khắc bạn cố gắng diễn đạt nó, bạn cảm thấy rằng nó không thể nào được diễn đạt ra. Cho nên để diễn đạt nó và truyền thụ nó, cần phải có các nhóm bí truyền.

Nhóm bí truyền là nhóm được huấn luyện đặc biệt để nhận được một hệ thống tri thức đặc biệt. Chúng ta có thể lấy một việc tương tự: Einstein đã nhắc nhiều lần tới sự kiện rằng không tồn tại quá nửa tá người trên thế giới mà ông ấy có thể trao đổi được. Ông ấy đang nói về tri thức toán học, không phải về tri thức tâm linh, nhưng đấy là một sự kiện - thậm chí không tồn tại thực sự đến một nửa tá người mà Einstein có thể nói được dễ dàng. Trong toán học, Einstein đã đạt tới đỉnh cao mà ông ấy không thể nào trao đổi được theo các kí hiệu toán học thông thường.

Thậm chí nếu Einstein có cố gắng chuyển giao tri thức của ông ấy, bạn sẽ nghe nó nhưng sẽ không hiểu nó, vì chỉ nghe không phải là hiểu. Và khi bạn không hiểu nó, có mọi khả năng bạn sẽ hiểu sai nó, vì từ chỗ hiểu đến chỗ không hiểu có một hiện tượng ở giữa của hiểu sai. Không ai sẵn sàng chấp nhận rằng mình không hiểu cả. Khi không có sự hiểu, điều đó không có nghĩa là không hiểu. Chín mươi chín trong số một trăm trường hợp, điều đó nghĩa là việc hiểu sai, vì không ai sẵn sàng nói rằng mình đã không hiểu. Mọi người sẽ nói rằng mình hiểu điều đó, và thế thì việc hiểu sai kéo theo sau.

Toán học không phải là tri thức bí truyền và không bận tâm tới điều không thể diễn đạt nổi. Toán học đã tồn tại trong năm nghìn năm; hàng nghìn và hàng nghìn bộ óc đã được huấn luyện về toán học. Mọi trường đại học trên khắp thế giới đều dạy về nó, mọi trường phổ thông đều dạy về nó. Với biết bao huấn luyện, biết bao tri thức, biết bao khoa trong bao nhiêu trường đại học dạy về nó, Einstein vẫn nói, “Chỉ tồn tại có sáu người mà tôi có thể trao đổi được về điều tôi biết.” Nếu bạn hiểu điều này, thế thì bạn có thể hiểu khó khăn của việc trao đổi kinh nghiệm tâm linh.

Nhóm bí truyền cũng có nghĩa là nhóm được huấn luyện đặc biệt với một thầy đặc biệt - vì hiện tượng này là hi hữu. Vị phật xuất hiện sau hàng nghìn năm, và nếu có một việc xảy ra như Phật, làm sao ông ấy có thể truyền đạt được? Phật sẽ có đó, thế giới sẽ có đó, nhưng không có ý nghĩa. Phật không thể truyền đạt trực tiếp, cho nên một nhóm bí truyền, một nhóm bên trong, được huấn luyện. Việc huấn luyện để sao cho nhóm này có thể hành động như người trung gian giữa Phật và thế giới. Một nhóm đặc biệt được huấn luyện đặc biệt để hiểu Phật và rồi diễn giải Phật cho thế giới, vì giữa Phật và thế giới có lỗ hổng mà Phật sẽ không thể được hiểu chút nào.

Cũng sẽ có nghĩa để mà nói ở đây về Jesus. Jesus bị xử tử bởi vì không có nhóm bí truyền. Phật không bị xử tử, vì đã có một nhóm bí truyền. Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự vì lỗ hổng lớn đến mức người bình thường không thể hiểu nổi ông ấy. Họ đã hiểu sai ông ấy - điều đó đã phải xảy ra, vì đã không có một nhóm giữa Jesus và đám đông dân chúng. Không có người trung gian giữa cả hai, cho nên Jesus đã bị xử tử. Ở Ấn Độ, cả Phật lẫn Mahavira đều không bị xử tử; chẳng ai bị đóng đinh cả. Họ đều có khả năng như Jesus, nhưng Jesus đã bị đóng đinh trên cây thập tự vì không có nhóm bí truyền tồn tại. Hiểu sai là điều không tránh khỏi. Bất kì điều gì Jesus nói ra đều bị hiểu sai.

Tất nhiên, Jesus có người theo sau, nhưng người theo sau là người bình thường. Tất cả các tông đồ chính của ông ấy đều xuất thân từ bình dân, không có bất kì huấn luyện bí truyền nào. Luke và Thomas đều là nông dân từ thành phần bình dân và không được giáo dục của xã hội. Họ yêu Jesus, họ cảm nhận ông ấy, nhưng họ cũng không hiểu ông ấy, cho nên có biết bao nhiêu hoàn cảnh mà trong đó họ đã hỏi những câu hỏi rất ngây thơ. Chẳng hạn, một tông đồ hỏi Jesus, “Trong vương quốc của Thiên Chúa, đâu là vị trí của chúng tôi? Thầy sẽ ngồi cạnh Thiên Chúa - chúng tôi đứng ở đâu? Đâu là vị trí của chúng tôi?” Họ không thể nào hiểu được điều ông ấy nói tới vương quốc của Thiên Chúa. Họ là những người bình dân.

Nhóm bí truyền này không thể nào được tạo ra một cách bất thình lình. Phật xuất hiện bất ngờ, nhưng nhóm này không thể nào được tạo ra một cách bất ngờ. Cho nên những nước đã từng mang tính tâm linh trong hàng nghìn năm đều có những nhóm bí truyền như một sự liên tục, như một truyền thống. Và bất kì khi nào có loại việc xảy ra như thế thì nhóm đều bắt đầu làm việc.

Ashoka đã tạo ra một nhóm mà vẫn còn đang tồn tại - một nhóm chín người cực kì tinh thông. Bất kì khi nào một người chết đi, người khác lại thay thế người ấy, cho nên nhóm vẫn tiếp tục. Bất kì khi nào một người chết đi, tám người còn lại sẽ chọn ra một người để thay thế người ấy. Người này sẽ được cả tám người huấn luyện, cho nên việc huấn luyện vẫn tiếp tục. Người thay đổi, nhưng nhóm vẫn còn lại, và ngày nay nhóm vẫn có đấy, vì người ta vẫn trông đợi tái sinh của Phật. Ông ấy có thể tới vào bất kì lúc nào. Và khi Phật có đó, bạn không thể đột nhiên tạo ra nhóm được, vì nhóm những người cực kì tinh thông bí truyền này đã được tạo ra qua huấn luyện và kỉ luật lâu dài. Điều này không thể nào xảy ra đột nhiên được.

Cho nên nhiều lần các nhóm đã được bắt đầu. Đôi khi họ tiếp tục và rồi tàn lụi đi. Đôi khi họ tiếp tục và rồi không còn nữa, vì biết bao nhiêu khó khăn có đó. Nhiều khó khăn có đó! Nhóm chín người cực kì tinh thông bí truyền của Ashoka vẫn còn đang tiếp tục vì có nhiều điều kiện giúp cho nó tiếp tục. Một điều kiện là, nó không bao giờ tự tiếp xúc trực tiếp với quần chúng. Nó có thêm một nhóm khác ở giữa. Nó bao giờ cũng không được công chúng biết đến, được giấu kín, bạn chẳng bao giờ biết nó ở nơi nào. Và bất kì người nào được điểm đạo trong nhóm này, chính khoảnh khắc người đó được điểm đạo là người đó biến mất khỏi thế giới của bạn - biến mất hoàn toàn. Thế thì bạn chẳng bao giờ có thể biết được điều gì về người đó cả, nhóm có thể tiếp tục một cách vô danh.

Nhóm này có nhiều bí quyết và nhiều phương pháp. Qua những bí quyết và phương pháp đó, nhóm tiếp tục làm việc theo nhiều cách. Đây là nhóm có các thành viên đang trong thân thể vật lí, họ đang sống như chúng ta vậy. Một khi ai đó đã trở thành thành viên của nhóm này, người đó không thể nào được chọn lần nữa như một phần của chín người trong kiếp khác. Thế thì người đó sẽ làm việc như mối nối giữa nhóm và quần chúng. Điều này tạo ra một vòng khác bao quanh chín người, một vòng lớn hơn, vì biết bao nhiêu người đã từng là thành viên của nhóm. Họ biết Phật trực tiếp, họ biết những người cực kì tinh thông bí truyền một cách trực tiếp. Họ cũng kinh nghiệm đến mức họ có thể vẫn còn trong quần chúng và có thể tiếp tục công việc với nhóm. Nhưng họ sẽ không là thành viên của nhóm. Khi ai đó trong nhóm này không được sinh ra trên trái đất, khi người đó không có thân thể vật lí, nếu người đó vẫn còn trong sự tồn tại vô thân thể, người đó vẫn tiếp tục làm việc.

Có biết bao nhiêu người cực kì tinh thông mà không trong thân thể vật lí này nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Các nhà thượng đế học gọi họ là các thầy - như sư phụ Koot Humi. Đấy là những cái tên hư cấu, nhưng chúng nói tới một nhân cách đặc biệt, một cá nhân. Chúng là những cái tên hư cấu, nhưng chúng trỏ tới một linh hồn không hiện thân mà vẫn đang giúp đỡ.

Sư phụ K.H. này, một trong những người cực kì tinh thông cổ đại giỏi nhất của vòng chín người của Ashoka, đã tạo ra toàn bộ sự vận động của Thượng đế học. Họ đã cố gắng để tạo ra một tình huống trong đó việc tái sinh sắp tới của Phật có thể thành khả năng thực, vì Phật đã nói rằng sau hai mươi nhăm thế kỉ ông ấy sẽ lại được sinh ra và tên ông ấy sẽ là Di lặc. Và một người đã chứng ngộ như Phật Gautam có khả năng biết về ai sẽ là người giác ngộ sau hai mươi nhăm thế kỉ. Cho nên Phật đã tiên đoán, và để cho việc này xảy ra, vòng chín người của Ashoka đã làm việc liên tục nhiều thế kỉ. Bây giờ thời gian đang tới gần. Cho nên phong trào Thượng đế học chỉ là sự chuẩn bị. Nếu phong trào này thất bại, thực nghiệm này thất bại. Họ đã thực nghiệm với ba hay bốn người dự định làm phương tiện cho Di lặc giáng xuống, nhưng thực nghiệm này đã thất bại. Cái này hay cái nọ đã bị lỡ. Sự việc chỉ tới bờ thành công, rồi cái gì đó đã xảy ra.

Krishnamurti đã sẵn sàng, hoàn toàn sẵn sàng để làm phương tiện. Mọi thứ đều đã sẵn sàng. Ông ấy đã tới giới tăng lữ để buông xuôi bản thân mình và trở thành trống rỗng cho Di lặc có thể bước vào. Nhưng vào khoảnh khắc cuối cùng ông ấy đã từ chối việc buông xuôi. Không ai xung quanh ông có thể nghĩ rằng điều này đã xảy ra. Thậm chí không một hướng dẫn nào đã được nêu ra rằng Krishnamurti, tại bước cuối cùng, sẽ thất bại và lùi lại. Và đó là lí do tại sao, sau hiện tượng đó, sau việc xảy ra của sự quay lại đó, trong liên tục toàn bộ cuộc đời mình, trong bốn mươi năm, ông ấy đã nhấn mạnh một cách cá nhân: “Hãy là một cá nhân!”

Điều này có ý nghĩa. Toàn bộ việc chuẩn bị là để làm mất tính cá nhân của người ta, nếu không, người ta không thể trở thành phương tiện được: “Dường như là bạn không có đó! Buông xuôi hoàn toàn cho những lực bên ngoài bạn.” Ông ấy đã từ chối buông xuôi, ngay trên bờ miệng của việc nhảy. Mọi thứ đã sẵn sàng; một bước nữa và Di lặc sẽ vào trong thế giới.

Nhưng bước cuối cùng đó không thể tiến hành được. Ông ấy đã quay lại. Ông ấy nói, “Tôi là bản thân tôi.” Đó là lí do tại sao toàn bộ triết lí của ông ấy trở thành, “Đừng buông xuôi, đừng theo đuôi, đừng tin tưởng, đừng là đệ tử.” Toàn bộ mọi việc đều chỉ là hậu quả; nó chỉ là việc hợp lí hoá và an ủi.

Ông ấy đã làm việc liên tục trong bốn mươi năm từ cái bước mà đã không thể nào thực hiện ấy. Ông ấy vẫn không ra khỏi nó. Ân hận có đó, vết thương có đó. Ông ấy không thể nào buông xuôi vào khoảnh khắc cuối cùng. Cho nên Thượng đế học thất bại với Krishnamurti và trở thành một phong trào chết, vì phong trào này tồn tại chỉ để vật chất hoá cho việc xảy ra này. Nó trở thành vô nghĩa. Ngôi nhà đã được xây dựng, nhưng vị thầy chẳng bao giờ tới ở trong đó. Cho nên sau việc từ chối của Krishnamurti để thành phương tiện cho Di lặc, Thượng đế học trở thành vô nghĩa. Nó vẫn còn tiếp tục, chỉ còn như một vết tích, nhưng bây giờ chẳng có gì bản chất tồn tại cả.

Toàn bộ phong trào này đã được tạo ra bởi chín người cực kì tinh thông của Ashoka. Họ vẫn còn đang làm việc. Theo biết bao nhiêu cách, họ vẫn cứ tiếp tục làm việc. Và có một lịch sử đằng sau cái gọi là lịch sử của chúng ta mà thậm chí bạn sẽ chẳng thể nào quan niệm được về nó. Lịch sử có một cơ sở sâu sắc hơn; phần ngoại vi mà chúng ta biết như lịch sử không phải là sự kiện thật. Đằng sau cái gọi là lịch sử của chúng ta còn tiếp tục một lịch sử khác, sâu sắc hơn, mà chúng ta chẳng biết gì về nó cả.

Chẳng hạn, tất cả chúng ta đều đã nghe nói về Hitler, chủ nghĩa phát xít của ông ta, toàn bộ phong trào của ông ta, nỗ lực liều lĩnh của ông ta để làm điều gì đó. Nhưng chẳng ai biết rằng có cái gì đó đằng sau đó vẫn còn bị che kín. Hitler chỉ là phương tiện cho các lực khác. Bây giờ có những hướng dẫn rằng ông ta không phải là nhân vật thực của vở kịch. Ông ta chỉ là phương tiện, ông ta đã bị sử dụng. Ai đó khác đã đứng đằng sau ông ta, những lực khác đã làm việc. Chẳng hạn, việc chọn chữ thập ngoặc, biểu tượng của đảng của Adolf Hitler - là một biểu tượng cổ đại nhất, cũ nhất của một trường phái cực kì tinh thông đặc biệt.

Ở Ấn Độ, một trong những nhóm cổ đại nhất là nhóm của người Jaina. Chữ thập ngoặc là biểu tượng của họ, nhưng không hoàn toàn hệt như biểu tượng của Hitler. Thiết kế chữ thập ngoặc của Hitler là ngược lại. Chữ thập ngoặc của người Jaina đi theo chiều kim đồng hồ, chữ thập ngoặc của Hitler là ngược chiều kim đồng hồ. Chữ thập ngoặc ngược chiều kim đồng hồ là kí hiệu huỷ diệt. Họ đã tìm tòi liên tục trong ba năm để chọn ra biểu tượng, vì biểu tượng không chỉ là biểu tượng. Nếu bạn có thể lấy biểu tượng từ một truyền thống sâu sắc hơn, thế thì biểu tượng đó trở thành mối nối. Cho nên nhiều người đã được gửi tới Tây Tạng để phát hiện ra một trong những biểu tượng cổ đại nhất của giòng dõi Aryan, vì với biểu tượng đó người ta có thể tiếp xúc với nhiều điều được giấu kín.

Chữ thập ngoặc đã được chọn, nhưng đảo ngược chiều. Và người đã tìm ra biểu tượng đó, Hessenhoff, đã thuyết phục Adolf Hitler rằng biểu tượng này nên đảo ngược lại. Ông ta là một trong những người đã có tiếp xúc với nhiều nhóm bí truyền, nhưng ông ta bị lẫn lộn. Ông ta đã tìm kiếm hai điều: thứ nhất, một biểu tượng rất cổ đại; thứ hai, một biểu tượng mà cũng có thể được làm mới. Bởi điều này, chữ thập ngoặc đã được chọn và đã được dùng đảo ngược lại. Trước đây nó chưa bao giờ tồn tại theo cách này, nhưng do việc này, các sự kiện lấy hình thái mới.

Và với biểu tượng đảo ngược này trên khắp thế giới những người đang có tiếp xúc với bất kì tri thức bí truyền nào đều biết rằng Hitler đang sắp sửa tự huỷ diệt mình. Ông ta sắp điên; ông ta sẽ tiếp xúc với những lực tự tử.

Toàn bộ khái niệm của triết lí của Hitler đều do trường phái ẩn kín nào đó trao cho. Họ đã dùng ông ta hệt như Krishnamurti sắp bị các nhà thượng đế học và các nhóm ẩn kín sử dụng. Hitler tiếp tục chiến thắng tới mức độ nào đó, đến thời điểm nào đó. Ông ta đã chỉ có chiến thắng: không có thất bại. Việc này là một hiện tượng, ông ta có thể thắng bất kì cái gì, cứ dường như là ông ta không thể nào bị đánh bại. Nhưng vượt ra ngoài một thời gian nào đó, mọi thứ bắt đầu đi theo chiều ngược lại. Tại sao điều này đã xảy ra?

Các lực chống lại chủ nghĩa quốc xã đã đánh bại Hitler, nhưng đó không phải là lịch sử thật. Đó chỉ là hiện tượng bề ngoài. Hitler đã bị một nhóm bí truyền sử dụng. Đây là một trong những nỗ lực liều lĩnh nhất, vì nhóm bí truyền này đã làm việc hàng thế kỉ mà chẳng thể nào giúp được cho nhân loại như họ mong muốn giúp. Đây là một nỗ lực liều lĩnh để giúp cho nhân loại trước khi nhân loại tự huỷ diệt mình trên trái đất này. Cho nên họ đã cố gắng thông qua các vị thánh thông qua những người bất lực, người nghèo nàn về tâm linh. Họ đã cố gắng thông qua Adolf Hitler để thuyết phục toàn thế giới trước khi nó bị phá huỷ và để đưa ra lời dạy nào đó cho nhân loại.

Nhưng cũng hệt như Krishnamurti đã trở nên độc lập vào khoảnh khắc cuối cùng, Hitler cũng đã trở nên độc lập. Ông ta bắt đầu đi xuống. Đây là một điều mầu nhiệm của lịch sử chiến tranh - nó chưa từng bao giờ xảy ra trước đây - Hitler không theo lời khuyên của các tướng lĩnh. Ông ta điều động binh lực hay tấn công, nhưng chẳng theo lời khuyên của tướng lĩnh nào cả. Và thậm chí còn ngược lại cả với những người đã được huấn luyện của mình, ông ta đã hành động và điều động theo ý thích, ấy thế mà ông ta vẫn cứ thắng. Có những việc điều động ngớ ngẩn, việc điều động vô nghĩa. Không một người nào có hiểu biết đôi điều về chiến tranh làm những việc điều động như vậy. Nhưng Hitler đã làm như thế và ông ta đã thắng liền trong ba năm.

Mọi người quanh ông ta đều biết rằng ông ta chỉ là phương tiện của một lực lớn hơn nào đó. Điều này không thể nào giải thích nổi. Và bất kì khi nào ông ta ra lệnh, ông ta đều không trong tâm trí có ý thức của mình. Đây là một sự kiện mới mà bây giờ người ta mới được biết tới. Bất kì khi nào ông ta ra lệnh, ông ta đều trong trạng thái ngây ngất. Mắt ông ta nhắm lại, ông ta bắt đầu run rẩy, ông ta toát mồ hôi, và rồi tiếng nói ông ta thay đổi hoàn toàn. Một giọng nói khác sẽ ra lệnh. Nhưng cái ngày ông ta bắt đầu sa sút, tiếng nói riêng của ông ta bắt đầu ra lệnh. Từ điểm đó, từ khoảnh khắc đó, ông ta không bao giờ trong trạng thái ngây ngất nữa. Một tiếp xúc nào đó mà trước đó đã làm việc đã mất.

Bây giờ tất cả những người nghiên cứu về Adolf Hitler và cuộc đời ông ta đều cảm thấy rằng hiện tượng này không đơn thuần là chính trị. Cá nhân ông ta không chỉ là một kẻ điên cuồng chính trị, không chỉ là một là chính trị điên rồ, vì bất kì cái gì ông ta làm đều hoàn toàn phi chính trị - toàn bộ cách tiếp cận của ông ta. Và những người đã ở cạnh ông ta đều cảm thấy rằng ông ta là một nhân cách chia chẻ. Trong những khoảnh khắc bình thường, ông ta bình thường đến mức bạn không thể quan niệm được về điều đó. Không có ma lực gì cả; ông ta chỉ là một người bình thường. Nhưng khi ông ta bị chiếm giữ, bị sở hữu, ông ta là một nhân cách hoàn toàn khác.

Ai đứng đằng sau điều này? Một nhóm bí truyền nào đó đã đứng sau điều này, và nhóm bí truyền đó đã cố gắng làm điều gì đó. Khi Hitler trở thành độc lập, ông ta mất mọi quyền lực. Trong những ngày cuối cùng của ông ta, ông ta chỉ là một người bình thường. Sau khoảnh khắc đặc biệt này, khi ông ta mất sự tiếp xúc, bất kì cái gì ông ta làm cũng đều chống lại ông ta. Trước đó, bất kì điều gì ông ta làm bao giờ cũng có lợi về phía ông ta.

Cùng nhóm mà tôi đã kể cho các bạn ấy, chín người của Ashoka, đã đứng sau điều đó. Họ đã cố gắng thâu tóm toàn bộ thế giới. Với con người, bao giờ cũng có khả năng là nếu bạn bắt đầu làm việc với một lực nào đó từ cõi bên kia, bản thân bạn không nhận biết được về điều đó. Nếu bạn thành công, thế thì bạn không nhận biết được rằng ai đó khác đang thành công. Bạn thành công, bản ngã bạn mạnh thêm, và sẽ đến một thời điểm khi bản ngã bạn mạnh đến mức bạn sẽ không lắng nghe bất kì lực nào khác. Điều này đã xảy ra biết bao nhiêu lần.

Nhóm bí truyền này, như tôi đã nói với các bạn, vận hành chủ yếu như một sự liên tục bất kì khi nào có bất kì nhu cầu nào. Theo nhiều cách, họ có thể có ích. Không phải chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà nước Nhật trở thành thân thiện với nước Đức. Đấy là bởi vì nhóm chín người này. Đây là một sự kiện được ẩn kín. Nhóm bí truyền làm việc đằng sau Hitler là một nhóm Phật giáo, cho nên một quốc gia phật giáo, nước Nhật Bản, có thể bị ảnh hưởng để đứng cạnh Hitler. Và toàn bộ phương Đông cảm thấy hồ hởi khi Hitler đang thắng. Toàn bộ phương Đông đứng về phía Hitler ở bên trong. Nhóm đã làm việc đằng sau ông ta là một nhóm Đông phương.

Chẳng có điều gì xảy ra ngẫu nhiên cả, mọi thứ đều có mối nối nhân quả đằng sau nó. Bất kì khi nào một thầy như Phật xuất hiện, công việc chủ yếu của nhóm bí truyền này là giúp đỡ bằng cách trở thành người trung gian. Công việc khác của nhóm bí truyền này là gìn giữ tri thức đó một khi đã thu được. Phật đã thu được cái gì đó tối thượng, nhưng ai sẽ gìn giữ nó? Gìn giữ trong sách vở không phải là gìn giữ, vì tri thức sống động thế còn sách vở là thứ chết thế. Chỉ từ ngữ là được gìn giữ, không phải tri thức. Tri thức chỉ có thể được gìn giữ bởi những người đang sống, không phải bởi sách vở, vì sách vở sẽ phải được diễn giải lại, và ai sẽ diễn giải chúng? Chúng sẽ phải được giải mã lần nữa, và ai sẽ giải mã chúng? Nếu ai đó có khả năng giải mã chúng, diễn giải chúng đúng đắn, thế thì người đó có thể trao cho bạn thông điệp không cần sách vở. Và những người phụ thuộc vào sách vở sẽ không thể nào diễn giải nó đúng đắn được.

Bạn không thể nào đọc được bất kì cuốn sách nào mà bạn không biết theo một cách nào đó. Bạn chỉ có thể đọc bản thân mình mà không cái gì khác. Cho nên nếu bạn đọc Dhammapada - Kinh Pháp cú của Phật, đấy không phải là Dhammapada của Phật mà bạn đang đọc đâu, đấy là Dhammapada của bạn đấy. Bây giờ bạn sẽ là người sáng tạo của nó. Bây giờ chiều sâu của bạn sẽ đạt tới chiều sâu của lời Phật. Bạn không thể vượt ra ngoài bản thân mình; bạn không thể có bất kì thoáng nhìn về bất kì cái gì bên ngoài bản thân mình.

Cho nên bất kì khi nào bạn đạt tới tri thức - tinh tế, nền tảng, tối thượng - nó cũng không thể nào được gìn giữ trong sách vở. Chỉ tri thức thông thường mới có thể được gìn giữ trong sách vở, mà không thể nào bị hiểu sai, trong đó bất kì một lớp huấn luyện phổ thông nào cũng có thể huấn luyện cho bạn được. Nếu bạn biết ngôn ngữ, bạn có thể biết nó, nhưng tri thức tối thượng không thể được gìn giữ theo cách đó. Nó chỉ có thể được gìn giữ trong những người đang sống; do đó, trong các nhóm bí truyền. Thế thì nó được truyền trao từ người đang sống này sang người đang sống khác. Và việc truyền trao không giống như việc truyền trao máy móc. Nó không phải là máy móc, nó không thể là máy móc được. Nó chỉ giống như một nghệ thuật.

Tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện, một câu chuyện rất bí truyền...

Có một câu chuyện phật giáo về một thầy đạo chích. Ông ta thiện nghệ lắm, như một bậc thầy, đến mức ông ta không thể bị bắt được. Và bất kì khi nào ông ta khoét vách vào nhà, ông ta sẽ để lại sau cái gì đó chứng tỏ rằng một bậc thầy đạo chích đã vào. Nghệ thuật của ông ta trở thành nổi tiếng đến mức nếu ông ta tới một nhà, thế thì người khác sẽ phải ghen tị, vì kẻ cắp bậc thầy đó chỉ vào nhà của ai đó xứng đáng với tài nghệ của ông ta.

Thậm chí nhà vua của nước nọ cũng muốn gặp ông ta. Mọi thứ đều được tuyên bố trước: bất kì khi nào ông ta định lấy trộm của ai đó, đều sẽ có tin đồn. Người bị trộm này sẽ được lưu ý bằng cách nào đó rằng tên đạo chích bậc thầy ấy sắp tới: “Ông thu xếp cho thật kĩ tuỳ theo ý ông đi, và rồi vào một ngày đặc biệt, một khoảnh khắc đặc biệt, sẽ có vụ trộm đấy” - và tên trộm chẳng bao giờ bị bắt cả.

Thế rồi ông ta cũng già đi và người con hỏi ông bố, “Bây giờ bố già rồi, mà con chẳng biết ABC gì về nghệ thuật của bố cả. Cho nên bố huấn luyện con đi.”

Người bố nói, “Điều ấy khó lắm. Đấy không phải là khoa học, đấy không phải là tri thức kĩ thuật. Bố không thể nào bảo con được chừng nào con không phải là tên trộm bẩm sinh; chỉ thế thì điều ấy mới là có thể. Nó là nghệ thuật thế, nó là nghệ thuật sáng tạo. Bố đã sống với nó. Điều này chẳng phải là độc tôn gì cho bố cả, chỉ là tâm hồn của bố thôi. Cho nên chúng ta sẽ thấy.”

Một đêm ông ấy bảo đứa con đi theo mình. Họ tới một lâu đài và ông ấy khoét tường. Ông ấy quãng sáu lăm hay bẩy mươi, nhưng tay không run, còn người con, vẫn còn trẻ, khoẻ mạnh nhưng anh chàng toát mồ hôi. Đêm lạnh còn anh ta run lập cập.

Ông bố anh ta nói, “Sao con run thế? Là nhân chứng đi. Bố là tên trộm; con là nhân chứng. Sao con run?”

Nhưng anh ta càng cố gắng không run, anh ta càng run hơn. Và người bố đang làm việc dường như ông ta đang trong nhà mình.

Rồi họ vào nhà. Ông ta mở khoá và bảo người con chui vào. Người con chui vào, còn người bố khoá cửa lại sau anh ta, rồi làm ầm ĩ đến mức cả nhà đều bị đánh thức dậy! Rồi ông ấy chạy mất, còn người con bị khoá bên trong. Cả nhà dậy lùng sục kẻ trộm. Bạn có thể hiểu điều gì xảy ra cho cậu con trai đó.

Người bố trở về nhà - đêm lạnh - ông ấy lên giường và nghỉ thảnh thơi.

Sau hai giờ, đứa con chạy về. Anh ta kéo chăn của bố và nói, “Bố gần giết con! Thế mà gọi là cách huấn luyện sao?”

Người bố nhìn vào người con và nói, “Được đấy, con đã về. Tốt! Thôi đừng kể lại chuyện cho bố nữa, nó chẳng liên quan. Đừng đi vào chi tiết. Con đã về; thế là tốt. Nghệ thuật đã được chuyển trao rồi. Đừng kể cho bố về cách con đã về lại đây, con đã về thế là đủ. Nghệ thuật đã được truyền trao rồi.”

Người con không thoải mái về lời đó, nhưng anh ta nói, “Bố cứ để con nói đã, trước hết là bố gần giết con rồi. Sao bố độc ác với chính đứa con của mình thế?”

Người bố nói, “Kể lại cho bố điều đã xảy ra, không phải điều con đã làm. Điều gì đã xảy ra sau khi bố khoá cửa lại?”

Người con nói, “Con trở thành một người khác. Cái chết gần thế! Con chưa bao giờ cảm thấy năng lượng như thế dâng lên trong con trước đây. Mọi thứ đều đang lâm nguy - sống hay chết. Con đã trở thành nhận biết sắc bén. Con chưa bao giờ nhận biết như vậy, con chỉ trở thành nhận biết, vì mỗi khoảnh khắc đều quí giá. Cách này hay cách khác, mọi thứ đều phải giải quyết. Thế rồi một người hầu gái đi qua cánh cửa chỗ con với cây nến cầm trong tay - và bố đã hỏi đúng, ‘Cái gì đã xảy ra?’ vì con không thể nói rằng con đã làm nó. Bằng cách nào đó con đã gây ra tiếng động cứ như là một con mèo nào đó bên trong. Cho nên cô ta mở khoá và mở cửa ra, và với cây nến trong tay ngó vào bên trong. Con không thể nói con đã làm điều gì. Điều đó đã xảy ra.

“Con thổi tắt ngọn nến, đẩy cô ấy ra và chạy. Con bắt đầu chạy với một lực mà con không thể nói là con đã chạy. Việc chạy đã xảy ra - con không có đó, con hoàn toàn không có đó. Chỉ có một lực chuyển động. Họ đuổi theo con, và con đã chạy qua một cái giếng sâu. Điều đó đã xảy ra. Con không thể nói rằng con đã làm điều đó, nhưng con đã lấy một hòn đá và ném nó xuống giếng. Tất cả họ lại bao quanh giếng, họ nghĩ rằng tên trộm đã ngã xuống đó. Cho nên bây giờ con mới ở đây.”

Nhưng người cha đang chìm vào giấc ngủ. Ông ấy thậm chí chẳng nghe câu chuyện. Sáng hôm sau, ông ấy nói, “Các chi tiết là không liên quan. Nghệ thuật không thể nói lại được mà chỉ được biểu lộ trong các tấm gương sống, với cảm thông bất biến.”

Tri thức tối thượng có thể được truyền trao và gìn giữ. Và đôi khi các nhóm bí truyền này đã gìn giữ tri thức trong nhiều thế kỉ để chờ đợi một người đặc biệt, để cho tri thức này có thể được truyền trao cho người đó.

Chẳng hạn, Mahavira có năm nghìn tu sĩ. Tất cả đều không thể nào được chứng ngộ vào thời của ông ấy, cho nên nhiều người vẫn còn đâu đó trên con đường. Mahavira không trở lại trên thế giới này, cho nên những người đang ở đâu đó trên con đường này phải được cung cấp thêm tri thức. Ai sẽ cung cấp cho họ? Mahavira sẽ không có ở đây.

Không thể dựa vào kinh sách được vì chúng là ngớ ngẩn. Một số người sẽ phải diễn giải chúng, nhưng họ không thể nào diễn giải vượt ra ngoài hiểu biết của mình được, cho nên điều này là vô nghĩa. Phải có một nhóm gìn giữ chìa khoá để cho chìa khoá có thể được trao cho những người trong trạng thái tâm trí đặc biệt; nếu không, họ sẽ mất hay họ sẽ phải vật lộn một cách không cần thiết, vô nghĩa lí, hay họ sẽ phải đổi thầy.

Bất kì khi nào ai đó thay đổi thầy, người đó đều phải bắt đầu lại một lần nữa, vì chẳng cái gì trong hệ thống cũ có thể được dùng trong hệ thống mới. Chẳng cái gì của con đường này có thể được dùng trên con đường đó - mọi con đường đều có tính thống nhất hệ thống riêng của nó. Cho nên cái có ý nghĩa trên con đường của Mohammed không có nghĩa trên con đường của Mahavira, cái có nghĩa trên con đường của Phật không có nghĩa trên con đường của Jesus. Cho nên nếu ai đó chuyển từ con đường của Phật sang con đường của Jesus, người đó sẽ phải bắt đầu lại một lần nữa. Tất cả những nỗ lực của các kiếp quá khứ sẽ phải bị vứt đi. Điều đó là không tốt; đấy là lãng phí hết sức.

Cho nên khi không có thầy, các nhóm bí truyền này gìn giữ tri thức, và tri thức đó bắt đầu vận hành như người thầy. Nhưng tri thức đó chỉ có thể được những người đang sống gìn giữ. Trong số chín người trong vòng của Ashoka, mỗi người đều tinh thông về một chìa khoá đặc biệt. Từng cá nhân, họ không có tất cả các chìa khoá. Mỗi người là một chuyên gia về một chìa khoá đặc biệt. Và nhóm đã được thiết lập cho chín người vì Phật đã nói về chín cánh cửa, chín chìa khoá, chín loại tri thức.

Cho nên từng người đều thông thạo chỉ về một chìa khoá. Người ấy chỉ biết về một cánh cửa. Những ai muốn đi vào từ cánh cửa đó đều có thể được người này giúp đỡ. Phật có thể biết về chín cánh cửa, nhưng chín người này mỗi người không thể biết về tất cả chín được; biết một chìa khoá cho một cửa là đủ. Bạn không cần đi vào từ chín cánh cửa. Một cánh cửa sẽ có tác dụng; bạn sẽ đi vào.

Chín vị này mỗi người đều có một chìa khoá. Mỗi một người đều biết mọi thứ về một cánh cửa, một con đường thiền. Và bất kì khi nào nhu cầu có đó, một người sẽ giúp. Sự giúp đỡ này có thể là trực tiếp, sự giúp đỡ này có thể là gián tiếp, nhưng người đó sẽ giúp bạn. Bất kì khi nào vị phật mới sắp tới hay một người chứng ngộ sắp tới, nhóm này sẽ chuẩn bị nền tảng. Họ sẽ chuẩn bị người nghe ông ta, hiểu ông ta. Nếu không có nền tảng như vậy, thế thì mọi vị thầy đều sẽ bị đóng đinh - bị đóng đinh bởi vì sẽ không có nhóm nào giúp cho mọi người hiểu ông ấy.

Cũng còn có những công việc khác với nhóm bí truyền. Đôi khi có chuyện là nhân loại quên mất rằng một điều đã được biết tới trước đó. Đâu đó, Sách về người chết, sách Ai cập, có nói, “Vô hiểu biết chẳng là gì ngoài quên lãng.” Một điều gì đó đã được biết nay bị quên lãng mất. Chẳng có gì mới cả, chỉ là cái gì đó đã bị quên lãng. Khi bạn nhận ra nó lần nữa, nó lại dường như mới. Nhiều chìa khoá đã thất truyền, thất truyền nhiều lần - đôi khi bởi vì không có nhóm bí truyền gìn giữ chúng.

Đôi khi nhóm này có đó, nhưng không ai sẵn sàng được điểm đạo trong tri thức này. Thế thì nhóm bí truyền chẳng thể làm được gì khác hơn việc gìn giữ. Đôi khi việc gìn giữ cũng trở thành không thể được, bởi vì điều này không dễ dàng. Nếu một người trong nhóm chín người này chết đi, không phải dễ dàng mà thay thế được người ấy, vì việc thay thế không phải do bất kì cuộc bầu cử nào. Đấy không phải là dân chủ. Tri thức không thể phụ thuộc vào dân chủ, chỉ vô hiểu biết mới có thể phụ thuộc.

Tri thức bao giờ cũng là độc đoán - bao giờ cũng vậy. Bạn không thể quyết định qua bầu cử ai sẽ là người đứng đầu Uỷ ban Nguyên tử. Và khi bạn quyết định theo cách đó, thế thì bạn quyết định cho tự tử của mình.

Tri thức bao giờ cũng độc đoán. Nó không bao giờ từ phía dưới, nó bao giờ cũng từ phía trên. Thấy phân biệt này cho rõ ràng đi. Và bất kì cái gì tới từ phía dưới đều chắc chắn là vô hiểu biết. Cho nên chính trị là vô hiểu biết đệ nhất. Nó tới từ phía dưới. Người ở chỗ thấp nhất lựa chọn người ở chỗ cao nhất. Và chỗ cao nhất có nghĩa là gì? Người thấp nhất quyết định người cao nhất, cho nên người cao nhất phải còn thấp hơn người thấp nhất! Cho nên trong nền dân chủ, lãnh tụ chẳng là gì ngoài kẻ theo sau những người theo sau mình, còn tri thức không thể nào phụ thuộc vào điều này được. Tri thức bao giờ cũng được trao từ bên trên và do đó, là độc đoán.

Các nhóm bí truyền duy trì chìa khoá, gìn giữ tri thức. Nhưng khoảnh khắc ai đó trở nên có khả năng được trao cho một hệ thống tri thức đặc biệt, một bí mật đặc biệt, thế thì chìa khoá đó sẽ được bàn giao. Chừng nào ai đó còn chưa sẵn sàng, nhóm còn phải đợi; thậm chí nhóm phải đợi hàng thế kỉ. Và rất khó để thay thế một người trong số họ. Điều đó không thể được những người khác quyết định. Tám người phải tìm ra một người có khả năng, và thậm chí một người có khả năng phải được huấn luyện trước khi người đó tham gia nhóm. Đôi khi nhóm này làm việc trên một người trong nhiều kiếp, và thế thì người đó trở nên có khả năng thay thế cho một thành viên. Và nếu không tìm thấy ai cả, chìa khoá đó sẽ thất truyền, và chìa khoá đó không thể nào được tìm lại bởi nhóm bí truyền này. Nó có thể được tìm lại chỉ khi một người như Phật xuất hiện. Nhóm bí truyền chỉ có thể gìn giữ, trao đổi, nó không thể phát hiện. Phát hiện không nằm trong khả năng của họ.

Cho nên nhiều chìa khoá đã thất truyền. Nhiều nhóm đã làm việc, và nhiều nhóm vẫn còn đang làm việc. Những người Rosicrucian đã từng là một nhóm song song ở phương Tây. Nhóm đã làm việc trong nhiều thế kỉ. Thực sự, đấy không phải là một nhóm Ki tô giáo, nhóm còn cổ đại hơn Ki tô giáo. Rosicrucian là nhóm bí truyền của Chữ thập Rosy. Chữ thập này không chỉ là biểu tượng của Ki tô giáo, mà còn cổ hơn Christ.

Bản thân Christ đã được điểm đạo bởi một nhóm bí truyền được biết như là Essenes. Tất cả những ngày lễ thánh Ki tô giáo - chẳng hạn, lễ Phục sinh hay Giáng sinh 25 tháng mười hai - đều cổ hơn Christ. Ki tô giáo chỉ hấp thu truyền thống cổ. Bản thân Jesus thuộc vào một nhóm bí truyền, nhóm đã truyền đạt cho ông ấy nhiều điều mà ông ấy cố gắng truyền đạt lại cho dân chúng.

Với Jesus họ cũng cố gắng chuẩn bị một nền tảng, nhưng điều này không thể được làm sẵn sàng. Công việc không thể vận hành tốt. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng John the Baptist đã tới trước Jesus. Tại sông Jordan, ông ấy đã liên tục trong ba mươi hay bốn mươi năm chỉ với một giáo huấn, rằng “Ta là người tiền trạm. Người thực sẽ tới. Ta tới chỉ để chuẩn bị nền tảng, và khi người ấy tới, ta sẽ biến mất.”

Ông ấy đã rửa tội cho mọi người trong dòng sông Jordan, vẫn còn trên bờ trong bốn mươi năm. Ông đã chỉ rửa tội cho mọi người, và điểm đạo cho mọi người vì người thực sẽ tới sau.

Mọi người đều hỏi, “Ai sắp tới?” Cả nước đều bị kích động về “một người sắp tới.” Cái tên không được ai biết tới kể cả John the Baptist. Ông ấy cũng phải đợi. Ông ấy thuộc về nhóm Essenes. Christ đã là một trong những thành viên được điểm đạo quan trọng của nhóm Essenes trong kiếp sống quá khứ của mình. Thế rồi Jesus tới được John the Baptist rửa tội, và cái ngày mà Jesus được rửa tội, John the Baptist biến mất vĩnh viễn. Ông đã rửa tội cho Jesus trong dòng sông Jordan và ngay sau đó chẳng bao giờ người ta được thấy lại ông nữa.

Điều xảy ra này trở thành tin tức cho cả nước, rằng con người mới đã tới, vì trong bốn mươi năm liên tục ông ấy đã nói, “Khi người thực tới, ta sẽ rửa tội cho người đó như người cuối cùng, và rồi ta sẽ biến mất.” John the Baptist đã biến mất. Lễ rửa tội là tiền Ki tô giáo. Trước lễ rửa tội của Christ có đó, thế thì Ki tô giáo bắt đầu.

John the Baptist thuộc vào một nhóm bí truyền, Essenes. Có biết bao nhiêu nhóm, nhưng bao giờ khó khăn cũng tới là ai đó không còn nữa, mà chẳng ai có thể thay thế được người ấy. Thế thì có một mối nối bị mất. Trong mọi giáo huấn mà có xuất hiện mối nối bị mất, và khi một mối nối bị mất xuất hiện, bạn không thể nào được nhóm giúp đỡ vì những lỗ hổng đó không thể được lấp lại. Bây giờ có những lỗ hổng trong Ki tô giáo, nhiều lỗ hổng. Có những lỗ hổng trong mọi phần giáo huấn. Nếu một phần bị thất truyền, thế thì nó không thể nào được thay thế chừng nào một người như Jesus còn chưa xuất hiện lại. Điều đó là không dự đoán được, điều đó không thể nào được thu xếp, điều đó không thể nào được lập kế hoạch. Nhưng một nhóm những người tìm kiếm đã được điểm đạo có thể được lập kế hoạch và tạo ra, những người có thể được sử dụng bất kì khi nào có ai đó có khả năng dùng họ.

Các nhóm bí truyền này không bận tâm tới chỉ một mình trái đất này. Bây giờ thậm chí các nhà khoa học cũng đồng ý rằng ít nhất có năm mươi nghìn hành tinh khác trái đất mà phải có sự sống. Nhiều hơn cũng có thể, nhưng ít hơn là không thể. Trong một vũ trụ rộng lớn như thế, theo luật xác suất thông thường, ít nhất năm mươi nghìn hành tinh phải có sự sống. Nhóm bí truyền có nhiệm vụ khác phải làm, để nối tri thức của hành tinh này với tri thức của hành tinh khác. Điều đó còn khó khăn hơn chút ít, vì chúng ta chưa biết mọi điều. Chúng ta có thể thiếu điều gì đó mà đã được biết. Chúng ta có thể biết điều gì đó một cách bộ phận. Trên hành tinh khác, có thể có một tri thức lớn lao hơn; trên hành tinh khác, có thể bây giờ có một Phật khác. Nhóm bí truyền làm việc như mối nối bên trong giữa các hệ thống tri thức khác nhau tồn tại đâu đó trong vũ trụ. Cho nên những mối nối bị mất có thể được cung cấp từ các hành tinh khác nữa. Thực sự, điều ấy bao giờ cũng xảy ra như thế.

Bất kì khi nào có cái gì đó bị mất và chúng ta không thể nhờ tới một người trên trái đất này để xuất hiện và phát hiện ra nó, thế thì tri thức này có thể được cung cấp từ một hành tinh khác, nếu nó tồn tại ở đâu đó. Và nó bao giờ cũng tồn tại ở đâu đó. Nhóm bí truyền có thể tiếp xúc với mọi thứ đang tồn tại trong toàn vũ trụ. Công trình này có giá trị cũng như ai đó từ trường đại học đi về một làng nguyên thuỷ. Làng nguyên thuỷ này chẳng biết cái gì, nhưng người đại học đó lại biết. Người này có thể huấn luyện người nguyên thuỷ để nhận tri thức; rồi người đó có thể bàn giao tri thức. Và người đó bao giờ cũng có thể trong tiếp xúc với nguồn tri thức của mình. Đây là tương tự.

Nhiều lần hành tinh này đã được những sinh linh từ hành tinh khác tới thăm. Họ đã để lại biết bao nhiêu mốc. Đôi khi họ đã để lại biết bao nhiêu chìa khoá tri thức trên hành tinh này với một nhóm nào đó. Những nhóm này vẫn đang làm việc. Các nhóm bí truyền này là liên hành tinh, nhưng có cái gì đó bị thiếu, cho nên người ta không thể nào hiểu nổi theo mô tả.

Mỗi thời đại đều phải phát minh ra phương pháp của riêng mình; không phương pháp cổ nào có thể có ích cho bạn. Bạn đã thay đổi, tâm trí bạn đã thay đổi. Chìa khoá thích hợp cho ổ khoá cũ nhưng ổ khoá đã thay đổi. Các nhóm bí truyền chỉ có thể là người gìn giữ khoá, không phải ổ khoá, vì ổ khoá là với bạn. Bạn có hiểu điều đó không? Ổ khoá là với bạn - không phải với Phật, không phải với Jesus. Họ có khoá. Họ phát minh ra chìa khoá, chìa khoá mở nhiều ổ khoá. Những chìa khoá này có thể được các nhóm bí truyền gìn giữ, nhưng đồng thời ổ khoá cũng đang thay đổi.

Bạn không cùng ổ khoá mà Phật đã mở. Cũng hệt chìa khoá đó sẽ không có tác dụng. Nếu cùng chìa khoá đó mà còn tác dụng, thế thì bất kì người vô hiểu biết nào cũng có thể dùng nó. Thế thì chẳng cần đến trí huệ gì cả, bất kì ai cũng có thể dùng nó. Tôi chỉ đưa cho bạn chìa khoá, và bạn tới và mở ổ khoá; bạn chẳng cần trí huệ. Chỉ cần nhiều thế này là đủ: rằng đây là khoá và đây là ổ khoá. Nhưng bởi vì ổ khoá thay đổi thường xuyên, nên khoá phải được trao cho một nhóm trí huệ - để phát minh ra khoá mới mà bao giờ cũng phù hợp với ổ khoá.

Ổ khoá sẽ liên tục thay đổi, chúng sẽ chẳng bao giờ như cũ. Cho nên không chỉ khoá chết phải được gìn giữ, mà phải gìn giữ cả khoa học để thay đổi những chìa khoá này bất kì khi nào có bất kì thay đổi gì trong ổ khoá. Điều đó được gìn giữ trong các nhóm bí truyền. Bạn không thể gìn giữ nó trong sách vở vì ổ khoá còn chưa được biết tới. Chúng sẽ thay đổi, chúng sẽ liên tục thay đổi. Không một sách nào có thể viết ra về tất cả những khả năng của ổ khoá, về tất cả những tổ hợp của ổ khoá. Chúng sẽ liên tục thay đổi. Điều kiện thay đổi, giáo dục thay đổi, văn hoá thay đổi, mọi thứ thay đổi, cho nên ổ khoá trở nên khác biệt. Dù chìa khoá được gìn giữ như thế nào, nó bao giờ cũng sai lạc đi theo một cách nào đó. Nó sẽ không thích hợp với ổ khoá nữa. Cho nên chìa khoá phải được trao tay qua nhóm người trí huệ đang sống, người bao giờ cũng có thể thay đổi được chìa khoá. Đó là khác biệt giữa tri thức bí truyền và tín ngưỡng công truyền.

Tín ngưỡng công truyền bao giờ cũng mang chìa khoá mà không nói gì tới ổ khoá. Nó cứ tiếp tục nói về chìa khoá cũ; nó chẳng bao giờ để ý rằng chẳng ổ khoá nào được mở bởi chìa đó. Nhưng tín ngưỡng công truyền lại gồm những người bình thường như thành viên của nhà thờ Ki tô giáo. Nhà thờ mang chìa khoá. Họ biết rằng đây là chìa khoá đã mở nhiều cánh cửa trong thời Jesus. Tri thức của họ là phải; thông tin của họ là đúng; tất nhiên chìa khoá này đã từng mở nhiều ổ khoá. Họ mang chìa khoá đó, họ tôn thờ chìa khoá đó, nhưng bây giờ nó chẳng mở được ổ khoá nào. Họ không thể phát minh ra chìa khoá khác, họ không có thời gian để phát minh ra chìa khoá. Họ chỉ có một chìa khoá, họ cứ tiếp tục tôn thờ nó, và nếu nó không thể mở được ổ khoá, thế thì ổ khoá phải chịu trách nhiệm. Thế thì ổ khoá phải có lỗi, thế thì cái gì đó là sai sót với ổ khoá, không phải với khoá.

Tín ngưỡng công truyền bao giờ cũng kết án ổ khoá và tôn thờ chìa khoá. Nhóm bí truyền không bao giờ kết án ổ khoá, nó bao giờ cũng thay đổi chìa khoá. Toà thánh Vatican mang chìa khoá. Họ có chìa khoá, họ cứ tôn thờ chìa khoá. Nhưng Ki tô giáo cũng có những nhóm bí truyền bên trong. Và điều này bao giờ cũng xảy ra - rằng nhóm bí truyền sẽ xung đột với công truyền, vì công truyền cứ nhấn mạnh rằng “chìa khoá này phải có tác dụng. Chìa khoá này không phải là cho bạn, bạn phải dành cho chìa khoá này. Bạn phải hành xử theo cách mà chìa khoá này có thể mở được ổ khoá. Chìa khoá không thể bị thay đổi; bạn phải thay đổi.” Nhưng nếu ai đó nói, “Chúng ta thay đổi chìa khoá,” người đó trở thành không theo đạo, người đó trở trở thành dị giáo. Thế thì người đó phải bị giết vì cái điều vô nghĩa lí mà người đó vừa nói: “Nó đã thay đổi chìa khoá - chiếc chìa khoá mà Jesus đã trao cho chúng ta, Phật đã trao cho chúng ta, Mahavira đã trao cho chúng ta. Chìa khoá này không thể bị thay đổi!”

Cho nên bao giờ cũng vậy, bất kì khi nào có một thầy, một thầy chân thực, người phát minh ra điều gì đó, bao giờ cũng có hai luồng chảy từ người này: một luồng trở thành công truyền - nhà thờ thấy được với giáo hoàng, trưởng giáo Ấn Độ Shankaracharya, chính thống. Họ bao giờ cũng nhấn mạnh vào một chìa khoá. Họ chẳng bao giờ nghĩ rằng một chìa khoá cũng như không nếu nó không thể mở được bất kì ổ khoá nào. Nhưng thế thì nó chẳng còn là chìa khoá chút nào nữa. Chìa khoá chỉ có nghĩa là cái để mở. Nếu nó không mở được bất kì ổ khoá nào, thế thì thật sai lầm mà gọi nó là chìa khoá. Đấy chỉ là sai lầm ngôn ngữ. Đấy không phải là chìa khoá chút nào, nó chỉ trở thành một chìa khoá khi một ổ khoá được mở. Khi bạn đặt cái gì đó vào trong túi mình, nó không phải là chìa khoá, nó chỉ là một chìa khoá có thể. Khi nó mở ổ khoá, nó trở thành chìa khoá thực tại. Nếu nó không mở bất kì ổ khoá nào, thậm chí nó mất khả năng là chìa khoá.

Nhà thờ bao giờ cũng bị ám ảnh bởi chìa khoá, vì chìa khoá do một bậc thầy chân thực trao lại. Nhưng mọi bậc thầy chân thực cũng đều tạo ra một vòng bên trong. Vòng bên trong này có chìa khoá và tri thức về cách thay đổi chìa khoá trong những hoàn cảnh nào đó. Vòng bên trong này bao giờ cũng xung đột với phần bên ngoài, vì bên ngoài sẽ nghĩ rằng bạn kém cỏi mà lại đòi thay đổi chiếc chìa khoá mà bậc thầy đã trao cho chúng ta: “Anh là ai? Làm sao anh có thể thay đổi nó?” Chẳng hạn, trong đạo Hồi một số người Sufi có tri thức bí truyền, nhưng người Mô ha mét giáo đã giết họ. Mansoor đã bị giết bởi vì ông ấy đã nói về nhiều thay đổi trong chìa khoá.

Nhóm bí truyền bao giờ cũng quan tâm tới ổ khoá, không bị ám ảnh bởi chìa khoá. Nhóm công truyền bị ám ảnh bởi chìa khoá, nhưng không quan tâm tới ổ khoá chút nào. Nếu nó mở được ổ khoá, nó là tốt; nếu nó không mở được, bạn chịu trách nhiệm. Chìa khoá không bao giờ chịu trách nhiệm.

Người theo đạo Hồi có nhiều chức phẩm Sufi, vòng bên trong, nhóm bên trong. Người theo đạo Hồi nghĩ rằng họ đã làm việc theo cách thức rất bất trị, cho nên nhiều người Sufi đã bị giết. Thế rồi, cuối cùng, họ đã biến mất. Cho nên bây giờ vẫn có người Sufi, nhưng bạn không thể nào biết tới họ. Ai đó có thể chỉ là người ở; thậm chí bạn sẽ chẳng bao giờ có thể phát hiện rằng người này là người Sufi. Chừng nào ai đó còn chưa giới thiệu với bạn, bạn sẽ chẳng bao giờ nhận biết. Người đó có thể tới nhà bạn hàng ngày, thế mà bạn vẫn chẳng bao giờ nhận biết rằng đây là ai đó có chìa khoá nào đó.

Người đó có thể chỉ là người đóng giầy. Người đó sẽ tiếp tục đóng giầy, và bạn có thể nghĩ rằng những người đang ngồi đấy chỉ là để được huấn luyện trong việc đóng giầy. Công việc đóng giầy chỉ là cái vẻ bề ngoài. Bên trong, cái gì đó khác đang xảy ra.

Sufi phải biến mất hoàn toàn vì tín ngưỡng bên ngoài sẽ không tha thứ cho họ. Họ sẽ bị giết chết, bởi vì nếu những người bên trong này còn tiếp tục, thế thì sẽ không có tương lai cho tín ngưỡng bên ngoài; nó trở thành hoàn toàn vô nghĩa.

Người duy nhất là thầy là người đã tự phát hiện ra bản thân mình, người tự mình đã phát minh ra chìa khoá, người đã tự biết tới ngọn nguồn tri thức, người đã tự mình gặp với thực tại. Rồi bao giờ cũng có hai trường phái. Đôi khi một số thầy chẳng bao giờ cho phép bất kì nhóm công truyền nào. Trong thời của Phật, có đến bẩy vị thầy cùng đẳng cấp như Phật. Bạn có thể thậm chí còn chưa từng nghe đến tên họ. Chỉ một cái tên là nổi tiếng - Mahavira. Sáu người kia hoàn toàn không được biết tới. Họ cũng có chìa khoá - tri thức, cũng nhiều như Phật và Mahavira - nhưng họ chẳng bao giờ cho phép bất kì nhóm công truyền nào được thành lập xung quanh họ. Chỉ vòng bên trong mới tiếp tục theo cách nào đó, ở đâu đó.

Một người là Prabuddha Katyayan, người khác là Purna Kashyap, người nữa Ajit Keshkambal - toàn ở cùng mức độ, cùng đẳng cấp, cùng sự hiểu thấu bên trong như Phật và Mahavira. Tên của họ chỉ được biết tới bởi vì Phật đã nói tới họ, tất cả là vậy. Chẳng tìm thấy kinh sách nào, không người đi theo, không đền đài, không nhà thờ, nhưng họ vẫn tiếp tục theo một cách rất tinh tế và ẩn kín. Và chẳng ai có thể nói họ đã không giúp cho nhiều người; họ đã giúp đỡ. Họ không được nhiều người biết tới, nhưng họ đã giúp cho nhiều người cũng như bất kì vị phật nào.

Ai cũng biết tới tên Phật; toàn thế giới biết tới ông ấy. Nhưng chúng ta càng biết nhiều về ông ấy, chúng ta càng ít sử dụng ông ấy. Ông ấy cũng có những vòng bên trong đang vận hành. Chỉ những vòng này mới có nghĩa. Nhưng họ bao giờ cũng tới trong xung đột với hàng giáo phẩm bên ngoài. Và hàng giáo phẩm bên ngoài bao giờ cũng là một lực, vì quần chúng cùng với họ. Bao giờ cũng có xung đột.

Phật đã tạo ra một vòng được chọn lọc rất kĩ. Ông ấy đã tạo ra vòng này của mình với một người có tên Mahakashyapa. Cái tên này chỉ được nhắc tới có một lần. Sariputta (Xá Lợi Phất) và Moggalayan là những đại đệ tử của ông ấy thuộc chức phẩm công truyền; tên của họ cả thế giới đều biết, họ có lăng mộ. Nhưng chìa khoá đích thực đã được trao cho Mahakashyapa - không phải cho Sariputta, không phải cho Moggalayan. Nhưng tên ông chỉ được nhắc tới có một lần, chỉ một lần trong toàn bộ kinh sách phật giáo.

Tôi sẽ kể lại sự vụ...

Một hôm Phật tới với một bông hoa trong tay. Ông ấy định tiến hành bài thuyết pháp. Nhưng chẳng bài thuyết pháp nào được nói ra cả, ông ấy chỉ ngồi im lặng nhìn vào bông hoa. Mọi người đều tự hỏi ông ấy đang làm gì vậy. Sự việc tiếp tục đến mười, hai mươi, ba mươi phút... Rồi mọi người trở nên không thoải mái. Chẳng ai có thể nói ông ấy đang làm gì. Tất cả họ đã tụ tập lại - ít nhất là mười nghìn người - để nghe ông ấy nói. Mà ông ấy chỉ ngồi đấy, chỉ nhìn vào bông hoa.

Mahakashyapa cười phá lên. Phật nhìn và nói, “Mahakashyapa, lại đây với ta.” Ông ấy đưa bông hoa cho Mahakashyapa và nói, “Tất cả những gì có thể nói được ta đều đã nói cho tất cả mọi người, còn tất cả những gì không thể nói được, ta đã trao cho Mahakashyapa.” Trước đó và sau đó Mahakashyapa chưa hề được nhắc tới - cả ông ấy là ai lẫn ông ấy sinh ra ở đâu.

Tại sao toàn bộ kinh sách im lặng thế về ông ấy? - một người quan trọng mà Phật nói, “Ta đã trao cho Mahakashyapa tất cả những gì không thể được nói ra.” Tất nhiên, điều bản chất là “cái không thể được nói ra.” Chỉ những cái không bản chất mới có thể được nói ra, chỉ những điều nông cạn mới có thể được nói ra, chỉ những điều vị lợi mới có thể được nói ra. Việc truyền trao tri thức có ý nghĩa nhất chỉ có thể trong im lặng. Nhưng tên của ông ấy chẳng bao giờ được nhắc lại nữa, và trong hàng thế kỉ chẳng ai biết điều gì đã xảy ra cho Mahakashyapa cả. Nhưng rồi sau một nghìn một trăm năm, một người đã tuyên bố ở Trung quốc, “Ta đang trong tiếp xúc trực tiếp, trong dây chuyền trực tiếp của Mahakashyapa.”

Sau một nghìn một trăm năm, ai đó đã tuyên bố ở Trung quốc, “Ta thuộc về Mahakashyapa. Ta là đệ tử của ông ấy.” Người đó là Bồ đề đạt ma. Không một kinh sách Ấn Độ nào nói tới Bồ đề đạt ma cả. Ông ấy đã sinh ra ở Ấn Độ, đã sống ba phần tư cuộc đời mình ở Ấn Độ. Chẳng ai biết về ông ấy cả - ông ấy ở đâu hay ông ấy làm gì. Đột nhiên, ông ấy xuất hiện ở Trung quốc và nói, “Ta thuộc về Mahakashyapa, người mà Phật đã trao cho bông hoa. Và ta có bông hoa đó theo mình, vẫn còn tươi.”

Tất nhiên, ông ấy đang nói về cái gì đó mà không bao giờ có thể khác hơn sự tươi mát. Ai đó hỏi, “Bông hoa đó đâu?” Bồ đề đạt ma nói, “Nó đang đứng trước ông đây - Ta là bông hoa đó. Bông hoa mà Phật đã truyền trao cho Mahakashyapa, và ta đã tới để tìm người đúng, vì bây giờ ta sắp chết. Đây là lần sinh cuối cùng của ta, cho nên ta đã đi từ Ấn Độ sang Trung quốc với một thông tin chắc chắn rằng ai đó đang ở đây mà bông hoa có thể truyền trao được. Cho nên ta đã tới đi tìm người đó. Nhưng cùng nguồn thông tin đó đã báo cho ta rằng ta không phải đi tới người đó, người đó phải tới ta. Cho nên ta sẽ chỉ chờ đợi.”

Ông ấy ngụ ý gì với “nguồn thông tin” này? Các nhóm bí truyền vẫn tiếp tục thông báo cho những người cần được thông báo. Bồ đề đạt ma đã nói, “Nhưng cùng nguồn thông tin đó đã báo cho ta rằng ta phải không tìm kiếm người đó,” vì đôi khi tìm kiếm trực tiếp trở thành gây trở ngại. Nếu tôi tới nhà bạn, đấy sẽ là một việc; nếu bạn tới tôi, đấy hoàn toàn là một vấn đề khác. Nếu tôi tới nhà bạn, bạn sẽ bị đóng kín với tôi; nếu bạn đến với tôi, bạn sẽ cởi mở. Bạn đã đến.

Bồ đề đạt ma đã nói, “Cùng nguồn thông tin đó đã nói cho ta rằng ta phải đợi, và cùng nguồn đó đã trao cho ta một chỉ dẫn đặc biệt về cách để biết ai là người mà bông hoa có thể truyền trao được.” Cho nên ông ấy đã ngồi trong chín năm không quay mặt ra, chỉ đối diện với bức tường. Nhiều người đã tới ông ấy. Ngay cả hoàng đế Trung quốc, Lương Vũ Đế, cũng tới gặp ông ấy, nhưng Bồ đề đạt ma chẳng quay mặt lại. Ông ấy vẫn chỉ đối diện với bức tường.

Triều đình nhà Lương Vũ cố gắng khuyên giải ông ấy rằng nhà vua đã tới và sẽ rất không phù hợp, rất không lễ phép nếu cứ ngồi trước hoàng đế mà quay mặt vào tường. Bồ đề đạt ma nói, “Ta không định đến với hoàng đế, hoàng đế đang tới với ta. Ông ấy có thể chọn tới với một Bồ đề đạt ma không lễ phép hay không. Ông ấy tự do. Ta không tới với ông ấy.”

Hoàng đế nghe thấy rằng Bộ đề đạt ma đã nói, “Ta không định tới ông ấy. Ông ấy đang tới ta, cho nên ông ấy phải chọn. Nếu ông ấy muốn tới, ông ấy phải tới ta như ta đang thế này.” Lương Vũ Đế tới. Ông ấy phải tới; điều đó trở thành sự ám ảnh. Ông ấy không thể kiểm tra liệu con người này có đáng để tới thăm hay không; ông ấy đã tới. Bồ đề đạt ma vẫn ngồi quay mặt vào tường. Lương Vũ Đế hỏi ông ấy, “Sao ông lại quay mặt vào tường thế? Sao ông không nhìn vào ta? Sao ông không nhìn vào người khác?”

Bồ đề đạt ma nói, “Trong cả đời ta, ta đã quay mặt vào bệ hạ và tất cả những người khác, nhưng trong mắt họ ta chưa bao giờ thấy cái gì khác hơn bức tường chết. Cho nên ta đã quyết định rằng tốt hơn cả là quay mặt vào tường. Người ta sẽ thoải mái, vì người ta biết rằng có bức tường. Khi đối diện với ai đó và cảm thấy bức tường có đó, điều ấy trở thành khó khăn hơn. Ta có thể nói với bệ hạ dễ dàng hơn vì bệ hạ ở đằng sau và ta không nhìn vào bệ hạ.”

Trong suốt chín năm trời ròng rã ông ấy quay mặt vào tường giống hệt như thế. Rồi người mà ông ấy đã có thông tin chắc chắn ấy đã đến. Người đó, Huệ Năng, đã tới. Ông ta chặt một bàn tay mình, đưa cho Bồ đề đạt ma và nói, “Xin thầy hãy quay hẳn lại; nếu không tôi sẽ chặt đầu mình.” Và Bồ đề đạt ma quay hẳn lại, đối diện với Huệ Năng và nói, “Ta trao cho ông bông hoa này. Ta đã chờ đợi. Một nguồn thông tin chắc chắn đã cho ta dấu hiệu này - ‘người đó sẽ tới, sẽ chặt tay mình, sẽ đặt bàn tay lên trước ông, và nếu ông chậm trễ một giây, người đó sẽ chặt đầu mình.’ Đừng vội vã thế. Ta đã sẵn sàng trao cho ông những điều mà vì nó ta đã phải lặn lội từ Ấn Độ sang Trung quốc.”

Tông phái bí mật đã nở hoa đó bây giờ trở thành tông phái bí truyền của Thiền. Thiền phật giáo chỉ là tông phái công truyền bao quanh truyền thống phật giáo bí truyền này. Bây giờ, bất kì điều gì Suzuki nói hay người khác trên toàn thế giới nói, đều là từ tri thức công truyền, không phải từ bí truyền. Bây giờ điều đó đã trở thành bị giấu kín lần nữa; nó lần nữa lại biến mất. Nhưng luồng chảy vẫn có đó, nó vẫn tiếp tục. Cho nên đó là lí do tại sao lại có các vòng bí truyền; họ tồn tại bởi biết bao nhiêu lí do.

Bạn hỏi tôi làm sao tôi có nối với bất kì nhóm bí truyền nào. Nếu bạn có thể trong tiếp xúc với một nhóm, bạn có thể trong tiếp xúc với tất cả. Đấy chỉ là vấn đề điều chỉnh. Nếu chiếc đài của bạn có thể bắt được một đài phát thanh, chẳng có khó khăn gì để nó bắt được các đài phát khác. Nếu cơ chế này đã làm việc đúng đắn, bạn có thể bắt được bất kì đài phát thanh nào trên toàn thế giới. Nếu bạn có thể trong tiếp xúc với một nhóm bí truyền, bạn có thể trong tiếp xúc với tất cả. Bạn có thể không muốn trong tiếp xúc, bạn có thể muốn, nhưng một khi bạn biết cách điều chỉnh bạn có thể trong tiếp xúc. Và nhiều lần bạn đã đi qua một trường phái bí truyền nhưng bạn mất cơ hội, bạn mất dấu vết.

Bất kì điều gì tôi đang nói đều theo nhiều cách bí truyền. Đó là lí do tại sao nhiều lần tôi trở thành rất lẫn lộn với bạn. Bất kì một giáo huấn công truyền nào đều không bao giờ lẫn lộn cả, nó rất rõ ràng. Nó cũng hệt như hai cộng với hai là bốn, nó bao giờ cũng là điều đơn giản. Nhưng với bí truyền, cái bên trong, cái bí mật, khó mà hiểu, vì hiểu biết của bạn trở nên bị rối loạn với bất kì tri thức mới nào cần phải hấp thu.

Bất kì tri thức nào mà bạn biết, bạn đều có thể hấp thu dễ dàng. Nó có thể trở thành một phần của bạn; bạn có thể dễ dàng tiêu hoá nó. Bất kì cái gì mới với bạn đều khó tiêu hoá. Và không một tri thức bí truyền nào có thể được trao cho dưới dạng toán học. Nó phải được chuyển giao một cách huyền bí, nó phải được chuyển giao một cách thi ca. Thế thì nó trở thành sống. Điều đó có nghĩa là nhiều điều xảy ra đồng thời.

Tôi đã từng tiếp xúc với nhiều nhóm bí truyền. Tôi đã biết nhiều người vẫn đang sống và thuộc vào nhóm nào đó. Tôi đã biết nhiều chìa khoá do các bậc thầy chân chính trao truyền. Nhưng không một chìa khoá nào của các truyền thống cũ là đủ, cho nên tôi đang phát minh ra các chìa khoá mới. Vì tôi đang phát minh ra chìa khoá mới nên tôi không trực tiếp quan tâm tới bất kì nhóm bí truyền nào, vì mỗi nhóm bí truyền đang quan tâm và tin cậy vào một chìa khoá đặc biệt cần gìn giữ. Tôi không quan tâm đến một chìa khoá đặc biệt. Tôi quan tâm tới việc phát minh ra những phương pháp mới, kĩ thuật mới, chìa khoá mới, vì tất cả các chìa khoá cũ đã trở thành không liên quan theo nhiều cách.

Một điều cần phải hiểu, rằng tất cả những chìa khoá này đều đã được phát triển trong một thế giới vốn là cục bộ, bao giờ cũng cục bộ. Lần đầu tiên, chúng ta đang trong một thế giới hoàn toàn không cục bộ, toàn cục. Thực sự, lần đầu tiên chúng ta đang trong một thế giới. Trước đó, chúng ta bao giờ cũng bị hạn chế vào một phần đặc biệt của thế giới. Tất cả những chìa khoá đó đều đã được phát triển cho những điều kiện và văn hoá đặc biệt. Bây giờ, lần đầu tiên thế giới, theo một cách nào đó, là một đống trộn lẫn. Không có một nền văn hoá đặc biệt, không có điều kiện đặc biệt. Mọi thứ đều được trộn lẫn lại. Và chẳng bao lâu điều này sắp sửa ngày càng phổ biến hơn. Chẳng bao lâu nữa sẽ có công dân thế giới mà không có nền tảng cục bộ nào cả nhưng với một nền tảng toàn cục.

Trước khi kết thúc thế kỉ này, chúng ta sẽ cần - chúng ta đã cần rồi - về những chìa khoá có tính toàn cục. Chẳng hạn, chìa khoá của Jesus chỉ dành cho nhóm người Do Thái đặc biệt. Điều này thực sự là một mỉa mai của lịch sử, rằng Jesus đã tạo ra chìa khoá, đã phát minh ra chìa khoá, cho tâm trí người Do Thái. Và bây giờ người Do Thái chống lại ông ấy, còn những người theo ông ấy thì chống lại người Do Thái. Nhưng chìa khoá đã được phát minh đặc biệt cho tâm trí được ước định theo kiểu Do Thái. Với những gì tôi được biết, Christ đã được người Do Thái chấp nhận dễ dàng hơn người Ki tô giáo, vì người Ki tô giáo chỉ là sự phát triển về sau; Jesus chưa bao giờ biết tới bất kì người Ki tô giáo nào. Bản thân ông ấy cũng không phải là người Ki tô giáo, ông ấy là người Do thái. Nhưng đây là điều mỉa mai của lịch sử chúng ta.

Phật đã phát minh ra một chìa khoá cho một tâm trí đặc biệt. Bây giờ chỉ trong Ấn Độ tâm trí ấy mới tồn tại, nhưng chìa khoá của ông ấy thì chẳng thấy ở đâu trong Ấn Độ cả. Nó tồn tại ở Trung quốc, Nhật bản, Sri Lanka, Miến điện và Tây Tạng, nhưng không ở Ấn Độ. Và ông ấy đã phát minh ra chìa khoá cho tâm trí Hindu đặc biệt. Ông ấy đã sinh ra là người Hindu và chết đi là người Hindu. Ông ấy chưa bao giờ biết đến Phật giáo cả. Cho nên chìa khoá đã được phát triển cho tâm trí Hindu và rồi, quanh chiếc chìa khoá này, đã phát triển một giáo phái chống lại Hindu giáo. Thế thì chìa khoá này trở thành chẳng liên quan gì nữa. Nó chẳng dùng gì cho ai, ngoại trừ cho tâm trí Hindu đặc biệt. Nhưng đây là điều mỉa mai của lịch sử. Nó bao giờ cũng xảy ra như vậy.

Cho nên tôi đang tranh đấu và phát minh ra những chìa khoá mà, theo cách nào đó, là toàn cục - không dành cho một nền văn hoá địa phương nào, mà cho tâm trí con người như vậy. Và chúng ta sẽ cần tới chúng ngay thôi, những khoá cục bộ này sẽ không có tác dụng. Mọi sự hỗn hợp các khoá đó đều không có tác dụng, mà tất cả các khoá đó họp lại cũng chẳng có tác dụng nốt. Điều đó thậm chí còn tạo ra điều vô nghĩa hơn. Bạn không mở khoá được cho một ổ khoá với biết bao nhiêu là chìa: cái từ Koran, cái từ Kinh thánh, cái từ Phật, cái từ Mahavira. Và có biết bao nhiêu người với ý nguyện rất tốt, nhưng làm rất sai. Họ nói về sự thống nhất của mọi tôn giáo. Đó là đang nói về sự thống nhất của tất cả các chìa khoá để mở cho một ổ khoá - sự thống nhất của tất cả các chìa khoá! Một chiếc là đủ, còn quá nhiều chìa khoá sẽ làm cho bạn không mở được ổ khoá. Một chiếc phải nên mở được nó; bây giờ quá nhiều chiếc sẽ không mở được đâu.

Đấy toàn là những chìa khoá cục bộ đã được phát triển trên thế giới bị chia rẽ. Chưa hề có tâm trí toàn cục - chưa từng có như vậy như có liên quan tới cái gọi là tri thức lịch sử của chúng ta. Đôi khi hiện tượng tâm trí toàn cục này đã xảy ra, nhưng điều đó ở bên ngoài nền văn minh của chúng ta, đó là bên ngoài kí ức của chúng ta. Hiện tượng tâm trí toàn cục này đã xảy ra trước đây nhưng điều đó đã hoàn toàn bị quên lãng.

Chẳng hạn, tôi sẽ nói cho bạn một hay hai điều. Tại Anh, người ta đổi ngày vào lúc nửa đêm. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì, thật sự. Đấy là điều ngớ ngẩn, chẳng ai thức dậy khỏi giấc ngủ chỉ để đổi ngày. Đấy là điều phi logic, không thực tế. Ngày nên thay đổi vào buổi sáng - đấy là cảm giác thông thường. Bạn bao giờ cũng đổi lịch vào buổi sáng. Nhưng tại sao nó đã được làm theo cách này? Có một bí mật.

Tại Ấn Độ, khi trời là 5:30 sáng, đấy là nửa đêm ở Anh. Đã có thời trước nền văn minh này mà khái niệm Hindu đã thống trị trên toàn thế giới. Cũng giống như khi Đế quốc Anh tràn khắp thế giới, giờ Greenwich là giờ thực; mọi người đều tham khảo tới nó. Bây giờ, với sự sụp đổ của Đế quốc Anh, giờ Greenwich gần như bị lãng quên. Sau mười hay mười lăm nghìn năm chẳng ai biết về nó nữa.

Đã có một thế giới trước Mahabharata - một cuộc chiến tranh Ấn Độ tiền lịch sử - khi mà người Hindu còn cai trị toàn thế giới. Bất kì khi nào trời sáng ở Ấn Độ, đó là thời gian để đổi ngày. Đấy là nửa đêm ở Anh, cho nên họ cũng đổi ngày lịch theo. Điều đó cứ tiếp diễn.

Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng ở Anh, nghị viện thông qua một đạo luật đặc biệt ba trăm năm trước đây để bắt đầu năm bằng ngày 1 tháng giêng. Trước đó ba trăm năm, năm kết thúc vào ngày 25 tháng ba. Nhưng kết thúc năm vào ngày 25 tháng ba có ý nghĩa gì? Chẳng có ý nghĩa gì trong nó cả. Nhưng đó là ngày mà năm Ấn Độ kết thúc. Vào ngày 25 tháng ba, năm Ấn Độ kết thúc, và đó cũng là kết thúc năm trên toàn thế giới. Họ đã phải tạo ra một đạo luật đặc biệt để thay đổi điều đó.

Từ ‘December’ (tháng chạp) có nghĩa là tháng thứ mười, nhưng nó lại là tháng thứ mười hai. December có nguồn gốc từ dush - số mười theo tiếng Phạn. Nhưng tại sao nó lại là tháng thứ mười hai? Nó là tháng thứ mười theo năm Ấn Độ. Truyền thống cũ đã tiếp tục; lịch của họ được dẫn ra từ Ấn Độ.

Tuần cuối cùng của tháng mười hai được cả thế giới biết tới như là Xmas. X là chữ La mã kí hiệu cho mười, còn mas theo tiếng Phạn nghĩa là tháng. Xmas nghĩa là tháng thứ mười, nó có nghĩa là tháng mười hai. Nhưng tại sao? Tháng mười hai không nên là tháng thứ mười. Nhưng nó đã là tháng thứ mười theo lịch Ấn Độ, trước khi Mahabharata xảy ra, quãng năm nghìn năm trước đây.

Trong kinh sách về Mahabharata, chúng ta có câu chuyện rằng Arjuna đã lấy một cô gái Mexico. Từ tiếng Phạn maxika trở thành Mexico. Và tại Mexico, nền văn minh đã tồn tại ở đó có biết bao nhiêu kí hiệu Hindu mà bạn không thể đừng mà nói rằng đấy đã là một nền văn minh Hindu. Toàn bộ nền văn minh Mexico đều là Hindu - đền đài Hindu, thần Hindu, thậm chí cả vị thần Ganesh cũng thấy có ở đó. Nhưng bây giờ gần như là nó chẳng bao giờ còn nữa.

Chúng ta đã lại đi tới một từ toàn cục, trong đó Arjuna lại có thể lấy cô gái Mexico. Chẳng bao lâu nữa sẽ không có những nền văn hoá cục bộ. Với nền văn hoá không tập trung này chúng ta phải phát minh ra chìa khoá mới, linh động hơn - ít cứng rắn và linh động hơn, mà có thể được dùng cho nhiều ổ khoá.

Tôi đã biết rất nhiều nhóm bí truyền - trong kiếp này và trước đây. Tôi đã trong tiếp xúc với nhiều nhóm bí truyền, nhưng tôi không thể nói cho bạn nơi chốn của họ. Tôi không thể nói cho bạn tên của họ, vì điều đó không được phép. Và điều đó cũng không ích lợi thực. Nhưng tôi có thể nói cho bạn rằng họ vẫn tồn tại, họ vẫn cố gắng giúp đỡ.

Một số nhóm vẫn còn rất sống động - chẳng hạn, nhóm của Ashoka. Nếu Ashoka đã làm được điều gì có ý nghĩa hơn bất kì vị hoàng đế nào đã làm ở bất kì đâu trên thế giới này, đấy là việc tạo ra nhóm bí truyền chín người này. Akbar đã cố gắng bắt chước Ashoka theo nhiều cách. Ông ấy đã lập ra nhóm chín người, nhưng điều ấy vô nghĩa. Họ chỉ là triều thần - Nava Ratna, “chín người đáng quí của Akbar.” Nhưng họ chỉ là người đáng quí bắt chước, công truyền - ai đó là nhà thơ, ai đó là chiến binh... Và điều đó chẳng có nghĩa gì. Nhưng Akbar đã biết từ đâu đó rằng Ashoka đã có một nhóm chín người trí huệ, cho nên ông ta đã lập ra nhóm chín người đáng quí. Ông ấy chẳng biết mọi thứ về nhóm của Ashoka.

Nhóm Ashoka đã bền bỉ từ hai nghìn năm nay. Nhóm vẫn sinh động với chìa khoá, vẫn làm việc. Toàn bộ phong trào Thượng đế học đã được nhóm này điểm đạo. Đó là lí do tại sao trong Thượng đế học, Phật trở thành một người tối thượng nhất. Và toàn bộ Thượng đế học, theo cách nào đó, là phật tử hay Hindu. Đó là lí do tại sao các nước phương Tây cứ nghĩ rằng đấy là một nỗ lực của phương Đông để cải đạo phương Tây - đấy chỉ là công việc của Hindu giáo trong một cách ăn mặc mới. Điều này là đúng theo một nghĩa nào đó, vì nhóm người điểm đạo là một nhóm phật giáo.

Bạn cũng có thể trong tiếp xúc với một nhóm bí truyền nào đó. Có những kĩ thuật và phương pháp. Nhưng thế thì bạn sẽ phải làm nhiều việc với bản thân mình. Khi bạn có đấy, bạn chẳng bao giờ trong tiếp xúc được. Bạn sẽ đi qua một nhóm bí truyền nhưng bạn thậm chí sẽ không thể nào phát hiện ra nhóm. Bạn sẽ phải thay đổi bản thân mình, phải chuyển bản thân mình sang tầm hướng mới, sang những rung động mới để được cảm nhận; bạn sẽ phải nhạy cảm.

Thế thì bạn sẽ không hỏi tôi, “Thầy đã từng tiếp túc với nhóm bí truyền chưa?” Bạn sẽ biết chỉ bởi việc ngồi cạnh tôi, bạn sẽ biết chỉ bằng việc nhìn vào mắt tôi. Bạn sẽ cảm thấy chỉ bằng việc nghe lời tôi, hay thậm chí bằng việc nghe sự im lặng của tôi. Bạn sẽ hiểu. Nhưng điều đó sẽ tới chỉ nếu bạn thay đổi bản thân mình, làm hoà hợp bản thân bạn với thực tại mới - nếu bạn cởi mở bản thân mình cho tầm hướng mới.

Các nhóm bí truyền bao giờ cũng có đó. Chỉ bạn là khép kín - khép kín trong ý nghĩ, khép kín trong suy nghĩ, khép kín bên trong bản thân bạn, không cởi mở, không cửa sổ, không cửa ra vào. Bầu trời vẫn có đó - chỉ phải mở cửa sổ, và bạn sẽ biết bầu trời và những ngôi sao. Dù chúng có thể xa xăm đến đâu, chỉ bằng việc mở cửa sổ bạn ra, cửa sổ gần thế, bạn sẽ đi vào tiếp xúc với những ngôi sao xa xăm đó. Theo một cách nào đó, điều đó là phi logic: bằng việc mở chiếc cửa sổ gần thế, làm sao bạn có thể tiếp xúc được với ngôi sao xa xăm kia? Nếu tôi bảo bạn, “Mở cửa sổ này đằng sau bạn và rồi bạn sẽ tiếp xúc với toàn thể vũ trụ,” bạn sẽ nói, “Điều ấy là ngớ ngẩn. Chỉ bởi việc mở cửa sổ này, gần thế, làm sao mà tôi có thể tiếp xúc được với cái xa xôi thế kia?” Nhưng nó là như vậy đấy. Mở cửa sổ trong tâm trí bạn ra, làm thành một cửa sổ thiền, và bạn sẽ trong tiếp xúc với biết bao nhiêu ánh sáng xa xôi, với biết bao nhiêu điều xảy ra luôn luôn vây quanh ta.

Chỉ ngay góc kia thôi, ngay quanh bạn thôi, mọi thứ đang xảy ra đấy. Nhưng bạn mù hay ngủ hay chỉ không nhận biết. Tôi đang đây; bạn không thể quan niệm được điều gì đang xảy ra ở đây. Bạn không thể quan niệm được về nó!

Tôi đã là một sinh viên ở trường đại học. Ông hiệu phó nói chuyện trong buổi lễ kỉ niệm lập trường. Tôi chỉ là sinh viên năm thứ nhất. Ông hiệu phó nói, “Tôi ước tôi được sống trong những ngày của Phật Gautama, tôi sẽ tới quì dưới chân ông ấy.”

Tôi xen vào và nói, “Xin thầy xem xét lại điều này. Xin thầy nghĩ về nó một lần nữa, rồi hãy nói. Thực sự, thầy có quì xuống dưới chân Phật không? Thầy đã tới bất kì người ăn xin nào chưa trong cuộc đời này? Phật là kẻ ăn xin. Thầy đã tới bất kì ai mà là vị thầy chưa - vị thầy của thế giới vô hình? Theo chỗ tôi được biết, thầy chưa từng đến bất kì ai, cho nên xin thầy xem xét lại. Nếu như thầy được sống trong thời Phật, liệu thầy có tới quì dưới chân ông ấy không? Thầy có thừa nhận ông ấy không? Thầy có thừa nhận bất kì ai trong cuộc đời này không?”

Ông ấy bối rối, ông ấy lùi lại, ông ấy trở nên im lặng. Ông ấy nói, “Tôi rút lại lời mình vì tôi chưa bao giờ nghĩ kĩ về nó cả, tôi mới chỉ nói điều đó. Thực sự, tôi chưa bao giờ là bất kì ai, cho nên dường như logic là tôi sẽ không tới Phật. Và cho dù tôi có đi ngang qua, tôi cũng sẽ không nhìn vào ông ấy. Và thậm chí nếu tôi có nhìn vào ông ấy, tôi cũng sẽ không thừa nhận ông ấy, bởi vì không phải bất kì ai tới tiếp xúc với Phật cũng đều thừa nhận ông ấy. Vấn đề không phải như vậy!”

Phật đi qua một làng... và chẳng ai nhận ra ông ấy. Ông bố của ông ấy cũng không nhận ra ông ấy; thậm chí vợ ông ấy cũng không nhận ra.

Tôi đang ở đây - bạn không thể nhận ra cái gì ở bên trong, chỉ biết đến cái bên ngoài. Bạn chỉ trở nên quen thuộc với cái bên ngoài. Đó là cách thức nó phải vậy. Bạn đang không trong tiếp xúc với phần bên trong của riêng mình, cho nên làm sao bạn có thể tiếp xúc được với phần bên trong của tôi? Điều đó là không thể được. Điều đó trở nên dễ dàng nếu bạn đang trong tiếp xúc với cái bên trong riêng của bạn. Thế thì bạn có thể trong tiếp xúc với cái bên trong của tôi, hoặc cái bên trong như thế. Nếu không, bạn sẽ chỉ cứ tới hỏi tôi, còn tôi sẽ cứ tiếp tục trả lời bạn. Thế thì mọi thứ chỉ lỡ vấn đề.

Nhưng tôi trả lời bạn không phải để cho bạn nhận được câu trả lời từ câu trả lời của tôi. Không, tôi chẳng bao giờ hi vọng theo hi vọng cả, tôi chẳng bao giờ hi vọng rằng câu trả lời của tôi có thể trở thành câu trả lời của bạn. Tôi biết rõ rằng câu trả lời của tôi chẳng ích gì cho bạn cả. Nhưng thế thì tại sao tôi cứ trả lời câu hỏi của bạn?

Tôi cứ trả lời không phải để cho câu trả lời của tôi sẽ trở thành câu trả lời của bạn, mà bởi vì nếu bạn có thể lắng nghe tôi trong im lặng, toàn bộ, trong lắng nghe im lặng đó bạn sẽ trực tiếp đi tới thâm tâm riêng của mình. Bỗng nhiên nó có thể bùng nổ trong bạn, bỗng nhiên bạn có thể vào trong một thế giới khác, hoàn toàn khác với bất kì thế giới nào bạn đã từng sống. Và nếu điều đó xảy ra, thế thì bạn đã đi tới sự tồn tại mới.

Sự tồn tại mới đó là của riêng bạn. Nó là một bí mật bí truyền, bên trong. Sự tồn tại mới đó có tất cả mọi điều.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập