Bạn đang ở: Trang chủ Trích đoạn Hiểu bản thân mình Các khái niệm Ngôn ngữ - 2
 
 
Các khái niệm

Ngôn ngữ - 2

 Und welche Sprache sprichst du? – Eine Empfehlung für institutionelle  Mehrsprachigkeit in Kindertagesstätten

Sự tồn tại là đa chiều, nghịch lí. Nhưng ngôn ngữ không thể là nghịch lí. Nếu ngôn ngữ là nghịch lí nó sẽ mất tính tiện dụng của nó. Nếu ai đó hỏi cái gì đó và bạn nói, 'Có-không,' thế thì nó là vô nghĩa để nói bất kì cái gì. Hoặc bạn nói có, thế thì nó là có nghĩa, hoặc bạn nói không, thế thì nó là có nghĩa. Nhưng sự tồn tại nói có-không cùng nhau. Ở đó, có và không là không tách rời; có và không không phải là hai mặt của cùng một năng lượng. Đó là lí do tại sao ngôn ngữ là nhị nguyên - nó tạo ra một loại tinh thần phân liệt trong ý thức của con người, nó tạo ra chia chẻ.

Và sự tồn tại là bất nhị, sự tồn tại là một. Không có chia chẻ chút nào. Rất khó cho bạn nghĩ rằng chết không là gì ngoài sống của bạn, cao trào của sống của bạn. Bạn đã từng được dạy trong nhiều thế kỉ rằng chết là thù - tránh ra, trốn đi, tự bảo vệ bản thân bạn, phòng thủ bản thân bạn chống lại nó. Nó không là vậy; nó là bối cảnh của sống của bạn. Nếu sống của bạn là chớp sáng, thế thì chết là mây tối. Không có mây tối chớp sáng sẽ mất nhiều - nó sẽ không rực sáng thêm nữa. Nếu sống của bạn là giống như sao lấp lánh trong đêm, thế thì chết giống như đêm tối, đêm không trăng. Sao có đó ban ngày nữa, nhưng bạn không thể thấy được chúng vì không có tối chúng không thể được thấy. Chúng là cùng nhau - một cái trở thành hình dáng, cái kia trở thành bối cảnh. Khi cái kia trở thành hình dáng, cái đầu trở thành bối cảnh.

Khi bạn còn sống, sự sống giống như ánh sáng trên mây tối, đèn trong đêm tối. Khi bạn trở nên chết, thế thì tối trở thành hình dáng và sáng chuyển vào trong bối cảnh, nó trở thành bối cảnh của bạn. Bạn đi vào trong nghỉ ngơi; bạn đi vào trong nghỉ sâu. Chết là nghỉ ngơi cho sống. Và từ chết bạn sẽ lại được sinh ra lặp đi lặp lại. Và từ sống, chết sẽ xảy ra lặp đi lặp lại. Chúng là cùng nhau, một nhịp điệu.

Đó là lí do tại sao ngôn ngữ không thể diễn đại cái một, cái bất nhị, advaita - nó không thể diễn đạt điều đó. Ngôn ngữ là logic - phải là vậy. Nếu nó không logic, nếu nó là phi logic, nó sẽ lại là vô nghĩa.

Một hôm Gurdjieff đang ngồi, và một nhà báo tới gặp ông ấy. Và ông ấy rất không thích các nhà báo. Đột nhiên ông ấy hỏi người đàn bà đang ngồi bên cạnh ông ấy, 'Hôm nay là ngày nào nhỉ?' Và người đàn bà nói, 'Thứ bẩy.' Và Gurdjieff có vẻ rất phân vân, và ông ấy nói, 'Làm sao có thể thế được? Mới hôm nọ đã là thứ sáu - cho nên làm sao hôm nay có thể là thứ bẩy được?'

Người đàn bà cũng hơi lúng túng - ông ấy đang nói gìg? Nhưng cô ấy biết rằng ông ấy đôi khi đưa ra những phát biểu rất phi logic. Nhưng nhà báo này nghĩ ông ấy điên. Ông ấy nói, 'Làm sao hôm nay có thể là thứ bẩy được khi mới hôm nọ đã là thứ sáu? Làm sao? Ông nói cho tôi đi!'

Nhà báo nghĩ thật vô nghĩa mà đi nói với người này. Ông ta trốn luôn, vì ông này dường như là điên và ông này dường như rất dữ tợn nữa - ông này đã là một người Caucase rất khoẻ mạnh, người thực sự mạnh.... Ông ta trốn mất. Khi ông ta trốn rồi, Gurdjieff cười. Và người đàn bà nói, 'Sao ông đã làm điều này với ông ta, người đáng thương kia?' Ông ấy nói, 'Ông ta sẽ để thời gian không cần thiết và làm phí thời gian của tôi. Và mọi điều tôi phải nói là phi logic. Nếu ông ta không thể chịu được phi logic chừng nấy, thế thì chẳng ích gì - ông ta sẽ không hiểu điều tôi nói.'

Chân lí là phi logic. Chân lí là siêu logic - chân lí đi ra ngoài các giới hạn và hạn chế của logic. Logic là rõ ràng. Logic là giống như khu vườn Anh - rất gọn gàng, rất đối xứng. Một bụi bên này, bụi khác đích xác ở bên kia - rất đối xứng. Bãi cỏ được cắt, hàng rào được cắt, mọi thứ sạch sẽ, đối xứng.

Chân lí giống với vườn Thiền nhiều hơn... chân lí giống với vườn của tôi nhiều hơn. Mukta là người làm vườn của tôi - cô ấy thấy rất nhiều khó khăn với vườn của tôi. Cô ấy muốn làm cho nó sạch sẽ, để cây thẳng tắp đối xứng. Cô ấy là người Hi Lạp. Tâm trí Hi Lạp về căn bản là logic - Aristotle và Plato và tất cả. Bây giờ cô ấy ở đây trong tay của một người rất phi logic. Tôi liên tục bảo cô ấy, 'Để nó ở bất kì đâu đi, để nó là rừng rậm.' Lúc ban đầu cô ấy thường đi vào trong vườn khi tôi không nhìn, và cô ấy sẽ bắt đầu cắt và tỉa cây. Bây giờ cô ấy đã dừng rồi; giờ tôi không thấy cô ấy với chiếc kéo, di chuyển. Bây giờ cô ấy đã trở nên quen rằng điều này sẽ là như vậy.

Có cây dại mọc và lan khắp vườn. Không ai cho phép cây đó, vì nó có thể phá huỷ toàn thể khu vườn. Và tôi thì yêu nó. Mukta gọi nó là 'đồ quỉ sứ', cô ấy đã đặt tên cho nó là 'đồ quỉ sứ'.

Chân lí là giống rừng rậm hơn. Thậm chí không phải là rừng, vì rừng được trồng. Rừng rậm không được trồng, nó là từ Thượng đế - bất đối xứng, không lập kế hoạch, không logic, không tam đoạn luận. Nó đơn giản có đó, với mọi thách đố của nó - bạn có thể bị lạc trong nó.

Tôi đã nghe nói về một Thiền sư rất vĩ đại cũng là người yêu vườn. Và ông ấy là một người làm vườn lớn. Hoàng đế học từ ông ấy cách tạo ra khu vườn đẹp. Và hoàng đế đã chuẩn bị khu vườn - ông ta đã làm việc ba năm dưới thầy, học mọi thứ, và chuẩn bị vườn trong cung điện. Ông ta có một nghìn người làm vườn để giúp đỡ và làm việc cho ông ta.

Sau ba năm ông ta mời thầy tới xem. Đó sẽ là việc sát hạch - nếu thầy nói, 'Tốt,' hoàng đế đã đỗ. Nếu thầy nói, 'Không. Ông bắt đầu học lại đi,' thế thì ông ta sẽ phải học lại trong ba năm. Nhiều chăm nom thế đã được tiến hành, mọi thứ đã được đặt đúng tuyệt đối. Và không có trục trặc gì, vì một nghìn người làm vườn đã làm việc nhiều tháng.

Và thế rồi ngày đó tới, và thầy tới. Và hoàng đế rất sợ - và ông ta đưa thầy đi xem và ông ta thậm chí càng trở nên sợ hơn, vì thầy đã nhìn rất nghiêm trang. Và chung cuộc, lúc đó là sáng mát lành, nhưng hoàng đế bắt đầu vã mồ hôi - vì thầy thậm chí đã không mỉm cười; thầy đã không nói một lời.

Và hoàng đế, đầy sợ hãi, hỏi, 'Thưa thầy, sao thầy giữ im lặng thế? Sao thầy không mỉm cười? Sao thầy không nói cái gì đó? Có cái gì đó về căn bản là sai với vườn này không?'

Thầy nói, 'Có, có một điều về căn bản sai.' 'Cái đó là cái gì vậy?' hoàng đế hỏi. Và thầy nói, 'Con người là quá rõ ràng nhiều ở đây. Thượng đế vắng mặt. Ông đã quá toán học - ông đã phá huỷ nó. Ông đã quá logic, vườn quá đối xứng. Mọi thứ là như nó phải vậy. Đó là điều sai. Không cái gì là sai, cái đó là vấn đề.'

Nhiều toán học thế tồn tại chỉ trong tâm trí con người. Thượng đế không là nhà toán học. Người Hi Lạp thường nói, trong viện hàn lâm của Plato, trên cửa có viết: 'Thượng đế là nhà toán học. Chừng nào ông chưa biết toán học xin đừng vào viện hàn lâm này.'

Thượng đế không là nhà toán học, Thượng đế là rất phi đối xứng.

Và thế thì bạn có biết thầy đã làm gì không? Thầy đi ra, bảo nhiều người làm vườn đi ra khỏi vườn. Họ đã ném mọi lá khô ra bên ngoài vườn, và thầy nói, 'Đem những lá này trở lại.'

Vườn không lá khô là vườn chết. Lá khô phải có đó, chúng là một phần của nó. Như sống không thể có mà không có chết, làm sao lá xanh có thể có mà không có lá khô? Và lá khô bay nhẹ nhàng trong gió trên đất tạo ra âm nhạc của riêng chúng, điều là đẹp như lá xanh trên cây. Tung bay, nhảy múa... và đôi khi lá khô chuyển động và nhảy múa trên đất trong gió là nhiều âm nhạc hơn bất kì lá xanh nào đã bao giờ có thể có. Vì lá khô là tự do. Lá xanh vẫn còn trong thế giới; lá khô giống như chư Phật.

Cho nên thầy đi ra, đem mọi loại lá khô mà đã được vứt đi, rải chúng khắp vườn. Và gió tới, và những lá khô này bắt đầu bay nhẹ nhàng, và thầy mỉm cười. Thầy nói, 'Giờ nó có vẻ sống động hơn chút ít.'

 

Đây là thái độ Thiền.

Ngôn ngữ là rất logic - phải là vậy, bởi sự cần thiết. Chân lí là rất phi logic, rất phi đối xứng. Nó không phải là tam đoạn luận, nó là thơ ca. Nó không là số học, nó là bài ca. Nó giống nhiều với yêu hơn là giống logic - đó là lí do tại sao ngôn ngữ không thể diễn đạt được nó.

Bạn có thể diễn đạt yêu của bạn trong tam đoạn luận không? Bạn sẽ phải làm cái gì đó như thế này: bạn đi tới người đàn bà và bạn nói, 'Mũi em là như nó phải vậy, mầu da em đẹp, tóc em hoàn hảo, thân thể em cân đối, bụng em không phình ra - do đó anh yêu em.' Người đàn bà sẽ la lên và gọi cảnh sát - đây không phải là cách rơi vào yêu. Bạn không rơi vào yêu với tam đoạn luận; bạn không đi tới kết luận. Yêu là cú nhảy, không phải là kết luận. Khi bạn làm tam đoạn luận bạn nghĩ vê các bộ phận - mũi, vú, bụng, eo, chân, tay, ngón tay, tóc, mầu da, răng - bạn nghĩ cả nghìn lẻ một bộ phận.

Logic chỉ có thể đi tới bộ phận. Nhưng cái toàn thể ở đâu? Người đàn bà này ở đâu, người đàn bà đặc biệt này? Cô ấy không chỉ là mũi, cô ấy không chỉ là tóc, cô ấy không chỉ là tay, chân. Cô ấy là nhiều hơn tổng của các bộ phận của cô ấy. Bạn rơi vào yêu với cái ‘nhiều hơn’ đó; bạn rơi vào yêu với cái toàn thể. Và bạn yêu cái mũi cô ấy vì bạn yêu cô ấy; bạn yêu cô ấy trước hết, thế rồi bạn yêu mũi cô ấy - không phải cách đi vòng khác. Bạn yêu cô ấy trước hết, đó là lí do tại sao bạn yêu răng cô ấy - không phải cách đi vòng khác.

Logic đi qua bộ phận, yêu đi qua cái toàn thể. Chân lí là giống yêu nhiều hơn - nó là cái nhìn sâu vào trong cái toàn thể. Cái toàn thể đó được gọi là Thượng đế. Hay chân lí, hay Đạo.

Ngôn ngữ là tuyến tính, nó đi theo đường thẳng. Không cái gì chuyển động trong sự sống đi theo đường thẳng; sự sống chuyển theo vòng tròn. Trái đất chuyển động theo vòng tròn quanh mặt trời, và trái đất chuyển động theo trục riêng của nó theo vòng tròn. Và mùa vụ chuyển động theo vòng tròn, và các sao chuyển động theo vòng tròn, và sự sống chuyển động theo vòng tròn - mọi thứ chuyển vận theo vòng tròn. Duy nhất logic, ngôn ngữ, chuyển vận theo đường thẳng.

Ngôn ngữ là tuyến tính, và sự tồn tại là phi tuyến tính. Sự tồn tại là vòng tròn. Bạn không thể diễn đạt vòng tròn qua đường thẳng. Đường thẳng đi thẳng; vòng tròn có đường thẳng trong nó nhưng đường thẳng bị uốn cong, không bao giờ thẳng. Nếu bạn nghe theo sự sống, đường thẳng là phát minh của hình học. Đường thẳng không tồn tại. Euclid nói đường thẳng tồn tại, nhưng bây giờ hình học mới đã đi vào sự tồn tại: hình học phi Euclid. Nó nói không có đường thẳng, đường thẳng không có đó chút nào.

Làm sao bạn có thể vẽ được đường thẳng? Nếu bạn vẽ đường thẳng, ngồi đây trên sàn, nó sẽ không thẳng - vì trái đất là tròn. Cho nên nếu bạn liên tục vẽ đường đó, liên tục vẽ, một ngày nào đó bạn sẽ thấy nó đã trở thành vòng tròn. Cho nên khi nó là nhỏ nó có vẻ thẳng nhưng nó không là vậy, nó là một phần của vòng tròn lớn - nó là một cung. Bạn đã hiểu lầm nó - liên tục làm cho nó lớn hơn và lớn hơn và lớn hơn, và một ngày nào đó bạn sẽ thấy nó đã trở thành vòng tròn. Mọi đường thẳng biến thành đường tròn chung cuộc - cho nên mọi đường thẳng là một phần của đường tròn. Nhưng logic vòng tròn là rất khác với logic tuyến tính. Logic tuyến tính liên tục tiến lên, liên tục tiến tới. Nó liên tục tiến hoá; nó không biến biết tới xoắn ốc.

Đó là lí do tại sao, ở phương Tây, các tôn giáo phương Tây có quan niệm về sáng tạo, nhưng họ không có bất kì quan niệm nào về phá huỷ. Thượng đế của họ chỉ sáng tạo - và thế rồi sao? Thế rồi bị móc. Thế thì nó cứ đi mãi. Đây là sai tuyệt đối, vì không cái gì có thể đi mãi mãi; ngày nào đó nó phải đi tới nghỉ ngơi.

Ở phương Đông, Thượng đế sáng tạo và Thượng đế phá huỷ. Một ngày nào đó thế giới đi vào sự tồn tại, một ngày nào đó nó lại biến mất. Toàn thể kinh nghiệm này của hàng triệu hàng triệu năm được gọi là ngày của Thượng đế - ngày của 'Brahma'. Và ông ấy là cả hai đấng sáng tạo và đấng phá huỷ. Bây giờ, tâm trí phương Tây không thể nghĩ được rằng Thượng đế có thể là người phá huỷ; điều đó là rất logic - đấng sáng tạo không thể là đấng phá huỷ.

Nhưng ở phương Đông chúng ta biết sâu hơn nhiều, chúng ta có cảm giác trực giác về cái toàn thể. Vâng, đấng sáng tạo phải là đấng phá huỷ nữa - bằng không sẽ không có bất kì chết nào, sẽ chỉ có sống. Và sẽ không có ghét, sẽ chỉ có yêu. Và sẽ không có buồn, bao giờ cũng sẽ có sung sướng. Nó không là vậy đâu. Mọi thứ được sinh ra đều chết đi.

Cho nên toàn thể sự tồn tại này được sinh ra một ngày nào đó, và một ngày nào đó nó chết. Chỉ ở phương Đông chúng ta mới có quan niệm này - với tiến hoá, chúng ta có quan niệm về tiến hoá xoáy ốc. Mọi thứ không đi mãi, bao giờ cũng tiến triển - với tiến triển có thoái lui nữa. Và bạn có thể quan sát và nhìn điều đó: trong thứ này bạn tiến triển, trong thứ khác bạn thoái lui. Khi một người trở nên rất giầu, bên trong người đó trở nên rất nghèo. Khi một người có mọi thứ, bên trong người đó bắt đầu cảm thấy người đó chẳng có gì. Cho nên tiến triển và thoái lui cùng đi tay trong tay. Khi một người từ bỏ tất cả, đột nhiên người đó cảm thấy người đó đã trở thành người chủ của con người riêng của người đó. Người ăn xin trở thành hoàng đế, hoàng đế trở thành người ăn xin.

Sự sống rất nghịch lí - nó không tuyến tính, nó không logic. Và vì ngôn ngữ và cấu trúc tuyến tính của nó, thời gian được tạo ra: quá khứ, hiện tại, tương lai. Thật ra, không có quá khứ và không có tương lai, chỉ có hiện tại. Nó toàn là vĩnh hằng. Sự tồn tại không có quá khứ và sự tồn tại không có tương lai. Sự tồn tại sống trong tính vĩnh hằng; nó bao giờ cũng là bây giờ.

Cho nên làm sao cái ‘bây giờ’ đó có thể được diễn đạt? Không thể được - vì ngôn ngữ của chúng ta mang ý tưởng về quá khứ và hiện tại. Ngôn ngữ của chúng ta được tạo ra bởi kí ức của chúng ta, nó được chuyển cho kí ức. Vì nó được chuyển cho kí ức, nó nghĩ về quá khứ - kí ức có quá khứ. Và vì nó nghĩ về quá khứ, nó nghĩ về tương lai nữa - tương lai không là gì ngoài việc phóng chiếu lần nữa của quá khứ. Và giữa quá khứ và tương lai nó liên tục bỏ lỡ hiện tại, cái là thực tại duy nhất.

Thượng đế là hiện tại. Bạn không thể nói 'Thượng đế đã hiện hữu' - điều đó sẽ là ngu xuẩn. Và bạn không thể nói 'Thượng đế sẽ hiện hữu' - điều đó sẽ lại là ngu xuẩn. Bạn chỉ có thể nói 'Thượng đế hiện hữu'. Thượng đế bao giờ cũng hiện hữu - không có ‘đã hiện hữu' và không có 'sẽ hiện hữu'. Thượng đế hiện hữu.

Tính hiện hữu này được Thiền nhân gọi là 'tathata' - tính như vậy. Tính như vậy này không thể được diễn đạt bởi ngôn ngữ. Ngôn ngữ sẽ phá huỷ tính như vậy này - nó sẽ phân chia thành quá khứ, hiện tại và tương lai. Và mọi thứ ngay lập tức biến mất - khoảnh khắc bạn phân chia tính toàn thể của một vật, bạn phá huỷ nó.

Tôi có thể chỉ cho bạn đoá hoa hồng đẹp, bạn có thể bứt các cánh hoa ra để nhìn vào bên trong nó - cái gì làm cho nó tích tắc? Nhưng thế thì bạn đã phá huỷ đoá hoa rồi. Bạn có thể đi tới nhà hoá học, bạn có thể thấy mọi hoá chất cái tạo ra đoá hoa này, bạn có thể thấy nó có mùi thế nào và tại sao, cái gì làm cho mùi hoa hồng đẹp này tới. Bạn có thể tìm ra tại sao nó mầu đỏ hay tại sao nó mầu vàng hay tại sao nó mầu đen; bạn có thể tìm thấy mọi yếu tố cấu tạo. Nhưng bạn sẽ không tìm thấy một điều mà là có ý nghĩa nhất: bạn sẽ không tìm thấy cái đẹp. Bạn có thể để mọi hoá chất này vào các lọ khác nhau - được dán nhãn, được đo, được phân loại - nhưng một lọ sẽ vẫn còn trống rỗng, lọ được dán nhãn là 'đẹp'. Cái đẹp bạn sẽ không tìm thấy. Cái đẹp chỉ là của cái toàn thể. Cho nên chân lí chỉ là của cái toàn thể.

Ngôn ngữ là tuyến tính, và chân lí là đồng thời. Dường như bạn ở đây, cây ở đây, chim ở đây, mây ở đây, sao ở đây - mọi thứ đang tồn tại trong khoảnh khắc này. Không phải là đầu tiên bạn tồn tại, thế rồi cây tồn tại, thế rồi mây, thế rồi sao. Mọi thứ tồn tại đồng thời. Nhưng nếu bạn phải làm một đoạn văn tả, mọi sự không thể tồn tại đồng thời. Đầu tiên bạn nói về những người đã tụ tập ở đây, thế rồi bạn nói về cây, thế rồi bạn nói về mây, thế rồi bạn nói về sao, những ngôi sao xa xôi hơn - bạn nói từng thứ một, bạn nói dần dần, bạn để mọi thứ theo đường thẳng. Thế thì mọi sự tồn tại thứ nhất, thứ hai, thứ ba - một hàng đợi bắt đầu đi vào trong sự tồn tại.

Sự tồn tại không đứng trong hàng đợi, sự tồn tại là tất cả cùng nhau. Đó là lí do tại sao nó không thể được diễn đạt trong ngôn ngữ.

Chung cuộc, ngôn ngữ là tiếng vọng, sự phản xạ trong gương, cái bóng. Làm sao nó có thể diễn đạt được chân lí? Ngôn ngữ giống như thực đơn - bạn có thể đọc thực đơn, nhưng thực đơn không phải là thức ăn. Bạn có thể đọc thực đơn nhưng bạn không thể ăn thực đơn. Thực đơn có thể làm một điều, nó có thể cho bạn sự thèm ăn - nhưng nó không thể thoả mãn việc thèm ăn của bạn.

Lời của thầy có thể cho bạn việc thèm muốn về Thượng đế, nhưng chúng không thể thoả mãn cơn đói về Thượng đế. Kinh sách có thể khơi gợi ham muốn trong bạn, nhưng chúng không thể đáp ứng cho ham muốn. Lời có thể thách thức bạn, nhưng có vậy thôi - vì lời là cái bóng. Từ 'lửa' không phải là lửa, từ 'thức ăn' không phải là thức ăn. Cho nên nó cũng vậy với lời 'Thượng đế' - từ 'Thượng đế' không là Thượng đế.

Đó là lí do tại sao các Thiền sư cố tìm ra cách thức phi ngôn ngữ. Đôi khi Thiền sư sẽ hét. Ông ấy sẽ nói điều vô nghĩa, chỉ lời hét, không ngụ ý cái gì, âm thanh vô nghĩa. Hay đôi khi ông ấy sẽ cười: Ha ha ha! Hay đôi khi ông ấy sẽ khóc, và nước mắt sẽ tràn đầy mắt ông ấy và sẽ bắt đầu chảy ròng ròng trên má ông ấy. Hay đôi khi ông ấy sẽ vẫn còn im lặng và sẽ không làm bất kì cái gì. Hay đôi khi ông ấy sẽ đánh đệ tử, đập đệ tử, ném đệ tử.

Các Thiền sư cố tìm ra cách thức phi ngôn ngữ để khơi gợi bạn, để mang bạn tới thực tại này cái đang bao quanh bạn. Nhưng bạn bị lạc trong đầu bạn. Nhiều mây về ngôn ngữ và lời và triết lí đi lòng vòng bên trong đầu bạn tới mức bạn đã trở nên rất rất đờ đẫn. Ai đó cần hét lên với bạn. Ai đó cần đánh bạn đau vào, để cho ít nhất trong một khoảnh khắc bạn đi tới thức tỉnh.

Vài điều. Các Thiền sư nói: 'Dùng lời giống như đánh trăng bằng gậy hay gãi giầy của người ta vì chân bị ngứa.' Điều đó tôi thích. Mm? Liên tục gãi giầy của bạn vì chân bạn đang ngứa. Điều đó sẽ không giúp gì. Điều đó là điều chúng ta đang làm gãi giầy. Cái gì đó khác đang gây ngứa. Chúng ta phải đi thẳng tới thực tại. Ngay cả tầng giầy nhỏ này là đủ để ngăn cản bạn. Và ngôn ngữ là tầng lớn.

 

Mọi đêm trăng phản xạ

trong suối

nhưng nếu ông cố tìm chỗ

trăng chạm nước

ông không thể tìm thấy cho dù cái bóng.

 

Những lời này là từ Thiền sư, Takuan. Ông ấy nói nó là vậy với ngôn ngữ - bạn có thể liên tục lắng nghe và lắng nghe và lắng nghe, và khi bạn thử tìm xem liệu lời có chạm tới bạn không, bạn thậm chí sẽ không tìm thấy cái bóng. Cái gì đó khác, cái gì đó tức khắc hơn, cái gì đó trần tục hơn, được cần tới.

 

Chuyện xảy ra, một giai thoại rất hay trong cuộc đời của một Thiền sư lớn, Lâm Tế:

 

Lâm Tế gặp một nhóm ba sư lang thang thuộc vào tông phái Phật giáo khác, và một trong ba người này đánh bạo hỏi Thiền sư: 'Sông Thiền sâu thế nào?' Việc tham chiếu tới sông đã nảy sinh từ việc đương đầu của họ xảy ra trên cầu. Thiền sư, Lâm Tế, người đã được chú ý tới vì hành động trực tiếp của ông ấy, không mất thời gian đáp lại. 'Tìm ra cho bản thân ông đi,' ông ấy nói, và đề nghị ném người hỏi từ cầu xuống sông.

Người hỏi này đã hỏi, 'Sông Thiền sâu thế nào?' Một câu hỏi hay. Nhưng khi bạn hỏi một Thiền sư một câu hỏi, bạn phải sẵn sàng cho bất kì cái gì. Vì Thiền sư không đáp lại từ kí ức; chỉ đáp ứng ngay lập tức là đáp ứng của ông ấy. Họ đang đứng trên cầu, và đó là lí do tại sao câu hỏi này nảy sinh. Có thể bởi vì dòng sông mà người hỏi đã dùng biểu dụ về dòng sông. Nhưng anh ta phải là vô nhận biết rằng các Thiền sư không thích các biểu dụ, họ thích thực tại. Biểu dụ sẽ vận hành như chiếc giầy - và thực tại là chân của bạn, cái đang ngứa.

Lâm Tế nói, 'Tìm ra cho bản thân ông đi,' và đề nghị ném người hỏi từ cầu xuống.

Ngay cả tiến sĩ Suzuki, người đã giới thiệu Thiền cho phương Tây, người đã làm phục vụ lớn cho nhân loại - trong bẩy mươi năm này, không người nào khác đã làm việc phục vụ lớn thế cho nhân loại như Suzuki - nhưng ngay cả một người như Suzuki bình luận về chuyện này: 'Nhưng may mắn hai người bạn riêng của anh ta đã xin giùm và xin rủ lòng thương, điều đã cứu vãn được tình huống.'

Bây giờ ngay cả Suzuki đã trở nên sợ; điều này đi quá xa. Nhưng cảm giác riêng của tôi là, điều này không phải là may mắn rằng hai người đã xin giùm. Điều chắc đã là tốt hoàn hảo khi ném sư này xuống sông - cho anh ta vị của sông thực, thay vì liên tục nghĩ theo biểu dụ. Việc suy nghĩ theo biểu dụ không giúp gì.

Tôi không sẵn sàng đồng ý với Suzuki. Tôi có trái tim rất dịu dàng dành cho Suzuki, nhưng tôi không sẵn sàng đồng ý với phát biểu này. Ông ấy nói điều may mắn là hai người kia đã xin giùm và cứu vãn tình huống này. Họ đã phá huỷ toàn thể tình huống này. Không ai biết - người ngã từ cầu xuống sông có thể trở nên chứng ngộ chứ. Vì khi người như Lâm Tế đề nghị ném một người, điều đó không thể là vô nghĩa. Người như Lâm Tế biết điều ông ấy đang làm; người như Lâm Tế hoàn toàn nhận biết về tình huống này.

Có những người có thể trở nên tỉnh táo chỉ khi chết đối diện họ - bằng không họ không bao giờ tỉnh táo. Có những người sẽ thức dậy chỉ khi chết đang đứng ngay trước họ. Với tôi, điều không may là hai người kia đã xin giùm và xin rủ lòng thương. Người đáng thương này đã bỏ lỡ một cơ hội lớn. Tỏ ngộ là có thể. Thật ra, người như Lâm Tế sẽ không đề nghị ném bất kì ai hay mọi người. Người như Lâm Tế sẽ đề nghị ném ai đó chỉ khi ông ấy thấy khả năng này, khi ông ấy thấy tiềm năng này.

Đây là cách Thiền xử trí tình huống, câu hỏi, thách thức.

 

Từ “Thiền: con đường của nghịch lí”, t.2, ch.9