Bạn đang ở: Trang chủ Trích đoạn Công phu và nguyên lý Mật tông Vô âm và toàn âm, phủ định và khẳng định
 
 
Mật tông

Vô âm và toàn âm, phủ định và khẳng định

 Drop in the Ocean - Beyond Horizons

Niệm một âm thanh, như aum, một cách chậm rãi. Như âm thanh đi vào toàn âm, ông cũng vậy.

 

Niệm một âm thanh, như aum, một cách chậm rãi. Chẳng hạn, lấy âm Aum. Đây là một trong những âm cơ sở. A-U-M: ba âm thanh này được tổ hợp lại trong nó. A-U-M là ba âm cơ sở. Mọi âm thanh được tạo ra từ chúng; mọi âm thanh là tổ hợp của ba âm thanh này. Cho nên ba âm thanh này là cơ cở. Chúng là cơ sở trong vật lí như điện tử, nơ tron và proton là cơ sở. Điều này phải được hiểu sâu sắc.

Gurdjieff nói về "Luật phân ba". Ông ấy nói sự tồn tại theo nghĩa tuyệt đối là một. Theo nghĩa tuyệt đối, theo nghĩa tối thượng, chỉ có một. Nhưng đó là tuyệt đối, và bất kì cái gì chúng ta thấy đều là tương đối. Bất kì cái gì chúng ta thấy không bao giờ là tuyệt đối; cái tuyệt đối bao giờ cũng ẩn kín. Nó không thể được thấy, vì khoảnh khắc chúng ta nhìn cái gì đó, nó bị phân chia. Nó bị chia ra thành ba: người thấy, cái được thấy, và mối quan hệ. Tôi đang thấy bạn: tôi ở đây, bạn ở kia, và giữa hai người có mối quan hệ tri thức, về việc thấy, về cái nhìn, về nhận diện. Quá trình này bị phân chia thành ba. Cái tuyệt đối bị phân chia thành ba; khoảnh khắc nó được biết nó trở thành ba. Không được biết, nó vẫn còn là một. Được biết, nó trở thành ba. Cái được biết là tương đối; cái không biết là tuyệt đối.

Cho nên ngay cả việc nói của chúng ta về cái tuyệt đối là không tuyệt đối, vì khoảnh khắc chúng ta nói “cái tuyệt đối," nó đã trở thành được biết. Bất kì cái gì chúng ta biết, ngay cả từ `tuyệt đối' là tương đối. Đó là lí do tại sao Lão Tử nhấn mạnh nhiều thế rằng chân lí không thể được nói ra. Khoảnh khắc bạn nói nó, nó đã trở thành không đúng vì nó đã trở thành tương đối. Cho nên bất kì từ nào chúng ta dùng - chân lí, cái tuyệt đối, para-brahma, Đạo - bất kì từ nào chúng ta dùng, khoảnh khắc chúng ta dùng nó, nó đã trở thành tương đối và nó đã trở thành không đúng. Cái một đã trở nên bị phân chia thành ba.

Cho nên Gurdjieff nói rằng "Luật phân ba" là cơ sở cho vũ trụ mà chúng ta biết. Và nếu chúng ta đi sâu chúng ta sẽ thấy, chúng ta nhất định tìm thấy, rằng mọi thứ sẽ được thu lại thành ba. Đây là "Luật phân ba". Người Ki tô giáo đã gọi nó là ba ngôi - Thượng đế cha, Jesus con, và Thánh thần linh thiêng. Người Ấn Độ đã gọi nó là trimurti: ba mặt của Brahma, Vishnu, Mahesh hay Shiva. Bây giờ vật lí học nói rằng nếu chúng ta chuyển động, nếu chúng ta liên tục chuyển động qua phân tích tới chính cơ sở, thế thì vật chất sẽ bị thu lại thành ba: điện tử, nơ tron và proton.

Các nhà thơ đã nói rằng nếu chúng ta đi sâu vào tìm cảm giác thẩm mĩ, xúc động của con người, thế thì có satyam, shivam, sundaram - cái đúng, cái thiện và cái đẹp. Cảm giác con người dựa trên ba điều này. Các nhà huyền bí đã nói rằng nếu chúng ta phân tích cực lạc, samadhi, thế thì có sat-chit-ananda - sự tồn tại, tâm thức và phúc lạc.

Toàn thể tâm thức con người, theo bất kì chiều nào nó làm việc, đều đi tới "Luật phân ba". `Aum' là biểu tượng của "Luật phân ba". A-U-M: ba âm này là âm thanh cơ sở. Âm thanh nguyên tử, bạn có thể gọi chúng vậy. Ba âm thanh này đã được tổ hợp lại trong Aum, cho nên Aum ở ngay gần với cái tuyệt đối, ở ngay sau nó là cái tuyệt đối, cái không biết. Và Aum là trạm cuối cùng khi có liên quan tới âm thanh. Nếu bạn di chuyển ra ngoài Aum, bạn di chuyển ra ngoài âm thanh; thế thì không có âm thanh. A-U-M: ba âm này là cuối cùng, chúng ở biên giới của sự tồn tại. Bên ngoài ba âm này bạn chuyển vào trong cái không biết, trong cái tuyệt đối.

Các nhà vật lí nói rằng bây giờ chúng ta đã đi tới điện tử, dường như chúng ta đã đi tới giới hạn, tới chính giới hạn, vì điện tử không thể được gọi là vật chất. Điện tử là không thấy được; chúng không có tính chất vật chất. Và chúng không thể được gọi là phi vật chất nữa vì mọi vật chất đều bao gồm chúng, được cấu thành từ chúng. Nếu chúng không là vật chất không là phi vật chất, gọi chúng là gì? Không người nào đã thấy điện tử, chúng chỉ được suy luận ra; điều được giả thiết về mặt toán học là chúng có đó. Hiệu quả của chúng được biết tới, nhưng chúng không được nhìn thấy. Bây giờ chúng ta không thể di chuyển được ra ngoài chúng. "Luật phân ba" là giới hạn, và nếu bạn đi ra ngoài "Luật phân ba" bạn di chuyển vào trong cái không biết. Không cái gì có thể được nói. Ngay cả về điện tử rất ít điều có thể được nói.

Aum là giới hạn khi có liên quan tới âm thanh, bạn không thể di chuyển ra ngoài. Đó là lí do tại sao Aum đã được dùng nhiều thế, ở Ấn Độ, và trên khắp thế giới. 'Amen' của người Ki tô giáo-Mô ha mét giáo không là gì ngoài Aum dưới dạng khác; cùng các nốt cơ sở có đó. Từ tiếng Anh 'omnipresent', 'omnipotent', 'omniscient' chứa nó: tiền tố 'omni' bắt nguồn từ Aum. Cho nên 'omnipresent' nói tới cái hiện diện trong toàn thể Aum, trong toàn thể sự tồn tại. 'Omnipotent' nghĩa là cái tuyệt đối có năng lực. 'Omniscient' nghĩa là cái đã từng là Aum, cái toàn thể, "Luật phân ba". Toàn thể vũ trụ tới dưới nó.

Người Ki tô giáo, người Mô ha mét giáo, đã từng dùng sau lời cầu nguyện của họ 'Amen'. Nhưng người Hindu đã làm ra một khoa học đầy đủ từ nó - khoa học về âm thanh và khoa học về cách siêu việt trên âm thanh. Và nếu tâm trí là âm thanh, thế thì vô trí phải là vô âm, hay - và cả hai có cùng nghĩa - toàn âm.

Điều này phải được hiểu. Cái tuyệt đối có thể được mô tả theo một trong hai cách - phủ định hoặc khẳng định. Cái tương đối phải được mô tả theo cả hai cách - phủ định và khẳng định: nó là nhị nguyên. Khi bạn cố diễn đạt cái tuyệt đối, bạn có thể dùng hoặc thuật ngữ khẳng định hoặc thuật ngữ phủ định, vì ngôn ngữ con người có hai kiểu thuật ngữ - phủ định và khẳng định. Khi bạn định mô tả cái tuyệt đối, cái không thể mô tả được, bạn phải dùng thuật ngữ nào đó một cách biểu tượng. Cho nên điều đó tuỳ vào tâm trí.

Chẳng hạn, Phật thích dùng thuật ngữ phủ định. Ông ấy sẽ nói vô âm; ông ấy không bao giờ nói toàn âm. 'Toàn âm' là thuật ngữ khẳng định. Phật sẽ nói vô âm, nhưng mật tông dùng thuật ngữ khẳng định. Toàn thể suy nghĩ của mật tông là khẳng định. Đó là lí do tại sao thuật ngữ được dùng ở đây là 'toàn âm': đi vào toàn âm. Phật mô tả cái tuyệt đối của ông ấy theo thuật ngữ phủ định: shunya, hư không. Upanishads mô tả cùng cái tuyệt đối là brahman - tính tuyệt đối. Phật sẽ dùng hư không và Upanishads sẽ dùng tính tuyệt đối, nhưng cả hai ngụ ý cùng một điều.

Khi lời mất nghĩa bạn có thể dùng hoặc cách phủ định hoặc cách khẳng định, vì mọi từ đều hoặc là phủ định hoặc là khẳng định; bạn chỉ phải chọn một cách. Bạn có thể nói cho một linh hồn đã giải thoát rằng người đó đã trở thành cái toàn thể. Đây là cách khẳng định để nói nó. Hay bạn có thể nói người đó không còn nữa - người đó đã trở thành hư không. Đây là cách phủ định để nói nó.

Chẳng hạn, nếu một giọt nước nhỏ gặp đại dương, bạn có thể nói rằng giọt nước đã trở thành hư không, giọt nước đã mất tính cá nhân của nó, giọt nước không còn nữa. Đây là cách thức Phật giáo để nói mọi thứ. Điều đó là tốt, nó là đúng khi điều đó diễn ra, vì không lời nào đi rất xa. Cho nên khi nó diễn ra, nó là tốt. Giọt nước không còn nữa, đó là điều được ngụ ý bởi niết bàn. Giọt nước đã trở thành vô hiện hữu, nó không hiện hữu. Hay bạn có thể dùng thuật ngữ của Upanishad. Upanishad sẽ nói rằng giọt nước đã trở thành đại dương. Họ cũng đúng, vì khi các biên giới bị phá vỡ, giọt nước đã trở thành đại dương.

Cho nên đây đơn giản là những thái độ. Phật thích các thuật ngữ phủ định, vì khoảnh khắc bạn nói bất kì cái gì khẳng định, nó trở thành bị giới hạn, nó có vẻ bị giới hạn. Khi bạn nói rằng giọt nước đã trở thành đại dương, Phật sẽ nói rằng đại dương cũng là hữu hạn. Giọt nước vẫn còn là giọt nước; nó đã trở thành lớn hơn một chút, có vậy thôi. Lớn thế nào không tạo ra khác biệt. Phật sẽ nói rằng nó đã trở thành lớn hơn một chút, nhưng nó còn lại. Cái hữu hạn đã không trở thành vô hạn. Cái hữu hạn vẫn còn là hữu hạn, cho nên khác biệt là gì? Một giọt nhỏ và một giọt lớn... với Phật, điều đó là khác biệt duy nhất giữa 'đại dương' và 'giọt nước' - và điều đó là đúng, về mặt toán học nó là vậy.

Cho nên Phật nói rằng nếu giọt nước đã trở thành đại dương, thế thì không cái gì đã xảy ra. Nếu bạn đã trở thành thượng đế, thế thì không cái gì đã xảy ra, bạn đã chỉ trở thành người lớn hơn. Nếu bạn đã trở thành brahman không cái gì đã xảy ra, bạn vẫn hữu hạn. Cho nên Phật nói rằng bạn phải trở thành hư không, bạn phải trở thành shunya - trống rỗng mọi biên giới và thuộc tính, trống rỗng mọi thứ mà bạn có thể quan niệm được, chỉ là trống rỗng. Nhưng các nhà tư tưởng Upanishad sẽ nói rằng cho dù bạn là trống rỗng, bạn vẫn hiện hữu. Nếu bạn đã trở thành trống rỗng, bạn vẫn có đó, vì trống rỗng tồn tại, trống rỗng hiện hữu. Hư không cũng là cách hiện hữu, cách tồn tại. Cho nên họ nói, tại sao nói thái quá về chuyện này và tại sao dùng các thuật ngữ phủ định một cách không cần thiết? Điều tốt là có tính khẳng định.

Đó là chọn lựa của bạn, nhưng mật tông gần như bao giờ cũng dùng thuật ngữ khẳng định. Chính triết lí của mật tông là khẳng định. Nó nói, không cho phép không, không cho phép phủ định. Người theo mật tông là những người nói có lớn nhất. Họ đã nói có với mọi thứ, cho nên họ dùng thuật ngữ khẳng định. Kinh nói, Niệm một âm thanh, như aum, một cách chậm rãi. Như âm thanh đi vào toàn âm, ông cũng vậy...

 

Từ “Vigyan Bhairav Mật tông - tập 1”

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập