Bạn đang ở: Trang chủ Trích đoạn Công phu và nguyên lý Thiền Lục tổ Huệ Năng
 
 
Thiền

Lục tổ Huệ Năng

Rời khỏi chỗ của Tổ thứ năm, Huệ Năng đi về phương nam trong hai tháng và tới Đại Du Lãnh. Ông ấy bị Đạo Minh đuổi theo, ông này nguyên là tướng, đi cùng vài trăm người, muốn đoạt y bát (biểu tín của việc kế tục Tổ).
 
Trong Thiền, mọi tổ đều trao y và bát của mình cho người kế tục mình, và một cách tự nhiên có tranh giành lớn và nhược điểm của con người, ghen tị....
Người này, Đạo Minh, là người rất có học, theo mọi cách là rất có văn hoá. Ông ấy đã từ bỏ chức tướng, và đã trở thành đệ tử; ông ấy đã công phu trong thời gian dài. Nhưng thầy đã chọn một người rất kì lạ, Huệ Năng, làm người kế tục của thầy. Trong tu viện của thầy, đã có ít nhất mười hai nghìn sư, và không một người nào đã nghĩ rằng Huệ Năng sẽ trở thành người kế tục.
Thành tựu duy nhất của Huệ Năng là ở chỗ từ khi ông ấy tới, hai mươi năm trước, ông ấy đã vo gạo cho mười hai nghìn sư từ sáng tới khuya trong đêm. Trong hai mươi năm ông ấy đã không làm bất kì cái gì khác. Ông ấy không bao giờ dự bất kì bài nói nào của thầy, ông ấy không bao giờ đọc bất kì kinh sách nào - thực ra ông ấy là người thất học. Ông ấy là một dân làng, nhưng là một người có quyết tâm vô cùng.
Ngày ông ấy được khai tâm, Huệ Năng hỏi thầy, "Thầy cần tôi làm gì?"
Thầy nói, "Xuống làm bếp, giã gạo và không bao giờ quay lại ta" - và ông ấy không bao giờ quay lại. Hai mươi năm của chờ đợi im lặng... vì thầy đã nói, "Nếu cần, ta sẽ tới ông. Nhưng ông phải không bao giờ ló mặt ra với ta. Ông đơn giản giã gạo từ sáng tới đêm, thế rồi đi ngủ; lại giã gạo, rồi đi ngủ."
 
Bạn có thể hiểu, hai mươi năm chỉ giã gạo và đi ngủ, tâm trí ông ấy trở nên im lặng. Không thiền nào được cần. Ông ấy không bao giờ tới dự bất kì bài giảng nào - không có thời gian. Không ai nói với ông ấy vì ông ấy bị coi là thuộc loại thấp nhất, chỉ là dân làng nghèo không biết gì, và ông ấy không bao giờ hỏi bất kì cái gì từ bất kì ai. Mọi người đi qua ông ấy dường như ông ấy không có đó. Ông ấy bị coi là đương nhiên có đó.
Ngày thầy rời khỏi thân thể mình tới, và thầy nói, "Trước khi ta rời khỏi thân thể ta muốn chọn người kế tục ta. Cách ta chọn là thế này: bất kì ai biết câu trả lời đúng phải tới trong đêm và viết nó lên cửa nhà ta; nếu câu trả lời là đúng, người đó sẽ nhận được y bát của ta."
Ông cựu tướng này, Đạo Minh, chắc chắn là người quan trọng nhất của toàn thể những người theo thầy, và mọi người tưởng rằng ông ấy sẽ là người chiến thắng. Cho nên trong đêm ông ấy tới và ông ấy viết lên cửa, "Vô trí là câu trả lời." Nhưng ông ấy sợ thầy - sợ rằng nếu nó bị thấy là sai, ông ấy sẽ bị đánh đau - tới mức ông ấy đã không kí lên nó. Ông ấy nghĩ, "Nếu nó là đúng, ta sẽ tuyên bố rằng ta đã viết nó; nếu nó là sai thế thì tốt hơn cả là giữ im lặng."
Đến sáng khi thầy thức dậy, thầy nói, "Thằng ngốc đó là ai?" Nghe thấy điều này, Đạo Minh trốn khỏi tu viện - ai đó có thể thông báo cho thầy vì vài người đã có ý tưởng này... họ đã nhìn ra xem ai định viết. Thực ra chính hiểu biết chung là đấy là do Đạo Minh!
Hai sư, sau khi ăn cơm, chỉ đi qua Huệ Năng và thảo luận, nói, "Thầy quá nghiêm. Câu trả lời này dường như đúng: "vô trí" là toàn thể triết lí của Phật Gautam. Cái gì hơn còn có thể được nói?" Mọi người đã hoàn toàn quên mất rằng Huệ Năng thậm chí nói; trong hai mươi năm ông ấy đã không nói lấy một lời với bất kì ai. Ông ấy đơn giản làm công việc của mình, sẽ đi ngủ, thức dậy, lại bắt đầu công việc. Hôm đó, nghe thấy hai sư này nói rằng câu trả lời dường như đúng và thầy lại quá nghiêm, ông ấy cười. Hai sư đó dừng lại và họ nói, "Sao ông cười?"
Ông ấy nói, "Bất kì ai viết điều đó đều là kẻ ngốc." Đây đích xác là điều thầy đã nói, "Ai là kẻ ngốc đã bôi bẩn cửa nhà ta?" Các sư đó không thể tin được vào điều đó, nhưng họ thông báo lại cho thầy rằng một người có tên là Huệ Năng, người mà thầy từ hai mươi năm trước đã cho xuống làm bếp, đã nói đích xác cùng điều: "Bất kì ai đã viết điều này đều là kẻ ngốc."
Thầy nói, "Ta biết. Ông ấy là người duy nhất... Ta đã hi vọng rằng ông ấy sẽ tới và viết câu trả lời. Nhưng ta quên hoàn toàn rằng ngay điều đầu tiên ông ấy là không tham vọng; điều thứ hai ông ấy không thể viết được, ông ấy thất học; điều thứ ba ta đã cấm ông ấy: `Bất kì khi nào thời gian tới ta sẽ tới ông, ông phải vẫn còn trong công việc ta đã trao cho ông. Không bao giờ ló mặt ra.'"
Ngay giữa đêm thầy tới, đánh thức Huệ Năng dậy, đưa cho ông ấy y bát và nói, "Bây giờ trốn đi, vì ông là người đơn giản. Có tranh giành lớn, và có những người nguy hiểm - người kia Đạo Minh đã từng là tướng, ông ấy là chiến binh. Họ sẽ cố gằng lấy y bát, cho nên ông đơn giản trốn đi xa nhất có thể được."
Huệ Năng nói, "Nhưng tôi không biết gì cả. Hơn nữa, tôi đã không phạm tội lỗi nào. Tại sao thầy làm tôi thành người kế tục của thầy? Tại sao tôi không thể được bỏ lại để sống một cách an bình? Thầy có thể tìm ra... nhiều người hăm hở, muốn là người kế tục, tại sao thầy làm phiền tôi?"
Nhưng thầy nói, "Đây là lí do tại sao ta làm phiền ông: người không quan tâm chút nào là người đúng. Người không có tham vọng là xứng đáng. Người có thể từ chối tầng cao nhất trong truyền thống của Thiền là việc làm Tổ sư, thầy của các thầy..."
Huệ Năng vẫn cố thuyết phục ông ấy, "Cứ để tôi giã gạo và đừng quấy rối giấc ngủ của tôi! Tôi mệt rồi và đến sáng tôi phải bắt đầu lại công việc của tôi, và chỉ nghĩ tới mười hai nghìn sư và cơm của họ..."
Thầy nói, "Dừng mọi điều này lại! Nếu mọi người trở nên nhận biết rằng ta đã chọn ông, họ sẽ giết ông. Cứ cầm lấy bát này và y này và chạy xa đi, vì sáng mai ta sẽ chết, và trước điều đó ta muốn ông ở xa nhiều dặm đường." Đó là cách Huệ Năng đã được chọn là người kế tục.
Những người kì lạ... và kì lạ là câu chuyện của họ, nhưng cực kì quan trọng. Huệ Năng này đã bị Đạo Minh, cựu tướng, đuổi theo với hàng nghìn người, để bắt giữ ông ấy và đoạt lấy y bát để cho Đạo Minh có thể tuyên bố bản thân mình là thầy. Đây là bối cảnh của câu chuyện.
Minh là người đầu tiên đuổi kịp Huệ Năng, và có nhiều người khác cũng đi theo. Tổ thứ sáu để y bát trên tảng đá nói: Y này có ý nghĩa đức tín, há có thể dùng sức tranh giàng ư? Ông cứ lấy đi. Đức tín không thể được lấy bằng sức mạnh. Đức tín trưởng thành chỉ trong khí hậu của yêu. Đức tín là việc nở hoa cao nhất; nó không thể bị lấy đi bởi sức mạnh.
"Vậy đây là y và đây là bát. Nhưng nhớ lấy, y này có ý nghĩa đức tín, và ông chỉ là tướng - ông biết cách thức của sức mạnh, ông không biết cách thức của yêu. Há có thể dùng sức tranh giành ư? Nếu ông có thể lấy nó bằng sức mạnh, lấy đi."
Đạo Minh tận sức giở lên không nổi. Điều đó dường như hư cấu, nhưng trong kinh nghiệm sâu sắc nhất của cái ta riêng của tôi, tôi không nghĩ nó là hư cấu. Tôi có giải thích riêng của tôi về tại sao nó đã xảy ra... Huệ Năng là con người của an bình và im lặng, con người không có ham muốn nào, và khi người như vậy nói, người đó nói với thẩm quyền, lời của người đó là sức mạnh thuần khiết. Và khi ông ấy nói, "Bát này và y này đại diện cho đức tín, và đức tín không thể bị lấy bởi sức mạnh," chính phát biểu của ông ấy đã làm yếu Đạo Minh.
Đạo Minh biết hoàn toàn rõ rằng ông ấy không có đức tín, ông ấy chỉ biết sức mạnh là gì. Điều đó phải đã làm yếu toàn thể ý chí của ông ấy. Nó không phải là phép màu; nó là sự kiện tâm lí đơn giản. Ông ấy đã cố nhặt nó lên... nhưng ông ấy phải đã cố mà biết hoàn toàn rõ rằng ông ấy không thể nhặt được nó lên.

Có một chỗ gần con sông đẹp, Narmada, nơi có ngôi đền Shiva. Bên ngoài mọi ngôi đền Shiva là cận vệ của ông ấy, con bò đực; còn bò ngồi bên ngoài ngôi đền. Có câu chuyện rằng bên dưới con bò tại ngôi đền đặc biệt đó - nó là ngôi đền cổ - có một không gian nhỏ mà bạn có thể đi qua... nhưng chỉ nếu bạn có đức tín.

Tôi đã đi tới đó cùng người bạn, một giáo sư - đầy hoài nghi, mặc dầu ông ấy cũng không béo. Khi tôi bảo ông ấy, "Thử đi qua không gian nhỏ này bên dưới con bò," ông ấy nói, "Tôi không thấy có vấn đề gì. Vì tôi không phải là người béo, tôi có thể qua được."

Tôi nói với ông ấy, "Ông không thể qua được đâu, vì chừng nào ông chưa có đức tín... Vấn đề không phải là béo hay gầy; tôi đã thấy người béo đi qua nó, và tôi đã thấy người gầy bị mắc kẹt."

Ông ấy nói, "Nó toàn là vô nghĩa, tôi sẽ cho ông xem." Nhưng ngay cả khi ông ấy đang nói điều đó, sâu bên trong ông ấy đã run. Một đám đông bu lại, điều làm cho việc đó thậm chí còn đáng sợ hơn, và ông ấy bị mắc ở giữa. Ông ấy bắt đầu kêu lên - "Giúp tôi với!"

Tôi nói, "Trong vấn đề về đức tín, không ai có thể giúp được. Thử logic của ông, thử lí trí của ông, thử luận cứ của ông xem." Và mọi người cười! Họ cười vì ông ấy gầy thế, tại sao ông ấy bị mắc kẹt? Ông ấy chỉ mất dũng khí. Ông ấy biết hoàn toàn rõ ông ấy không có đức tín, ông ấy không có tin cậy, ông ấy đầy hoài nghi - ông ấy là hoài nghi và không cái gì khác. Ông ấy biết hoàn toàn rõ trong chiều sâu tâm của ông ấy rằng ông ấy không thể qua được.

Tôi phải kéo ông ấy ra - tất nhiên là từ phía sau, "vì," tôi nói, "từ phía trước tôi không thể kéo được, vì tôi không thể đi ngược lại qui tắc." Cho nên tôi phải kéo chân ông ấy, lùi lại. Ông ấy có vẻ rất kì lạ.

Ông ấy nói, "Tôi có thể thấy rằng không gian là đủ, nhưng cái gì đó bên trong tôi đơn giản chịu thua. Tôi đơn giản mất dũng khí." Bản thân tôi đã đi qua không gian nhỏ đó, và tôi ít nhất cũng gấp đôi trọng lượng của ông giáo sư này.

Có những thứ mà có thể có vẻ như hư cấu nếu bạn không hiểu con người và tâm lí con người. Với tôi đây không phải là hư cấu, đây là sự kiện lịch sử. Nó phải đã xảy ra. Lời của Huệ Năng phải đã tạo ra bầu không khí, bầu khí hậu, tới mức Đạo Minh mất sức mạnh ý chí của ông ấy. Ông ấy đã thử, nhưng ông ấy không có sức mạnh. Ông ấy đột nhiên trở nên bất lực.

 
Đạo Minh tận sức giở lên không nổi mới kinh hãi thưa: "Tôi nay cầu pháp chứ chẳng vì cầu y bát, xin hành giả khai thị."
Tổ nói, "Vì ông cầu pháp, ông phải dẹp mọi động lực, và không sinh ý, và ta sẽ giải thích cho ông." Sau khi im lặng, Huệ Năng nói: "Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay lúc ấy cái gì là bản lai diện mục của ông?"
 
Khi không có chuyển động của ý nghĩ, ham muốn, động lực - vào khoảnh khắc như vậy bạn hiện hữu, trong sự thuần khiết nguyên thuỷ của bạn. Và biết mặt nguyên thuỷ, bản lai diện mục là biết tất cả.
 
Đạo Minh ngay đó đại ngộ, toàn thân xuất mồ hôi, rơi lệ đảnh lễ rằng: "Ngoài mật ý mật ngữ kể trên, còn có ý chỉ nào nữa chăng?" Huệ Năng nói: "Nay vì ngươi nói ra thì chẳng phải mật ý rồi." - tạo ra khoảng cách.
Thân mật không phải là trao đổi.
Thân mật là truyền từ tâm sang tâm...
Trong im lặng, trong yêu, trong an bình.
Không cái gì được nói, không cái gì được nghe, nhưng mọi thứ được hiểu... đó là thân mật.
"Nay vì ngươi nói ra thì chẳng phải mật ý rồi. Ngươi nếu tự phản chiếu diện mục mình thì mật ở bên ngươi." - nó không ở ngoài ông. Ông là thân mật nhất với bản thân ông; không ai có thể gần ông hơn bản thân ông. Người nào đó có thể tới với ông dù gần bao nhiêu, sự gần gụi đó vẫn là khoảng cách. Chỉ ông mới là thân mật.
Minh nói, "Mặc dù tôi ở Hoàng Mai, tôi chưa bao giờ thực sự có cái nhìn sâu." - ông ấy đã thừa nhận rằng mặc dầu ông ấy đã ở trong tu viện trong nhiều năm nghiên cứu, lập kỉ luật cho bản thân ông ấy, ông ấy không bao giờ có bất kì sáng suốt thực nào - "vào mặt riêng của mình. Giờ, đương đầu với khai thị của ngài, tôi giống như người được uống nước, người biết cho bản thân mình nước là lạnh hay ấm."
 
Từ "Thiền sư lớn Đại Huệ"
 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập