Bạn đang ở: Trang chủ Trích đoạn Nhận biết và chứng ngộ Nhận biết và tỉnh táo Chính tinh hoa của thiền
 
 
Nhận biết và tỉnh táo

Chính tinh hoa của thiền

Nietzsche viết:

"Người chiến đấu với quỷ

nên nhìn vào điều đó

để bản thân mình không trở thành quỷ,

và khi bạn nhìn chằm chằm đủ lâu vào vực thẳm

vực thẳm cũng nhìn chằm chằm vào bạn."

Phát biểu cuối dường như nhiều phần là mô tả hay

về nghệ thuật thiền,

xin thầy bình luận về điều này?

 

Maneesha,

Friedrich Nietzsche

là triết gia

nhà thơ

nhà huyền môn

kỳ lạ.

Kỳ lạ của ông ấy là

ở chỗ triết lí của ông ấy không là

cách tiếp cận hợp lý

thông thường tới cuộc sống;

kỳ lạ của ông ấy cũng là

ở chỗ ông ấy viết thơ dưới dạng văn xuôi.

Và ông ấy cũng là nhà huyền môn kỳ lạ,

bởi vì ông ấy chưa bao giờ đi

con đường thông thường của huyền môn.

Như thể huyền môn ngẫu nhiên xảy đến với ông ấy vậy.

Có lẽ là triết gia

và vừa là nhà thơ,

ông ấy cũng trở nên sẵn có

cho những kinh nghiệm huyền môn nữa.

Triết gia là logic thuần khiết,

và nhà thơ là không hợp lý thuần khiết.

Nhà huyền môn ở ngoài cả hai.

Ông ấy không thể bị phân loại là hợp lí,

và ông ấy không thể bị phân loại

là phi lí.

Ông ấy là cả hai, và ông ấy không là cả hai.

Rất hiếm xảy ra

việc một triết gia cũng là nhà thơ,

bởi vì chúng là những chiều tuyệt đối đối lập.

Và chúng tạo ra căng thẳng bên trong rất lớn ở người đó.

Và Nietzsche đã sống căng thẳng đó tới cực đỉnh của nó.

Nó cuối cùng dẫn ông ấy vào điên khùng,

bởi vì một mặt ông ấy

là một trong những sản phẩm thông minh nhất

của triết học phương Tây,

không có bất kỳ so sánh nào khác,

và ở mặt khác

tràn đầy linh ảnh thi ca

tới mức chắc chắn tim và đầu ông ấy

hẳn thường xuyên trong tranh đấu.

Nhà thơ và triết gia không thể là cùng là bạn đồng sàng tốt.

Dễ là nhà thơ, dễ là triết gia,

nhưng là cả hai là căng thẳng cực lớn.

Và không theo bất kì cách tầm thường nào

triết gia của ông ấy là thiên tài vĩ đại như nhà thơ của ông ấy vậy.

Và vấn đề trở nên phức tạp hơn

bởi căng thẳng giữa đầu và tâm trí này.

Ông ấy bắt đầu trở nên sẵn có

cho cái gì đó nữa

hơn là triết học, hơn là thơ ca.

Đấy là điều tôi đang gọi là huyền môn.

Tuyên bố của ông ấy có tầm quan trọng lớn lao:

"Người đấu tranh với quỷ

phải nhìn vào điều đó

để bản thân mình không trở thành quỷ."

Tôi luôn nói với các bạn rằng

bạn có thể chọn bạn mà không cần

thận trọng quá nhiều,

nhưng bạn không thể đương đầu với kẻ thù

mà không rất tỉnh táo

bởi vì người bạn sẽ không thay đổi bạn,

nhưng kẻ thù sẽ thay đổi bạn.

Với người bạn không có tranh đấu,

với người bạn không có cãi vã;

người bạn chấp nhận bạn như bạn vậy,

bạn chấp nhận người bạn như người đó vậy.

Nhưng với kẻ thù tình huống là khác hoàn toàn.

Bạn đang cố tiêu diệt kẻ thù

và kẻ thù đang cố tiêu diệt bạn.

Và một cách tự nhiên các bạn sẽ ảnh hưởng lẫn nhau,

các bạn sẽ bắt đầu lấy

phương pháp, phương tiện, kỹ thuật từ nhau.

Sau một thời gian sẽ trở nên gần như không thể thấy ra ai là ai.

Họ cả hai phải cư xử theo cùng cách,

họ cả hai phải sử dụng cùng một ngôn ngữ,

họ cả hai phải ở cùng mức.

Bạn không thể vẫn còn ở chiều cao của bạn

và đấu tranh với kẻ thù sống trong thung lũng tối bên dưới;

bạn sẽ phải đi xuống.

Bạn sẽ phải bần tiện, tinh ranh

như kẻ thù của bạn - có lẽ bạn sẽ phải hơn thế nữa,

nếu bạn muốn thắng.

Nietzsche là đúng rằng:

"Người chiến đấu với quỷ

phỉa nhìn vào điều đó để bản thân mình không trở thành quỷ.

Và khi bạn nhìn chằm chằm lâu vào vực thẳm,

vực thẳm cũng nhìn chằm chằm vào bạn."

Phần thứ hai của lời phát biểu

thực tế là

chính tinh hoa của thiền:

Nó là việc nhìn chằm chằm

vào trong trống rỗng, cái không,

vào trong vực thẳm.

Và khi bạn nhìn chằm chằm vào vực thẳm nó không là một chiều đâu;

vực thẳm cũng đang nhìn chằm chằm vào mắt bạn.

Khi tôi đang nhìn bạn,

không chỉ tôi đang nhìn bạn;

bạn cũng đang nhìn tôi. Vực thẳm có cách riêng của nó để nhìn chằm chằm vào bạn.

Bầu trời trống rỗng cũng nhìn chằm chằm vào bạn,

những ngôi sao xa xôi cũng đang nhìn vào bạn.

Và nếu vực thẳm được phép nhìn chằm chằm vào bạn,

rất nhanh bạn sẽ thấy

hài hòa lớn lao

giữa bản thân bạn

và im lặng của vực thẳm,

bạn sẽ cũng trở thành một phần của vực thẳm.

Vực thẳm sẽ ở bên ngoài bạn và cũng ở bên trong bạn.

Điều ông ấy đang nói

là hay

và chân thật vô cùng.

Thiền nhân phải học

nhìn chằm chằm vào những điều

mà người đó muốn bản thân mình trở thành.

Nhìn

vào bầu trời im lặng,

không mây.

Và nhìn đủ lâu,

và bạn sẽ đi tới điểm

khi đám mây ý nghĩ nhỏ bé

trong bạn biến mất,

và hai bầu trời trở thành một.

Không có bên ngoài, không có bên trong.

đơn giản chỉ có một sự trải rộng.

Hàng nghìn năm

thiền nhân đã nhìn chằm chằm

vào mặt trời ban mai buổi sớm,

bởi vì sau đó trở nên quá khó để nhìn chằm chằm vào mặt trời.

Nhưng mặt trời buổi sớm, chỉ mới nhô lên trên đường chân trời,

có thể được nhìn vào

mà không nguy hiểm gì cho mắt.

Và nếu bạn cho phép,

thế thì ánh sáng và màu sắc

cái lan tỏa khắp đường chân trời

bắt đầu lan tỏa bên trong bạn

bạn trở thành một phần của đường chân trời.

Bạn không còn là người nhìn chằm chằm nữa;

bạn đã trở thành một phần của cảnh tượng đó rồi.

Một truyện ngụ ngôn cổ ở Trung Quốc là

một vị hoàng đế quan tâm nhiều lắm

tới hội hoạ, và có một bộ sưu tập tranh lớn,

đã công bố giải thưởng rất lớn

cho bức tranh đẹp nhất.

Tất cả những họa sĩ tài giỏi của đất nước đi tới kinh thành,

bắt đầu làm việc.

Một họa sĩ nói, "Với tôi sẽ mất ít nhất ba năm."

Nhà vua nói, "Nhưng ta quá già rồi."

Họa sĩ nói, "Bệ hạ không cần lo lắng.

Bệ hạ có thể trao cho tôi giải thưởng ngay bây giờ.

Nếu bệ hạ không chắc chắn về cuộc sống của bệ hạ,

tôi chắc chắn về bức tranh của tôi.

Nhưng tôi cũng không đòi hỏi.

Tôi chỉ đang nói rằng tôi sẽ làm

công việc mà chưa từng được làm.

Tôi muốn chỉ cho bệ hạ thấy một bức tranh thật sự phải là gì;

vì thế xin quên về cái chết đi và quên giải thưởng đi.

Bệ hạ cho phép tôi ba năm và một nơi cách biệt trong cung điện.

Và không ai được tới

trong khi tôi đang làm việc;

trong ba năm tôi phải được bỏ một mình."

Mỗi ngày

đã là sự kích động đến thế với nhà vua.

Người đó là một họa sĩ nổi tiếng,

không chỉ là một họa sĩ - người đó cũng là một bậc thầy Thiền.

Và cuối cùng ba năm đấy cũng trôi qua,

và họa sĩ mời nhà vua...

họa sĩ đưa ông ấy vào phòng.

Trên toàn bộ bức tường ông ấy đã vẽ

khu rừng đẹp

với núi,

với thác đổ,

và lối đi bộ nhỏ

chạy xung quanh

và sau đó mất hút

vào rừng phía sau núi.

Tranh vẽ sống động,

ba chiều,

tới mức nhà vua quên mất hoàn toàn rằng nó là bức tranh

và hỏi họa sĩ,

Lối đi bộ này dẫn tới đâu?"

Họa sĩ nói, "Tôi chưa bao giờ đi trên nó,

nhưng chúng ta có thể đi và xem xem nó dẫn tới đâu."

Và câu chuyện là họa sĩ và nhà vua cả hai bước vào con đường,

đi vào trong rừng, và chưa quay trở lại kể từ đó.

Bức tranh vẫn được bảo tồn;

nó cho thấy dấu chân của hai người

trên lối đi.

Dường như hoàn toàn không thể tin được,

nhưng nghĩa có

tầm quan trọng mênh mông.

Họa sĩ này nói

rằng chừng nào bạn chưa thể bị biến mất vào bức tranh,

nó không là bức tranh.

Chừng nào bạn chưa thể trở thành một phần của cảnh tượng,

cái gì đó đang phân chia bạn;

bạn không cho phép bản thân bạn, một cách toàn bộ, là một với nó,

dù nó là mặt trời mọc hay hoàng hôn...

Thiền nhân phải học

những cách khác nhau,

từ những phía khác nhau của cuộc sống,

để được biến mất.

Đấy là những khoảnh khắc mà bạn

không còn nữa,

mà chỉ còn im lặng thuần khiết,

vực thẳm, bầu trời,

hồ tĩnh lặng

không có bất kì gợn sóng nào trên đó.

Và bạn đã trở thành một với nó.

Và tất cả những gì cần tới là

đừng là

người đi ngang qua, đừng là khách du lịch,

đừng trong vội vã.

Ngồi xuống và thảnh thơi.

Và nhìn chằm chằm vào im lặng,

vào chiều sâu,

và cho phép chiều sâu đó

đi vào mắt bạn,

để nó có thể chạm vào chính bản thể của bạn.

Một khoảnh khắc tới

khi người nhìn chằm chằm và cái được nhìn chằm chằm trở thành một,

người quan sát và cái được quan sát trở thành một.

Và đấy là khoảnh khắc của thiền

và không còn nữa

những kinh nghiệm vàng trong sự tồn tại.

Và những khoảnh khắc vàng này có thể là của bạn...

chỉ là nghệ thuật bé nhỏ,

hoặc hơn thế một mẹo nhỏ,

của việc làm mất bản thân bạn vào cái gì đó bao la,

cái gì đó rất rộng lớn

tới mức bạn không thể bao chứa nó.

Nhưng nó có thể hàm chứa bạn!

Và bạn có thể kinh nghiệm nó chỉ

nếu bạn cho phép nó hàm chứa bạn.

Friedrich Nietzsche là đúng;

ông ấy hẳn đã nói

điều ông ấy đã tự mình kinh nghiệm.

Thật không may rằng ông ấy được sinh ra tại phương Tây.

Ở phương Đông ông ấy hẳn sẽ ở cùng tầm với Phật Gautam

hay Mahavira hay Bồ Đề Đạt Ma

hay Lão Tử.

Ở phương Tây

ông ấy phải bị buộc vào nhà thương điên.

Bản thân ông ấy không thể hình dung ra được nó. Điều đó là quá nhiều:

một mặt tính hợp lí triết học lớn lao của ông ấy,

mặt khác

sáng suốt trong thơ ca của ông ấy,

và những thoáng nhìn bất chợt đấy của kinh nghiệm huyền môn...

nó là quá nhiều.

Ông ấy không thể xoay sở

và bắt đầu sụp đổ.

Chúng tất cả quá khác biệt với nhau,

quá đối lập hoàn toàn...

đến mức ông ấy cố hết sức

bằng cách nào đó để giữ chúng cùng nhau,

nhưng chính nỗ lực

cố giữ chúng cùng nhau

trở thành suy sụp thần kinh.

Cùng kinh nghiệm này ở phương Đông

hẳn sẽ

là hiện tượng

khác biệt hoàn toàn.

Thay vì bị suy sụp thần kinh,

nó hẳn sẽ là đột phá.

Bởi vì phương Đông đã từng làm việc hàng nghìn năm;

toàn thể thiên tài của nó đã được dâng hiến cho duy nhất một điều,

và đấy là thiền. Và nó đã nhìn

vào mọi ngóc ngách và góc có thể của thiền,

và nó đã trở thành có khả năng

cho phép thơ ca,

cho phép triết học,

mà không có bất kì vấn đề nào,

mà không có bất kì đối lập và căng thẳng nào.

Nhưng ngược lại

chúng tất cả trở thành, dưới thiền,

một dạng của giao hưởng - những nhạc cụ khác nhau,

nhưng đang chơi cùng một điệu.

Đã có nhiều bất hạnh trên thế gian này,

nhưng tôi cảm thấy tiếc nhiều nhất cho Friedrich Nietzsche

bởi vì tôi có thể thấy

tiềm năng lớn mà ông ấy có là gì.

Nhưng việc ở trong môi trường sai,

không có tiền lệ

và không có cách nào

làm việc với nó bởi chính bản thân mình, một mình...

Nó tất nhiên là quá nhiều cho một cá nhân, cho bất kì cá nhân nào,

để làm việc một mình.

Hàng nghìn người đã làm việc từ những góc khác nhau,

và bây giờ, ở phương Đông, chúng ta có

toàn thể bầu không khí

trong đó

bất kì loại

thiên tài nào cũng có thể được hấp thu.

Và thiền sẽ không bị quấy rầy bởi nó;

thiền sẽ được nâng cao,

và chiều đặc biệt của chính ông ấy - thơ ca, văn học, khoa học

cũng sẽ được nâng cao.

Chỉ là ông ấy đã ở nơi sai,

bị bao quanh bởi những người sai

những người chỉ có thể nghĩ ông ấy là điên.

Và với họ,

ông ấy có vẻ điên.

Hai đứa trẻ đang chơi trên bãi biển.

Một trong hai đứa hỏi đứa kia,

"Đằng ấy muốn là gì khi đằng ấy lớn lên?"

Cậu bé nói, "Khi tớ lớn lên tớ muốn là nhà tiên tri vĩ đại.

Tớ sẽ nói về những chân lí sâu lắng."

Cậu bé thứ nhất nói,

"Nhưng họ nói không ai nghe nhà tiên tri,

vì vậy tại sao lại trở thành nhà tiên tri?"

"À," cậu bé nói,

"Với tớ nhà tiên tri rất bướng."

Chính bướng bỉnh này

trở thành vấn đề,

bởi vì toàn thể xã hội là chống lại,

và chỉ một người

đấu tranh một cách đơn thương độc mã

cho những chân lí mà mọi người thậm chí không thể hiểu,

mà họ tuyệt đối sẵn sàng hiểu sai.

Nếu một người chân thực

và nếu người đó không thể hiểu một điều

người ấy nên nói, "Tôi không hiểu nó."

Nhưng mọi người là rất không chân thực.

Khi họ không hiểu một điều

họ ngay lập tức bắt đầu hiểu sai nó.

Hiểu sai là cách che giấu ngu dốt của họ.

Và những người

mà đã đi tới biết đôi chút chân lí

chắc chắn là bướng bỉnh.

Bạn có thể đóng đinh họ, nhưng bạn không thể thay đổi tâm trí họ.

Bạn có thể ném họ vào nhà thương điên,

nhưng họ sẽ tiếp tục lặp lại

sáng suốt của họ.

Sáng suốt của họ trở nên giá trị hơn

cuộc sống của chính họ.

Phương Đông, ít nhất trong quá khứ,

từng là mảnh đất tốt nhất cho nhà tiên tri,

cho triết gia, cho nhà thơ, cho nhà huyền môn.

Nó không còn như vậy nữa,

nhưng vẫn còn cái gì đó của quá khứ

tiếp tục vang vọng trong bầu không khí.

Phương Tây đã làm biến chất phương Đông.

Phương Tây biết tới truyền thống của Socrate bị đầu độc,

nó biết tới

việc đóng đinh của Jesus Christ;

phương Đông tuyệt đối

hồn nhiên.

Một sự kiện được chấp nhận

rằng mọi người đều có quyền nói chân lý của mình.

Nếu bạn không đồng ý với người đó,

điều đấy không có nghĩa rằng bạn phải giết người đó. Không đồng ý

đấy là quyền của bạn;

ít nhất chúng ta có thể đồng ý để bất đồng với nhau,

nhưng không cần mang gươm

khi bạn không có lý lẽ.

Gươm không thể trở thành lý lẽ.

Nhưng bầu không khí đang dần thay đổi

trong gần hai nghìn năm nay,

kể từ khi đất nước này trở thành

bị xâm lược hết lần này tới lần khác bởi những kẻ man rợ,

người vô văn minh, người vô có văn hóa,

những người không có ý tưởng triết học là gì.

Và cuối cùng, ba trăm năm

phương Tây đã

cố gắng theo mọi cách có thể

để làm biến chất tâm trí của phương Đông

thông qua hệ thống giáo dục của nó

thông qua trường học, thông qua trường cao đẳng, thông qua trường đại học.

Bây giờ thậm chí cả ở phương Đông

đóng đinh là có thể.

Mới hôm nọ

một trong những lãnh tụ tôn giáo đạo Hindu vĩ đại

tương đương với giáo hoàng của đạo Cơ đốc,

Shankaracharya Svarupananda,

ông ấy ở đây vài ngày.

Và tôi đã nói với Neelam, khi cô ấy thông báo choi tôi,

rằng chắc chắn ông ấy sẽ nói cái gì đó chống lại tôi.

Nhưng ông ấy đã nói chống lại tôi chỉ vào ngày cuối cùng, trước khi rời đi,

vì thế khi thông tin đến với tôi, ông ấy đã gần như rời đi.

Và điều ông ấy đã nói chống lại tôi

là quá nghèo nàn

tới mức người ta cảm thấy thương hại quá. Điều gì đã xảy ra

cho truyền thống triết học

vĩ đại của phương Đông?

và những người này đại diện cho những truyền thống đó.

Ông ấy đã nói về tôi rằng: "Ông ấy là

người nguy hiểm vô song trong lịch sử của nhân loại."

Ông ấy không đưa ra lý do tại sao.

Với tôi điều này là lời khen đấy.

Nhưng ít nhất tôi có quyền để hỏi

lý do gì để trao cho tôi ngợi khen lớn lao tới mức "vô song

trong toàn thể lịch sử của nhân loại."

Và tôi là nguy hiểm gì?

Đây không là cách của phương Đông.

Khi tôi đang nghe phát biểu của ông ấy

tôi nhớ về

shankaracharya nguyên thuỷ của ông ấy,

Adi Shankaracharya.

Ông ấy là người kế tiếp

gần một nghìn bốn trăm năm trước.

Một thanh niên,

ông ấy đã chết khi ông ấy ba mươi ba.

Ông ấy đã tạo ra

một truyền thống sannyasin mới,

và ông ấy đã tạo ra bốn ngôi đền

trong cả bốn

hướng,

và bốn shankaracharya ông ấy chỉ định,

mỗi người mỗi hướng.

Tôi nhớ về ông ấy,

ông ấy du hành khắp nơi trên đất nước

đánh bại những triết gia vĩ đại nổi tiếng

đấy là bầu không khí hoàn toàn khác biệt.

Một trong những triết gia vĩ đại là Mandan Mishar;

ông ấy có nhóm tín đồ lớn.

Dầu vậy trong kí ức của ông ấy

thị trấn của ông ấy tồn tại.

Tôi đã tới đó nhiều lần.

Nó nằm bên bờ đẹp

của dòng sông Narmada,

một trong những dòng sông đẹp nhất.

Và đấy là nơi mà dòng sông đổ xuống từ núi, vì thế

nó có vẻ đẹp vô cùng.

Thành phố này có tên là Mandala,

tưởng nhớ Mandan Mishra.

Shankara hẳn đã

ở độ tuổi ba mươi

khi ông ấy tới Mandala.

Và ngay ở bên ngoài thị trấn,

ở giếng, vài phụ nữ đang múc nước từ đó.

Và ông ấy đã hỏi họ

rằng, "Tôi muốn biết

nơi triết gia vĩ đại

Mandan Mishra sống."

Và những phụ nữ đó nháy mắt và họ nói, "Đừng lo lắng, anh chỉ việc đi vào bên trong.

Anh sẽ thấy nó."

Shankara nói, "Làm sao tôi sẽ tìm thấy nó được?"

Họ nói, "Anh sẽ thấy nó, bởi vì ngay cả

vẹt cũng ở xung quanh nhà ông ấy

ông ấy có khu vườn lớn và có nhiều vẹt trong vườn

chúng lặp lại

những bài thơ từ Upanishad, từ Veda.

Nếu anh nghe vẹt lặp lại,

ca hát những bài thơ hay từ Upanisha,

anh có thể chắc chắn rằng đây là nhà của Mandan Mishra."

Ông ấy không thể tin, nhưng khi ông ấy đi tới và thấy, ông ấy phải tin.

Ông ấy hỏi Mandan Mishar - ông ấy đã già, gần bảy mươi

rằng - "Tôi đã tới

cách đây rất xa từ miền Nam Ấn Độ

để tranh luận với ngài,

với một điều kiện

rằng: Nếu tôi thua, tôi sẽ trở thành đệ tử của ngài,

và nếu ngài bị thua, ngài sẽ phải trở thành đệ tử của tôi.

Và một cách tự nhiên, khi tôi trở thành đệ tử của ngài tất cả đệ tử của tôi sẽ trở thành đệ tử của ngài

và cùng điều đó sẽ là đúng nếu ngài trở thành đệ tử của tôi

tất cả đệ tử của ngài sẽ trở thành đệ tử của tôi."

Mandan Mishra già nhìn chàng trai trẻ và ông ấy nói,

"Anh quá trẻ

và tôi cảm thấy đôi chút lưỡng lự

liệu có chấp nhận thách thức này hay không.

Nhưng nếu anh khăng khăng,

thế thì không có cách nào khác, ta phải chấp nhận nó.

Nhưng có vẻ không đúng khi một ông già bẩy mươi

người đã tranh cãi hàng nghìn cuộc tranh luận

lại tranh luận với một chàng trai trẻ ba mươi.

Nhưng để cân xứng, ta sẽ gợi ý một điều"

và đây là bầu không khí mà

có giá trị vô cùng

"để thay thế, ta sẽ cho anh cơ hội lựa chọn trọng tài

người sẽ quyết định.

Vì thế anh tìm trọng tài đi.

Và anh quá trẻ, và ta cảm thấy

rằng nếu anh bị thua

ít nhất anh nên có sự hài lòng

rằng trọng tài là lựa chọn của anh."

Bây giờ tìm trọng tài ở đâu?

Ông ấy đã nghe nói nhiều về vợ của Mandan Mishra.

Tên bà ấy là Bharti. Bà ấy cũng nhiều tuổi, sáu mươi lăm.

Ông ấy nói, "Tôi sẽ chọn vợ ngài làm trọng tài."

Đây là bầu không khí,

con người thế, yêu thương thế.

Trước tiên Mandan Mishra cho chàng trai cơ hội lựa chọn,

và sau đó anh ta lựa chọn vợ của chính Mandan Mishra!

Và Bharti nói, "Nhưng điều này

không đúng, tôi là vợ ông ấy,

và nếu anh bị thua

anh có thể nghĩ bởi vì

tôi có lẽ đã định kiến,

thiên về chồng tôi."

Shankara nói,

"Không có vấn đề

về bất kì nghi ngờ nào.

Tôi đã nghe nói về sự chân thật của bà.

Nếu tôi thua, tôi thua thôi.

Và tôi biết hoàn toàn rõ nếu chồng bà thua,

bà sẽ là người cuối cùng che giấu sự kiện đó."

Cuộc thảo luận diễn ra sáu tháng.

Từng điểm một

mà con người từng nghĩ về họ tranh luận, tranh cãi,

trích dẫn, diễn giải,

và sau sáu tháng người vợ nói

rằng, "Shankara được tuyên bố chiến thắng.

Mandan Mishra thua."

Hàng nghìn người nghe trong sáu tháng này.

Nó là kinh nghiệm tuyệt vời

khi nghe hai

nhà logic tinh tế đến thế,

và đây là

một kinh nghiệm vô cùng, rằng người vợ

đã tuyên bố Shankara là người chiến thắng.

Có sự im lặng lớn trong vài giây,

và rồi Bharti nói, "Nhưng xin nhớ

rằng ông chỉ

là người chiến thắng một nửa,

bởi vì theo kinh sách

vợ và chống tạo thành một tổng thể.

Tôi là một nửa của Mandan Mishra.

Ông đã đánh bại một nửa của tôi,

bây giờ ông sẽ phải thảo luận với tôi."

Shankara bối rối.

Sáu tháng ông ấy đã cố gắng hết sức;

nhiều lần ông ấy nghĩ tới từ bỏ

ông lão này thật sự

rất sắc sảo ngay cả ở tuổi già của ông ấy.

Không ai từng có thể đối lại Shankara trong sáu tháng,

và bây giờ người vợ nói rằng chiến thắng của ông ấy chỉ là một nửa.

Và Bharti nói, "Nhưng tôi cũng sẽ cho ông

cơ hội lựa chọn trọng tài của ông."

Ông ấy nói, "Tôi sẽ tìm ra ai là trọng tài tốt hơn Mandan Mishra đây?

Bởi vì các bạn là

những người giản dị và công bằng và chân thật thế.

Nhưng Bharti rất thông minh,

thông minh hơn Shankara từng tưởng tượng,

bởi vì bà ấy bắt đầu hỏi câu hỏi về khoa học tình dục.

Shankara nói, "Xin thứ lỗi cho tôi,

Tôi là người sống độc thân và tôi không biết gì về dục."

Bharti nói, "Thế thì ông sẽ phải chấp nhận thất bại của mình,

hoặc nếu ông muốn đôi chút thời gian

để học và kinh nghiệm,

tôi sẵn sàng dành cho ông đôi chút thời gian."

Ông ấy bị mắc vào

tình huống thật lạ lùng;

ông ấy đề nghị sáu tháng

và sáu tháng được trao. Rằng: "Ông có thể đi

học nhiều chừng nào ông có thể bởi vì đây sẽ là chủ đề

để bắt đầu, rồi sau đó, là những chủ đề khác.

Không dễ dàng, "Bharti nói với ông ấy, "để chiến thắng Mandan Mishra.

Một nửa dễ dàng hơn!

Nhưng tôi là người đàn bà cứng rắn hơn.

Nếu tôi có thể tuyên bố thất bại của chồng tôi,

ông có thể hiểu rằng tôi là người đàn bà cứng rắn.

Sẽ không dễ dàng đâu.

Nếu ông cảm thấy sợ đừng quay lại;

nếu không chúng ta sẽ đợi sáu tháng."

Bầu không khí này tiếp tục hàng nghìn năm.

Không có câu hỏi về chuyện tức giận,

không có câu hỏi về việc lăng mạ,

không có câu hỏi

về cố gắng chứng minh

rằng bạn đúng

bằng sức mạnh thể chất của bạn

hay bằng cánh tay của bạn

hay bằng quân đội của bạn.

Đây được xem là những phương pháp man rợ;

đây không dành cho người có văn hóa.

Nietzsche đã ở

nơi rất sai trong thời gian sai;

ông ấy đã không được những người đương đại hiểu.

Bây giờ, từ từ, quan tâm đang dần tăng lên về ông ấy;

ngày một nhiều người trở nên quan tâm tới ông ấy.

Có lẽ chắc đã tốt hơn cho ông ấy là

để trễ việc tới của ông ấy lại một chút.

Nhưng lúc để tới và lúc để đi không ở trong tay chúng ta.

Và những người thiên tài luôn luôn tới trước thời đại của họ.

Nhưng ông ấy nên

nhận chỗ đáng kính của mình

trong nhóm của Phật.

Ngày đó không còn xa.

Khi tất cả những cái gọi là triết gia vĩ đại khác của phương Tây

sẽ bị lãng quên, Friedrich Nietzsche sẽ vẫn được nhớ tới,

bởi vì ông ấy có chiều sâu

điều vẫn phải được thám hiểm,

và ông ấy có sáng suốt mà đã bị bỏ qua;

ông ấy đã bị gạt sang bên như người điên.

Cho dù ông ấy là người điên, điều đấy cũng không thành vấn đề.

Điều ông ấy nói là chân lý

tới mức nếu để có được những chân lí đó người ta phải trở nên điên,

điều đó hoàn toàn là một thoả thuận tốt.

Gần đây thầy đã nói về nguyện vọng tới sức mạnh.

Thầy đã giải thích tầm quan trọng của việc có nguyện vọng này,

khao khát này, trở thành thầy của chính bản thân mình.

Thầy cũng thường tuyên bố rằng mọi ham muốn

là lý do cơ bản cho thất vọng của con người.

Thầy có thể giải thích khác biệt giữa nguyện vọng và ham muốn?

Gyan Saahaba,

khác biệt giữa

nguyện vọng và ham muốn

là lớn lao,

mặc dù chúng có vẻ gần tương tự.

Ham muốn luôn luôn là vì cái gì đó.

Nhiều tiền hơn,

nhiều uy tín hơn,

nhiều kính trọng hơn,

nhiều tri thức hơn,

nhiều phẩm hạnh hơn,

chỗ tốt hơn trong kiếp sau

đây tất cả là ham muốn.

Ham muốn có thể hàng triệu,

bởi vì có hàng triệu thứ trong thế giới

cái có thể trở thành đối thể của ham muốn.

Ham muốn luôn cần đối thể.

Nguyện vọng không mang tính đối thể;

nó không muốn cái gì đó khác được thêm vào nó.

Nguyện vọng đơn giản là chính sinh lực của bạn,

cái muốn khẳng định bản thân nó

trong tính toàn bộ của nó,

trong tính toàn thể của nó,

để mang tất cả hoa đang ẩn kín trong bạn,

là bản thân bạn.

Nguyện vọng chỉ biết một điều

và đấy là bạn

và tương lai vàng của bạn.

Bạn, ngay bây giờ, chỉ là hạt mầm.

Nhưng bạn có thể trở thành

cây to lớn, chạm tới sao.

Vincent van Gogh,

một trong những họa sĩ Hà Lan quan trọng nhất,

cũng bị coi là người điên như Nietzsche

Ông ấy cũng phải sống trong nhà thương điên,

và ông ấy không là người gây hại;

chỉ bức vẽ của ông ấy là không tương ứng với ý tưởng của mọi người.

Kỳ lạ... trong thế giới này bạn thậm chí không tự do

để vẽ cái gì đó theo

ý tưởng riêng của bạn, điều không làm hại bất kì ai.

Ông ấy đã vẽ cây

dài tới mức sao bị bỏ lại xa phía sau

chúng vươn cao hơn những vì sao.

Một cách tự nhiên

mọi người hay hỏi ông ấy rằng, "Đây là hoàn toàn điên rồ.

Ông nhìn thấy cây vượt trên các vì sao ở đâu?"

Và điều

là câu trả lời của ông ấy luôn luôn

có ý nghĩa mênh mông.

Ông ấy thường nói,

"Với tôi, cây đại diện cho nguyện vọng của đất.

Đất đang cố vươn vượt ra ngoài các vì sao, và

bạn sẽ thấy một ngày nào đó

đất đã thành công.

Nó chỉ là bắt đầu,

đấy là lý do tại sao bạn không thấy cây cao đến vậy.

Nhưng tôi có thể thấy trước xa trong tương lai."

Nhưng chúng ta không thể thậm chí tha thứ cho nhà thơ,

chúng ta không thể tha thứ cho người nhìn xa trông rộng,

viễn kiến vô hại.

Nhưng ý tưởng hay làm sao

rằng đất muốn vượt ra ngoài các vì sao.

Điều đấy xác định ra nguyện vọng.

Ham muốn luôn luôn vì của cải.

Nguyện vọng luôn luôn vì tâm thức.

Nguyện vọng là sinh lực; ngọn lửa của chính bản thể của bạn.

Nó không muốn bất kì điều gì khác - nó đơn giản muốn bản thân nó

được hiện thực hoá trong tính toàn bộ của nó.

Nó không muốn vẫn còn là hạt mầm,

nó không muốn chỉ vẫn là giấc mơ;

nó muốn trở thành thực tại,

nó muốn trở thành

hiện tượng thực tế.

Gyan Saahaba,

Tôi có thể hiểu vấn đề của bạn.

Nó có thể nảy sinh trong tâm trí của nhiều người,

bởi vì tôi luôn nói chống lại ham muốn,

và trong khi nói về ZARATHUSTRA của Friedrich Nietzsche

tôi ủng hộ

toàn bộ ý tưởng của ông ấy về nguyện vọng.

Khi trên bụi hồng hoa bùng nở,

đấy là nguyện vọng.

Chúng được ẩn

bên trong bụi

và chúng đang cố đi

vào biểu lộ

cũng như Phật Gautam ẩn kín trong bạn,

hay một Zarathustra ẩn kín trong bạn

và đang cố

đi ra.

Bạn là hạt mầm.

Một khi ý tưởng này lắng đọng trong bạn,

bạn sẽ thấy bên trong hạt mầm

con rắn bắt đầu tự duỗi nó ra - đấy là nguyện vọng.

Nietzsche đã gọi nó là nguyện vọng tới sức mạnh.

Bản thân tôi muốn gọi nó

là nguyện vọng tới nhận biết,

nguyện vọng tới hiện thực hoá,

nguyện vọng trở thành bản thân mình một cách tuyệt đối.

Ham muốn

là điều rất nguy hiểm,

bởi vì bạn có thể bị mất hút trong ham muốn,

hàng triệu người bị mất hút.

Và khu rừng của ham muốn là rất dày,

và không có kết thúc; cái này tiếp cái khác

bạn sẽ thấy ham muốn và ham muốn và ham muốn.

Và không ham muốn nào hoàn thành.

Mọi ham muốn chỉ cho bạn thất vọng mới,

mọi ham muốn đều cho bạn ham muốn mới.

Nhưng

toàn bộ quá trình ham muốn này lấy đi năng lượng của bạn

trong việc trở thành nguyện vọng tới nhận biết,

nguyện vọng mang tiềm năng của bạn

vào việc nở hoa,

vào biểu lộ tối thượng của nó.

Ham muốn đi lạc khỏi nguyện vọng.

Và nỗ lực của tôi ở đây là kéo bạn trở lại từ nguyện vọng của bạn,

từ ham muồn của bạn

thành một nguyện vọng duy nhất

cái nguyện vọng muốn biết bản thân bạn,

cái nguyện vọng muốn là chính bản thân bạn, cái nguyện vọng

muốn bất kì cái gì ẩn kín trong bạn nên trở thành hiển lộ.

Mendel tiết kiệm nhiều năm

để mua bộ vét may sẵn thật đẹp,

bộ âu phục đầu tiên của anh ấy,

nhưng sau khi anh ấy đi ra ngoài trong bộ âu phục khoảng một giờ hoặc hơn

anh ấy nhận thấy có gì đó sai với nó.

Anh ấy quay trở lại thợ may.

"Tay áo quá dài," Mendel nói.

"Không vấn đề gì. Cứ thò tay của bạn ra ngoài nhiều hơn

và gập khuỷa tay lại."

'Nhưng ống quần quá dài."

"Phải, không vấn đề gì. Đi cùng với đầu gối gập lại."

"Cổ áo quá cao;

nó cao quá nửa gáy đầu tôi."

"Được rồi. Cứ nhô đầu bạn ra ngoài hơn chút."

Và thế là Mendel đi ra ngoài thế giới

với bộ âu phục may sẵn của anh ấy.

Khi anh ấy đang đi ngang qua một cặp trên phố người đàn bà nói,

"Nhìn người đàn ông đáng thương kia kìa, anh ấy hẳn bị bại liệt."

Người đàn ông nói, "Nhưng anh ta đang mặc một bộ âu phục đẹp làm sao!"

Ham muốn của bạn

có thể cho bạn bộ âu phục đẹp,

nhưng chúng cũng sẽ khiến bạn chịu đựng bệnh bại liệt;

mọi thứ sẽ sai đi.

Ham muốn của bạn sẽ không cho phép bạn

đơn giản là bản thân bạn,

đích xác là định mệnh của bạn.

Nguyện vọng là khao khát

để đạt tới định mệnh của người ta.

Được chứ Maneesha?

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập