Bạn đang ở: Trang chủ Trích đoạn Nhận biết và chứng ngộ Các khái niệm trong cuộc sống Tính như thế và Đức tín
 
 
Các khái niệm trong cuộc sống

Tính như thế và Đức tín

Có một câu chuyện cổ về một Thiền sư... Mọi đêm nhà vua thường vi hành trá hình quanh kinh đô, để xem liệu mọi thứ có bình an vô sự không hay có rắc rối nào đó mà ông ấy đã không được phép biết. Ai đó có bị khổ không? - nếu ông ấy có thể làm cái gì đó, ông ấy muốn biết trực tiếp điều đó, không qua nhiều người trung gian và hệ thống quan liêu.

Ông ấy luôn luôn phân vân bởi một người rất đẹp, rất im lặng bao giờ cũng đứng dưới cây. Bất kì giờ nào trong đêm ông ấy đi, người này bao giờ cũng đứng đó im lặng, giống hệt tượng đá hoa. Một cách tự nhiên, tò mò nảy sinh, và chung cuộc ông ấy không thể cưỡng được cám dỗ hỏi người này anh ta đang canh gác cái gì. Ông ấy không thể thấy được rằng người đó có cái gì... thực ra người đó đang đứng trần trụi.

Người thanh niên cười và nói, "Tôi đang canh gác bản thân tôi; tôi không có bất kì cái gì khác. Nhưng bản thân việc canh gác - tỉnh táo và nhận biết và thức tỉnh - là kho báu lớn nhất. Ngài có nhiều, nhưng ngài không có người gác."

Nhà vua phân vân, nhưng bị mê say bởi cái đẹp của người này và bởi thẩm quyền của lời anh ta. Mọi đêm họ thường nói chuyện một chút ít, và dần dần, dần dần tình bạn lớn nảy sinh. Sư trần trụi không bao giờ hỏi, "Ông là ai?"

Nhà vua hỏi anh ta, "Tôi đã từng hỏi anh nhiều câu hỏi - anh là ai, anh đã tới từ đâu, anh đang làm gì, kỉ luật của anh là gì - nhưng anh không bao giờ hỏi tôi, 'Ông là ai?'"

Người thanh niên nói, "Nếu ông biết ông là ai, ông chắc đã không hỏi những câu hỏi này. Tôi không muốn làm bẽ mặt ông - tôi đơn giản chấp nhận ông là bất kì ai. Tôi không bao giờ hỏi cây, tôi không bao giờ hỏi con vật, chim muông, tôi không bao giờ hỏi sao - tại sao tôi phải hỏi ông? Điều hoàn toàn tốt là ông hiện hữu, và tôi hoàn toàn thoải mái với ông và với mọi thứ."

Câu hỏi là sự không thoải mái, nó là căng thẳng; nó nảy sinh sâu bên dưới từ sợ. Người ta muốn biết người khác, vì người khác có thể biến thành kẻ thù, có thể biến thành điên. Người khác phải được làm thành dự đoán được, thế thì người ta cảm thấy thoải mái. Nhưng bạn có thể làm cho bất kì ai thành dự đoán được không?

Người thanh niên nói, "Không cái gì có thể được dự đoán. Mọi thứ liên tục chuyển vào trong điều huyền bí ngày càng nhiều hơn, và tôi hoàn toàn thoải mái; bất kì cái gì xảy ra đều là niềm vui. Từng khoảnh khắc sao dịu ngọt thế và thơm hương thế, tôi không thể đòi hỏi nhiều hơn. Dù ông là bất kì ai, ông là tốt. Tôi yêu ông, tôi yêu mọi người... Tôi đơn giản yêu. Tôi không biết bất kì cách nào khác để có quan hệ với sự tồn tại."

Đây là đức tín: không biết cách khác để có quan hệ với sự tồn tại ngoại trừ yêu, ngoại trừ chấp nhận toàn bộ - cái một như thế.

Nhà vua bị ấn tượng thế. Ông ấy biết rõ rằng người đã từ bỏ thế giới, thậm chí từ bỏ quần áo của mình, và trong đêm mùa đông lạnh vẫn ra đứng một mình trong im lặng, nhất định từ chối lời mời của ông ấy - một mong đợi đơn giản của bất kì con người nào. Nhưng ông ấy nói, "Tôi đã rơi vào yêu mến ông nhiều tới mức cả ngày tôi chờ đợi để khi đêm tới và tôi đi một vòng. Tôi bao giờ cũng sợ rằng một ngày nào đó ông có thể không ở đây. Tôi muốn ông ở gần tôi hơn. Tôi có thể mời ông tới cung điện của tôi được không? Tôi sẽ thu xếp mọi thứ như ông muốn."

Thậm chí không có ngần ngại một khoảnh khắc và người này nói, "Đây là ý hay."

Nhà vua choáng. Người ta mong đợi từ thánh nhân rằng ông ấy đã từ bỏ thế giới, ông ấy không thể quay lại với thế giới được - và thánh nhân sẽ nổi lên trong tôn vinh và kính trọng trong con mắt của ông ấy. Nhưng người này nói, "Đây là ý thực hay! Tôi có thể đi cùng ông ngay bây giờ. Tôi không có bất kì cái gì để mang theo mình, không thu xếp nào phải được làm."

Nhà vua hoài nghi - có lẽ ông ấy đã bị lừa. Có lẽ người này không phải là thánh nhân; anh ta chỉ giả vờ và phải đã chờ đợi khoảnh khắc này. Nhưng bây giờ rất khó rút lại lời mời. Cho nên một cách buồn bã, ngần ngại, ông ấy phải mang người này, người mà ông ấy đã ham muốn nhiều thế, đã yêu nhiều thế, người đồng hành của ông ấy, sự hiện diện của người ấy, mắt người ấy, mọi cử chỉ của người ấy... Ông ấy cho anh ta cung điện tốt nhất nơi các khách của ông ấy, các vị vua và hoàng đế thường ở.

Ông ấy hi vọng rằng thánh nhân này sẽ nói, "Không, tôi không cần những giường vàng này và cung điện đá hoa này. Tôi là sư trần trụi, hoà điệu nhiều hơn với cây cối, với gió, với lạnh, với nóng." Nhưng thay vì điều này, người này trở nên rất quan tâm. Người này nói, "Hay lắm! Đây là đúng chỗ rồi!"

Nhà vua không thể ngủ được cả đêm, mặc dầu sư này ngủ cả đêm rất ngon trong những thứ xa hoa bao quanh. Từ sáng hôm đó sự kính trọng với sư này trong tâm trí nhà vua cứ giảm xuống mọi ngày, vì anh ta ăn thức ăn xa hoa, anh không còn ở trần, anh dùng những áo thụng đắt nhất. Anh ta không lo nghĩ về đàn bà - những người đàn bà đẹp nhất phục vụ anh ta và anh ta hoàn toàn thoải mái, dường như không cái gì đã xảy ra. Anh ta có vẻ hệt như anh ta đã ở trần dưới cây.

Nhưng điều đó là quá thể; điều đó trở thành vết thương trong tim nhà vua rằng mình đã thực sự bị lừa, bị bịp. Bây giờ, làm sao tống khứ người này đi? Anh ta không phải là thánh nhân.... Một hôm nhà vua hỏi anh ta, "Tôi đã từng mang một câu hỏi trong tâm trí tôi từ nhiều, nhiều ngày rồi, nhưng đã không đủ dũng cảm để hỏi."

Người này nói, "Tôi biết - không phải là nhiều, nhiều ngày đâu, mà từ chính khoảnh khắc khi tôi chấp nhận lời mời của ông."

Nhà vua lại choáng. Ông ấy nói, "Ông ngụ ý gì?"

Anh ta nói, "Tôi có thể thấy chính khoảnh khắc đó sự thay đổi trên mặt ông, trong mắt ông. Nếu như tôi bác bỏ lời đề nghị của ông, ông chắc đã kính trọng tôi, chạm chân tôi. Nhưng tôi không bác bỏ bất kì cái gì. Việc chấp nhận của tôi là toàn bộ. Nếu ông mời tôi, điều đó là hoàn toàn tốt. Khi tôi nói cung điện là đúng, không phải là cung điện là đúng, tôi là đúng dù bất kì chỗ nào tôi ở. Tôi đã đúng dưới cây trần trụi; tôi là đúng dưới những áo thụng hoàng gia này, được bao quanh bởi đàn bà đẹp, mọi thứ xa hoa. Một cách tự nhiên tôi biết ông phải rất phân vân. Ông có vẻ mệt mỏi, ông có vẻ buồn, ông không có vẻ là cái ngã cũ của ông. Ông có thể hỏi tôi câu hỏi, mặc dầu tôi biết câu hỏi đó."

Nhà vua nói, "Nếu ông biết câu hỏi, thế thì câu hỏi bây giờ là ở chỗ tôi muốn biết khác biệt gì giữa tôi và ông?"

Anh thanh niên cười và anh ta nói, "Tôi sẽ trả lời, nhưng không phải ở đây vì ông sẽ không hiểu nó. Chúng ta sẽ đi dạo buổi sáng, và tại đúng chỗ, vào đúng khoảnh khắc, tôi sẽ trả lời."

Thế là cả hai lên ngựa đi dạo buổi sáng, và nhà vua chờ đợi và chờ đợi. Đó là sáng đẹp, nhưng ông ấy không có đó để tận hưởng buổi sáng; chỉ anh thanh niên là tận hưởng. Chung cuộc nhà vua nói, "Bây giờ con sông này là biên giới của vương quốc của tôi. Bên ngoài con sông này tôi không thể đi được; chỗ đó thuộc vào ai đó mà chúng tôi đã từng là kẻ thù trong nhiều thế kỉ. Chúng ta đã cưỡi ngựa đi nhiều dặm đường, và bây giờ thế là đủ thời gian rồi. Trời đang nóng lên, giữa ngày rồi."

Người này nói, "Vâng, câu trả lời của tôi là - đây là áo thụng của ông, đây là ngựa của ông" - và xuống ngựa, anh ta cởi áo thụng ra. Anh ta nói, "Tôi đi sang bên kia sông, vì tôi không có kẻ thù nào. Áo thụng này không bao giờ là của tôi, và ngựa này không bao giờ là của tôi. Chỉ một câu hỏi nhỏ: Ông có tới cùng tôi hay không?"

Nhà vua nói, "Làm sao tôi có thể tới cùng ông được? Tôi phải chăm nom vương quốc. Công việc của cả đời tôi, vật lộn, chiến đấu, tham vọng ở sau tôi trong vương quốc. Làm sao tôi có thể đi cùng ông được?"

Người này nói, "Đó là khác biệt. Tôi có thể đi - tôi không có bất kì cái gì trong cung điện, tôi không có bất kì cái gì để mất, không cái gì thuộc vào tôi. Chừng nào nó sẵn có, tôi tận hưởng cái như thế của nó. Bây giờ tôi sẽ tận hưởng cây dại, sông, mặt trời."

Nhà vua, dường như thức dậy từ ác mộng, lại có thể thấy rằng mình đã sai lầm. Người kia đã không lừa ông ấy; anh ta đích thực là con người của việc nhận ra. Ông ấy nói, "Tôi xin ông tha thứ. Tôi chạm chân ông. Đừng đi, bằng không tôi sẽ không bao giờ có khả năng tha thứ cho bản thân tôi."

Anh thanh niên nói, "Với tôi không có vấn đề gì. Tôi có thể quay lại, nhưng ông sẽ vẫn bắt đầu hoài nghi, cho nên tốt hơn cả là ông để tôi đi. Tôi sẽ chỉ đứng bên bờ sông dưới cây đẹp kia. Bất kì khi nào ông muốn tới ông có thể tới - ít nhất tới bờ kia - và nhìn tôi. Tôi không có vấn đề gì trong việc quay lại, nhưng tôi không quay lại vì tôi không muốn quấy rối đêm và ngày của ông, và tạo ra căng thẳng và lo nghĩ."

Anh ta càng trở nên ngần ngại, nhà vua càng bắt đầu cảm thấy tiếc và buồn, mặc cảm về điều ông ấy đã làm. Nhưng sư trẻ nói, "Ông có thể không hiểu tôi vì ông không hiểu kinh nghiệm về tính như thế: bất kì chỗ nào ông hiện hữu, ông đều ở trong mối quan hệ yêu sâu sắc với mọi thứ đang có đó. Ông không phải thay đổi bất kì người nào, ông không phải thay đổi bất kì cái gì, ông không phải thay đổi bản thân ông. Mọi thứ là như nó phải vậy; nó là thế giới hoàn hảo nhất.

"Đây là đức tín của tôi, đây không phải là niềm tin của tôi. Không phải là tôi tin nó là vậy, nó là điều tôi trải nghiệm nó là vậy."

Cho nên 'đức tín' trong thế giới của Phật Gautam và các đệ tử của ông ấy có chiều khác toàn bộ, ý nghĩ khác. Nó không phải là niềm tin. Niềm tin bao giờ cũng vào một khái niệm - Thượng đế, cõi trời, địa ngục, thượng đế học nào đó, hệ thống ý tưởng nào đó. Niềm tin là của tâm trí và đức tín là của toàn thể bản thể bạn. Niềm tin được vay mượn, đức tín là kinh nghiệm trực tiếp riêng của bạn. Bạn có thể tin vào Thượng đế, nhưng bạn không thể có đức tín vào Thượng đế. Bạn có thể có đức tín vào câu cối, nhưng bạn không thể tin tưởng vào cây cối.

Đức tín có tính tồn tại, kinh nghiệm.

 

Cho nên cả hai từ này là cực kì có ý nghĩa cho mọi người không trong tìm kiếm việc làm nặng gánh bản thân họ bằng nhiều tri thức hơn, nhiều thông tin hơn, mà là việc tìm kiếm đích thực để biến đổi toàn thể cách tiếp cận của họ tới sự tồn tại.

Từ "Thiền sư lớn Đại Huệ"

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập