Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Cách sống có ý thức Từ bi : Việc nở hoa tối thượng của tình yêu
 
 
Cách sống có ý thức

Từ bi : Việc nở hoa tối thượng của tình yêu - (4)

Chỉ mục bài viết

Quyền năng chữa lành của tình yêu

Mọi người đều được nuôi lớn theo cách mà mọi người đều trở nên lí tưởng. Không ai hiện thực. Lí tưởng là bệnh chung của nhân loại.

Mọi người đều được nuôi lớn theo cách mà mọi người cứ nghĩ rằng họ phải là cái gì đó, ai đó, đâu đó trong tương lai. Một hình ảnh được trao và bạn phải giống nó. Điều đó làm cho bạn căng thẳng bởi vì bạn không phải là nó, bạn là cái gì đó khác, vậy mà bạn phải là nó.

Cho nên người ta cứ kết án cái thực vì cái không thực - cái không thực là không thực. Và lí tưởng cứ kéo bạn hướng tới tương lai, ra khỏi hiện tại.

Lí tưởng trở thành ác mộng thường xuyên bởi vì nó cứ kết án. Bất kì cái gì bạn làm cũng đều không hoàn hảo bởi vì bạn có ý tưởng về hoàn hảo. Bất kì điều gì bạn đạt tới cũng vẫn không đáp ứng bởi vì bạn có mong đợi điên khùng mà không bao giờ có thể được thoả mãn.

Bạn là con người, ở trong một thời gian nào đó, trong một không gian nào đó, với những giới hạn nào đó. Chấp nhận những giới hạn đó. Người cầu toàn bao giờ cũng đem tới điên khùng. Họ là những người bị ám ảnh - bất kì điều gì họ làm cũng đều không đủ tốt. Và không có cách nào để làm cái gì đó hoàn hảo - hoàn hảo không phải là điều có thể với con người. Thực tế, không hoàn hảo là cách duy nhất để hiện hữu.

Cho nên tôi dạy bạn cái gì ở đây? Tôi không dạy bạn hoàn hảo, tôi dạy bạn tính toàn thể. Đó là điều hoàn toàn khác. Là toàn thể. Đừng bận tâm về hoàn hảo. Khi tôi nói là toàn thể, tôi ngụ ý hãy thực, ở đây; bất kì điều gì bạn làm, làm nó một cách toàn bộ. Bạn sẽ không hoàn hảo nhưng không hoàn hảo của bạn sẽ tràn đầy cái đẹp, nó sẽ đầy tính toàn bộ của bạn.

Đừng bao giờ cố gắng hoàn hảo bằng không bạn sẽ tạo ra nhiều lo lắng. Nhiều rắc rối thế đã có đó rồi; đừng tạo ra thêm rắc rối cho bản thân mình.

Tôi đã nghe:

Chuyện xảy ra là Garfinkel lo âu, vấy bẩn khắp người, ngồi trong toa tầu hoả, giữ một cậu bé ba tuổi. Cứ vài phút Garfinkel lại đét đít đứa bé một cái.

"Nếu ông còn đánh đứa bé đó một lần nữa," người đàn bà ngồi ngay trước anh ta nói, "tôi sẽ gây cho ông rắc rối nhiều tới mức ông không thể quên được."

"Rắc rối à?" Garfinkel nói. "Bà sẽ gây cho tôi rắc rối sao? Thưa quí bà, thằng đối tác của tôi cuỗm hết tiền của tôi và cuốn gói cùng con vợ tôi và chiếc xe hơi. Con gái tôi đang trong toa hạng sang, chửa sáu tháng, và nó sẽ không có chồng. Hành lí của tôi bị mất, tôi lên nhầm tầu, và thằng bé hôi hám này vừa mới ăn hết vé và nhổ đầy người tôi. Và thưa bà, bà sẽ gây cho tôi rắc rối nữa sao?"

Bây giờ còn có thể có rắc rối gì hơn nữa được? Bạn không nghĩ thế là quá đủ hay sao?

Bản thân cuộc sống phức tạp thế, xin hãy tốt bụng hơn chút ít với bản thân mình. Đừng tạo ra lí tưởng. Cuộc sống tạo ra đủ các vấn đề nhưng những vấn đề đó có thể được giải quyết. Nếu bạn lên nhầm tầu bạn có thể đổi tầu; nếu vé bị mất, bạn có thể mua lại; nếu vợ bạn đã bỏ đi, bạn có thể tìm người đàn bà khác. Vấn đề mà cuộc sống gây cho bạn có thể được giải quyết nhưng vấn đề mà lí tưởng gây cho bạn thì không bao giờ có thể được giải quyết - chúng là không thể được.

Ai đó đang cố gắng trở thành Jesus... Bây giờ không có cách nào cả; điều đó không xảy ra theo cách đó, tự nhiên không cho phép điều đó. Jesus đã xảy ra một lần, và chỉ một lần; tự nhiên không dung thứ bất kì sự lặp lại nào. Ai đó đang cố gắng trở thành một Phật - bây giờ người đó đang cố gắng làm điều không thể được. Nó đơn giản không xảy ra, không thể xảy ra được; điều đó ngược lại tự nhiên. Bạn có thể chỉ là bản thân mình thôi. Cho nên hãy là toàn bộ. Dù bạn ở bất kì đâu và dù bạn làm bất kì cái gì, làm nó một cách toàn bộ. Đi vào trong nó, để nó trở thành việc thiền của bạn. Đừng lo nghĩ liệu nó sẽ hoàn hảo hay không - nó sẽ không hoàn hảo đâu. Nếu nó là toàn bộ nó là đủ. Nếu nó là toàn bộ bạn tận hưởng khi làm nó, bạn cảm thấy sự hoàn thành qua nó, bạn đi vào trong nó, bạn bị hấp thu vào trong nó, bạn đi ra khỏi nó, mới mẻ, tươi tắn, trẻ trung, cường tráng.

Từng hành động, được làm một cách toàn bộ, đều làm khoẻ lại, và từng hành động, được làm một cách toàn bộ, không bao giờ đem tới bất kì tù túng nào. Yêu toàn bộ và gắn bó không nảy sinh; yêu một phần và gắn bó nảy sinh. Sống toàn bộ và bạn không sợ chết; sống một phần và bạn sợ chết.

Nhưng quên cái từ "hoàn hảo" đi. Nó là một trong những từ tội phạm nhất. Từ này nên bị vứt bỏ khỏi mọi ngôn ngữ của thế giới, nó phải bị vứt bỏ khỏi tâm trí con người. Không ai đã từng hoàn hảo và không ai đã bao giờ có thể vậy. Bạn không thể thấy được điều đó sao? Ngay cả Thượng đế mà có đó và bạn tới gặp ông ấy, bạn không thể thấy lỗi trong sáng tạo của ông ấy sao? Nhiều thế, đó là lí do tại sao ông ấy trốn biến. Ông ấy gần như sợ bạn. Toàn lỗi là lỗi thôi. Bạn có thể đếm được chúng không? Bạn sẽ thấy vô hạn lỗi. Thực tế, nếu bạn là người tìm lỗi bạn không thể tìm thấy cái gì đúng cả - vào đúng thời gian, vào đúng chỗ. Mọi thứ dường như chỉ là đống lộn xộn. Ngay cả Thượng đế cũng không hoàn hảo; Thượng đế là toàn bộ. Ông ấy tận hưởng việc làm điều đó, ông ấy vẫn tận hưởng việc làm điều đó. Nhưng ông ấy không hoàn hảo. Nếu như ông ấy hoàn hảo thế thì việc sáng tạo đã không thể không hoàn hảo được. Từ hoàn hảo, hoàn hảo sẽ tới.

Tất cả mọi tôn giáo của thế giới đều nói rằng Thượng đế là hoàn hảo. Tôi không nói vậy. Tôi nói Thượng đế là toàn thể, Thượng đế là linh thiêng, Thượng đế là toàn bộ - nhưng không hoàn hảo. Mặc dầu ông ấy có thể vẫn đang cố... Làm sao ông ấy có thể hoàn hảo được? Nếu như ông ấy hoàn hảo, thế giới chắc đã chết trước bây giờ rồi. Một khi cái gì đó mà hoàn hảo, cái chết xảy ra bởi vì không có tương lai nữa, không có cách nào cả. Cây cối vẫn đang lớn lên, trẻ con vẫn được sinh ra - mọi thứ tiếp diễn. Và ông ấy cứ cải tiến hoài. Bạn không thể thấy việc cải tiến đó sao? Ông ấy cứ cải tiến mọi thứ. Đó là nghĩa của tiến hoá: mọi thứ đang được cải tiến. Khỉ đã trở thành người - đó là một cải tiến. Thế rồi người sẽ trở thành điều thiêng liêng, sẽ trở thành bản thân thượng đế - đó là tiến hoá.

Teilhard de Chardin nói có một điểm ô mê ga nơi mọi thứ sẽ trở thành hoàn hảo. Không có đâu. Không có điểm ô mê ga đâu. Không thể có được. Thế giới bao giờ cũng trong tiến trình; tiến hoá có đó; chúng ta đang tiến tới và tiến gần tới nhưng chúng ta không bao giờ đạt tới bởi vì một khi chúng ta đạt tới - thì bị kết thúc. Thượng đế vẫn cứ cố gắng theo những cách khác nhau, trong cải tiến.

Một điều là chắc chắn: ông ấy hạnh phúc với công việc của mình, bằng không ông ấy đã bỏ nó rồi. Ông ấy vẫn đang đổ năng lượng của mình vào trong nó. Khi Thượng đế hạnh phúc với bạn, điều cực kì vô nghĩa là bất hạnh với bản thân mình. Hạnh phúc với bản thân mình đi. Để hạnh phúc là giá trị tối thượng. Tôi là người theo chủ nghĩa hưởng lạc. Bao giờ cũng nhớ rằng hạnh phúc là tiêu chuẩn. Bất kì cái gì bạn làm, hãy hạnh phúc, có vậy thôi. Đừng bận tâm liệu nó là hoàn hảo hay không.

Tại sao cứ bị ám ảnh với hoàn hảo? Thế thì bạn sẽ bị căng thẳng, lo lắng, thần kinh, bao giờ cũng không thoải mái, bồn chồn, trong xung đột. Từ tiếng Anh "agony - vật vã" bắt nguồn từ một gốc mang nghĩa "ở trong xung đột." Thường xuyên vật lộn với bản thân mình - đó là nghĩa của agony - vật vã. Bạn sẽ trong vật vã nếu bạn không thoải mái với bản thân mình. Đừng đòi hỏi điều không thể được - tự nhiên, thoải mái, yêu bản thân mình và yêu người khác.

Và nhớ, người không thể yêu được bản thân mình vì người đó cứ kết án bản thân mình thì không thể yêu bất kì ai khác được. Người cầu toàn không chỉ là người cầu toàn về bản thân mình, người đó còn cầu toàn về người khác nữa. Người hà khắc với bản thân mình nhất định hà khắc với người khác. Đòi hỏi của người đó là không thể được.

Ở Ấn Độ có Mahatma Gandhi, người cầu toàn, gần như thần kinh. Và ông ấy rất hà khắc với các đệ tử của mình - ngay cả trà cũng không được phép. Trà đấy! Bởi vì nó có chất caffeine. Nếu ai đó bị phát hiện có uống trà trong đạo tràng của ông ấy thì đó là tội lớn. Tình yêu không được phép. Nếu ai đó rơi vào tình yêu với ai đó, đấy là tội lỗi lớn tới mức dường như toàn thế giới sẽ bị nhận chìm bởi điều đó. Ông ấy liên tục dò xét các đệ tử của mình, bao giờ cũng ngồi cạnh lỗ khoá. Nhưng ông ấy cũng làm điều đó với bản thân ông ấy. Bạn có thể ở cùng người khác chỉ như bạn ở cùng bản thân mình.

Nhưng những kiểu người này trở thành người lãnh đạo lớn bởi vì họ tạo ra nhiều mặc cảm trong người khác. Bạn càng có thể tạo ra nhiều mặc cảm trong mọi người thì bạn càng có thể trở thành người lãnh đạo vĩ đại hơn. Bởi vì ngày càng nhiều người cảm thấy rằng đúng, bạn có thể giúp họ trở nên hoàn hảo. Họ không hoàn hảo cho nên bạn có thể giúp họ trở nên hoàn hảo.

Tôi không ở đây để giúp bạn trở thành hoàn hảo; tôi không quan tâm tới bất kì loại vô nghĩa nào. Tôi chỉ ở đây để giúp bạn là bản thân bạn. Nếu bạn không hoàn hảo, hay; nếu bạn hoàn hảo, điều đó nữa cũng hay.

Đừng cố gắng trở thành không hoàn hảo - bởi vì ngay cả điều đó có thể trở thành lí tưởng! Bạn có thể đã hoàn hảo rồi - thế thì nghe tôi có thể tạo ra rắc rối cho bạn! "Người này nói là không hoàn hảo" - không cần đâu. Nếu bạn hoàn hảo, chấp nhận cả điều đó nữa!

Cố yêu bản thân mình. Đừng kết án. Một khi nhân loại bắt đầu có chấp nhận sâu sắc, tất cả nhà thờ sẽ biến mất, và tất cả chính khách và tu sĩ sẽ biến mất.

Tôi đã nghe:

Một người đi đánh cá ở Rừng Bắc và một đêm quanh lửa trại người hướng dẫn của anh ta kể cho anh ta về thời gian anh ấy đã hướng dẫn Harry Emerson Fosdick trong chuyến đi đánh cá.

"Vâng," người hướng dẫn nói, "ông ấy là là người tốt ngoại trừ mỗi việc chửi thề của ông ấy."

"Nhưng trông đấy," người đánh cá nói, "chắc chắn anh không ngụ ý nói rằng bác sĩ Fosdick nói tục đấy chứ?"

"Ồ, nhưng ông ấy có đấy, thưa ngài," người hướng dẫn phản đối. "Có lần ông ấy bắt được một con cá vược lớn. Ngay khi ông ấy vừa đưa nó lên thuyền, con cá ngọ nguậy tuột ra khỏi móc câu. Thế là tôi nói với bác sĩ, 'Đó là điều xấu hổ chết tiệt!' và bác sĩ quay ngay lại và nói, 'Đúng, nó vậy đấy!' Nhưng đó là lần duy nhất tôi đã nghe ông ấy dùng ngôn ngữ như thế."

Bây giờ, đây là tâm trí của người cầu toàn. Bác sĩ đã chẳng nói gì cả! Ông ấy đơn giản nói, "Đúng, nó vậy đấy." Nhưng ngay cả điều đó cũng đủ cho người cầu toàn thấy lỗi.

Người cầu toàn là thần kinh. Và không chỉ người đó thần kinh, người đó tạo ra xu hướng thần kinh quanh mình. Cho nên đừng là người cầu toàn, và nếu ai đó là người cầu toàn quanh bạn thì trốn nhanh nhất có thể được trước khi người đó làm ô nhiễm tâm trí bạn.

Tất cả mọi xu hướng cầu toàn đều là một loại trò bản ngã sâu sắc. Nghĩ về bản thân bạn dưới dạng lí tưởng và hoàn hảo thì không là gì ngoài việc trang điểm cho bản ngã bạn tới mức tối đa. Người khiêm tốn chấp nhận rằng cuộc sống là không hoàn hảo. Người khiêm tốn, người thực sự tôn giáo, chấp nhận rằng chúng ta tất cả đều có giới hạn.

Đó là định nghĩa của tôi về khiêm tốn. Không cố gắng là hoàn hảo chính là khiêm tốn. Và người khiêm tốn trở nên ngày một toàn bộ hơn, bởi vì người đó chẳng có gì để phủ nhận, chẳng có gì để bác bỏ. Người đó chấp nhận bất kì cái gì người đó đang là; giận dữ của người đó, dục tính của người đó, tham lam của người đó - mọi thứ đều được chấp nhận. Trong chấp nhận sâu sắc đó một thay đổi giả kim thuật lớn lao xảy ra. Tất cả mọi cái xấu dần dần biến mất theo cách riêng của nó. Người đó trở nên ngày một hài hoà hơn, ngày một toàn thể hơn.

Tôi không thiên về thánh nhân nhưng tôi thiên về những người linh thiêng. Thánh nhân là người cầu toàn; người linh thiêng là hoàn toàn khác. Thiền sư là linh thiêng; thánh Cơ đốc giáo là thánh nhân. Chính từ "thánh nhân" là xấu. Nó bắt nguồn từ một từ có nghĩa là người đã được khen thưởng bởi người có thẩm quyền. Bây giờ, ai có thể có thẩm quyền cho bất kì ai là thánh nhân, nó là một loại bằng cấp, chứng chỉ sao? Nhưng Nhà thờ cứ làm điều ngu xuẩn đó. Ngay cả bằng cấp sau khi chết cũng được ban thưởng! Một thánh nhân có thể đã chết ba trăm năm trước, và thế rồi Nhà thờ duyệt lại các ý tưởng của nó. Thế giới đã thay đổi, và sau ba trăm năm Nhà thờ cấp bằng cấp sau khi chết - việc ban thưởng rằng người đó đã thực sự là thánh nhân, chúng ta đã không thể hiểu được người đó vào thời đó. Và nhà thờ có thể đã giết người đó! Đó là cách Joan of Arc trở thành thánh; họ đã giết cô ấy nhưng về sau họ đã đổi ý. Mọi người dần dần tới gần Joan of Arc và sự việc trở thành khó mà không chấp nhận được cô ấy. Đầu tiên họ giết cô ấy, thế rồi họ tôn thờ cô ấy. Sau hàng trăm năm, xương cô ấy được tìm thấy và được tôn thờ. Cô ấy bị thiêu sống bởi cùng những người đó, cùng Nhà thờ đó.

Không, từ "thánh nhân" là không tốt. Người linh thiêng là linh thiêng bởi vì bản thân người đó, không phải bởi vì nhà thờ nào đó quyết định ban thưởng quả vị thánh.

Tôi đã nghe:

Jacobson, chín mươi tuổi, đã sống qua đánh đập ở cuộc tàn sát người Do Thái Ba Lan, trong trại tập trung ở Đức, và hàng chục kinh nghiệm bài Do Thái.

"Ôi, lạy chúa!" ông ấy cầu nguyện, khi ngồi trong giáo đường, "Có đúng là chúng con là người được chọn của ngài không?"

Và từ trên cõi trời ầm vang một giọng nói: "Đúng, Jacobson, người Do Thái là người được chọn của ta!"

"Vậy, thế thì," ông già này rền rĩ, "chẳng phải là lúc ngài chọn ai đó khác đi sao?"

Người cầu toàn là người được chọn của Thượng đế, hãy nhớ. Thực tế, ngày bạn hiểu rằng bạn đang tạo ra khổ sở riêng của mình bởi vì các lí tưởng của mình, bạn phá vỡ những lí tưởng đó. Thế thì bạn đơn giản sống từ thực tại của mình, dù nó là bất kì cái gì. Đó là biến đổi vĩ đại.

Đừng cố gắng là người được chọn của Thượng đế, là con người thôi.


Duy nhất từ bi mang tính trị liệu

Tất cả mọi thứ ốm yếu trong con người là bởi vì thiếu tình yêu. Tất cả mọi thứ sai với con người ở đâu đó đều có liên kết với tình yêu. Người đó đã không có khả năng yêu, hay người đó đã không có khả năng đón nhận tình yêu. Người đó đã không có khả năng chia sẻ bản thể của mình. Đó là khổ sở. Điều đó tạo ra đủ mọi loại phức cảm bên trong.

Những vết thương bên trong đó có thể trồi lên bề mặt theo nhiều cách. Chúng có thể trở thành bệnh thể chất, chúng có thể trở thành bệnh tinh thần - nhưng sâu bên dưới con người chịu đựng việc thiếu tình yêu. Cũng như thức ăn được cần cho thân thể, tình yêu được cần cho linh hồn. Thân thể không thể tồn tại nếu không có thức ăn, và linh hồn không thể tồn tại nếu không có tình yêu. Thực tế, không có tình yêu linh hồn không bao giờ được sinh ra - không có vấn đề về sự sống sót của nó.

Bạn đơn giản nghĩ rằng bạn có linh hồn; bạn tin rằng bạn có linh hồn bởi vì nỗi sợ chết của bạn. Nhưng bạn không biết chừng nào bạn còn chưa yêu. Chỉ trong tình yêu người ta mới đi tới cảm thấy rằng người ta còn nhiều hơn thân thể, nhiều hơn tâm trí.

Và duy nhất từ bi mang tính trị liệu. Từ bi là gì? Từ bi là dạng thuần khiết nhất của tình yêu. Dục là dạng thấp nhất của tình yêu, từ bi là dạng cao nhất của tình yêu. Trong dục tiếp xúc về căn bản là vật lí; trong từ bi tiếp xúc về căn bản là tâm linh. Trong tình yêu, từ bi và dục bị trộn lẫn, vật lí và tâm linh được trộn lẫn. Tình yêu ở giữa dục và từ bi.

Bạn cũng có thể gọi từ bi là thiền. Dạng cao nhất của năng lượng là từ bi.

Từ "compassion - từ bi" là hay: một nửa của nó là "pasion - đam mê" - bằng cách nào đó đam mê đã trở nên được tinh luyện tới mức nó không còn giống như đam mê nữa. Nó đã trở thành từ bi.

Trong dục, bạn dùng người khác, bạn thu người khác thành phương tiện, bạn thu người khác thành đồ vật. Đó là lí do tại sao trong quan hệ dục bạn cảm thấy mặc cảm. Và mặc cảm đó còn sâu sắc hơn các giáo huấn tôn giáo. Trong quan hệ dục như nó vậy bạn cảm thấy mặc cảm, và bạn cảm thấy mặc cảm bởi vì bạn đang thu một con người thành đồ vật, thành hàng hoá được dùng rồi bị vứt đi.

Đó là lí do tại sao bạn cũng cảm thấy một loại tù túng - bạn cũng bị thu lại thành đồ vật. Và khi bạn là đồ vật thì tự do của bạn biến mất, bởi vì tự do của bạn tồn tại chỉ khi bạn là con người. Bạn càng là người, bạn càng tự do; bạn càng là đồ vật, bạn càng ít tự do.

Đồ đạc trong phòng bạn không tự do. Nếu bạn để phòng bị khoá lại và bạn quay về sau nhiều năm, đồ đạc sẽ vẫn ở chỗ cũ, theo cùng cách; nó sẽ không tự kê dọn lại nó theo cách mới. Nó không có tự do. Nhưng nếu bạn để một người trong phòng, bạn sẽ không thấy cùng người đó - không cùng người đó thậm chí ngày hôm sau, thậm chí khoảnh khắc sau. Bạn không thể tìm thấy cùng người đó lần nữa. Ông lão Heraclitus nói, "Ông không thể bước vào trong cùng dòng sông hai lần." Bạn không thể bắt gặp cùng một người lần nữa. Không thể nào gặp cùng một người hai lần bởi vì con người là dòng sông, liên tục chảy. Bạn chẳng bao giờ biết cái gì sẽ xảy ra. Tương lai vẫn còn để mở.

Với đồ vật, tương lai bị đóng lại. Tảng đá sẽ vẫn còn là tảng đá sẽ vẫn còn là tảng đá. Nó không có tiềm năng cho sự trưởng thành. Nó không thể thay đổi được, nó không thể tiến hoá được. Con người chưa bao giờ vẫn còn như cũ - có thể sa ngã, có thể tiến lên; có thể đi vào địa ngục hay vào cõi trời, nhưng không bao giờ vẫn còn như cũ. Cứ di chuyển, thế này hay thế nọ.

Khi bạn có quan hệ dục với ai đó, bạn đã thu người đó về đồ vật. Và trong việc thu người khác bạn đã thu bản thân mình cũng về đồ vật, bởi vì đó là thoả hiệp lẫn nhau: "Anh cho phép em thu anh thành đồ vật, em cho phép anh thu em thành đồ vật. Anh cho phép em dùng anh, em cho phép anh dùng em. Chúng ta dùng lẫn nhau. Chúng ta cả hai đều trở thành đồ vật."

Quan sát hai người yêu - khi họ còn chưa lắng đọng lại, khi lãng mạn vẫn còn sống, tuần trăng mật còn chưa chấm dứt, bạn sẽ thấy hai người đập rộn ràng cùng cuộc sống, sẵn sàng bùng nổ vào cái không biết. Thế rồi quan sát một đôi đã lấy nhau, chồng và vợ, và bạn sẽ thấy hai vật chết, hai nấm mồ bên nhau - giúp lẫn nhau để vẫn còn chết, ép buộc nhau để vẫn còn chết. Đó là xung đột thường xuyên của hôn nhân. Không ai muốn bị thu lại thành đồ vật!

Dục là dạng thấp nhất của năng lượng đó "X". Nếu bạn có tôn giáo, gọi nó là "tính thượng đế"; nếu bạn có khoa học, gọi nó là "X". Năng lượng này, X, có thể trở thành tình yêu. Khi nó trở thành tình yêu, thế thì bạn bắt đầu kính trọng người kia. Vâng, thỉnh thoảng bạn dùng người kia nhưng bạn cảm thấy cảm ơn. Bạn không bao giờ nói cảm ơn với đồ vật. Khi bạn ở trong tình yêu với người đàn bà và bạn làm tình với cô ấy, bạn nói cảm ơn. Khi bạn làm tình với vợ mình, bạn có bao giờ nói cảm ơn không? Không, bạn coi điều đó như cho không. Vợ bạn có bao giờ nói cảm ơn bạn không? Có thể, nhiều năm trước, bạn có thể nhớ đôi khi khi bạn còn chưa quyết định, khi mới chỉ là tán tỉnh, cố gắng cám dỗ lẫn nhau - thì có thể. Nhưng một khi bạn đã quyết định, cô ấy có nói cám ơn bạn về cái gì không? Bạn đã làm bao nhiêu thứ cho cô ấy, cô ấy đã làm bao nhiêu thứ cho bạn. Các bạn cả hai đều sống cho nhau - nhưng lòng biết ơn đã biến mất.

Trong tình yêu có lòng biết ơn, có lòng biết ơn sâu sắc. Bạn biết rằng người kia không phải là đồ vật. Bạn biết rằng người kia có sự cao thượng, có linh hồn, có tính cá nhân. Trong tình yêu bạn cho người kia tự do toàn bộ. Tất nhiên, bạn cho và bạn nhận; nó là mối quan hệ cho-và-nhận - nhưng với sự kính trọng. Trong dục, nó là mối quan hệ cho-và-nhận mà không có kính trọng.

Trong từ bi, bạn đơn giản cho. Không có ý tưởng ở bất kì đâu trong tâm trí bạn để lấy lại cái gì - bạn đơn giản chia sẻ. Không phải là không cái gì tới với bạn! Nó quay lại cả triệu lần hơn, nhưng đó chỉ là nhân tiện, chỉ là hệ quả tự nhiên. Không có khao khát về nó.

Trong tình yêu, nếu bạn cho cái gì đó, sâu bên dưới bạn cứ mong đợi rằng nó phải được đáp lại. Nếu nó không được đáp lại, bạn cảm thấy giống như oán trách. Bạn có thể không nói gì nhưng theo cả nghìn lẻ một cách người ta có thể suy ra rằng bạn đang cằn nhằn, rằng bạn đang cảm thấy mình đã bị lừa. Tình yêu dường như là chuyện mặc cả tinh vi.

Trong từ bi bạn đơn giản cho. Trong tình yêu, bạn cảm ơn bởi vì người kia đã cho bạn cái gì đó. Trong từ bi, bạn cảm ơn vì người khác đã lấy cái gì đó từ bạn; bạn cảm ơn bởi vì người khác đã không bác bỏ bạn. Bạn đã tới với năng lượng để cho, bạn đã tới với nhiều hoa để chia sẻ, và người khác đã cho phép bạn, người khác đã tiếp nhận. Bạn cảm ơn bởi vì người khác đã tiếp nhận.

Từ bi là dạng cao nhất của tình yêu. Nhiều điều quay lại - hàng triệu lần, tôi nói - nhưng đó không phải là vấn đề, bạn không khao khát về nó. Nếu nó không tới, không có phàn nàn về nó. Nếu nó tới bạn đơn giản ngạc nhiên! Nếu nó tới, nó là không thể nào tin được. Nếu nó không tới, không có vấn đề gì - bạn chưa bao giờ trao trái tim mình cho bất kì ai như một phần của bất kì mặc cả nào. Bạn đơn giản mưa rào xuống bởi vì bạn có. Bạn có nhiều tới mức nếu bạn không mưa rào xuống bạn sẽ trở nên bị nặng gánh. Cũng giống như đám mây đầy nước mưa phải mưa rào xuống. Và lần sau khi mây đang mưa rào, cứ quan sát im lặng, và bạn bao giờ cũng sẽ nghe thấy - khi đám mây đã mưa rào và đất đã hấp thu, bạn bao giờ cũng nghe thấy mây nói với đất, "Cám ơn." Đất đã giúp cho mây được nhẹ gánh.

Khi hoa đã nở ra, nó phải toả hương thơm theo gió. Điều đó là tự nhiên! Nó không phải là mặc cả, nó không phải là kinh doanh - nó đơn giản là tự nhiên! Hoa đầy hương thơm - phải làm gì đây? Nếu hoa giữ hương thơm cho bản thân nó thế thì hoa sẽ cảm thấy rất, rất căng thẳng, trong khổ sở sâu sắc. Nỗi khổ lớn nhất trong cuộc sống là khi bạn không thể diễn đạt được, khi bạn không thể trao đổi được, khi bạn không thể chia sẻ được. Người nghèo nhất là người chẳng có gì để chia sẻ, hay người có cái gì đó để chia sẻ nhưng đã mất khả năng này, nghệ thuật này, về cách chia sẻ nó - thế thì người này nghèo.

Người dâm dục là rất nghèo nàn. Người yêu là người giầu hơn, về mặt so sánh. Người của từ bi là người giầu nhất - trên đỉnh của thế giới. Người đó không có hạn chế nào, không có giới hạn nào. Người đó đơn giản cho và đi tiếp con đường của mình. Người đó thậm chí không đợi bạn nói lời cám ơn. Với tình yêu mênh mông người đó chia sẻ năng lượng của mình.

Đây là điều tôi gọi là trị liệu.

Người Ki tô giáo tin rằng Jesus đã làm nhiều phép màu. Tôi không thể thấy được ông ấy làm phép màu nào. Phép màu là từ bi của ông ấy. Nếu bất kì cái gì xảy ra, nó đã xảy ra mà không có việc làm của ông ấy trong nó. Nếu bất kì cái gì đã từng xảy ra ở bình diện cao nhất của bản thể, nó bao giờ cũng xảy ra mà không có nỗ lực nào. Ông ấy đã đi; nhiều loại người đã tới ông ấy. Ông ấy ở đó như vũng năng lượng vô cùng - bất kì ai sẵn sàng chia sẻ, đều chia sẻ.

Phép màu đã xảy ra! Ông ấy là việc trị liệu. Ông ấy là một trong những thầy chữa vĩ đại nhất mà thế giới đã từng biết đến. Phật, hay Mahavira, hay Krishna - họ tất cả đều là các thầy chữa vĩ đại ở các mức độ khác nhau. Vâng, bạn không thể tìm thấy trong cuộc đời của Phật phép màu nào chữa lành cho người ốm, hay chữa lành người mù, hay đưa người chết về cuộc sống. Bạn sẽ ngạc nhiên: Từ bi của Jesus lớn hơn từ bi của Phật sao? Điều gì đã xảy ra? Sao nhiều người đã không được chữa lành qua năng lượng của Phật? Không, vấn đề không phải là nhiều hay ít. Từ bi của Phật vận hành trên mức độ khác. Ông ấy có một kiểu khán giả khác hơn Jesus, và kiểu người khác quanh ông ấy.

Điều đó bao giờ cũng xảy ra - gần như bao giờ cũng xảy ra - tôi cứ quan sát khi luồng người đổ tới tôi từ phương Tây. Họ chưa bao giờ hỏi cái gì về thân thể họ. Họ không tới tôi và nói, "Tôi thường xuyên bị đau đầu, Osho ơi, giúp tôi đi, làm điều gì đó đi!" Hay, "Mắt tôi yếu," hay, "Sự tập trung của tôi không tốt," hay, "Trí nhớ tôi tệ lắm" - không, không bao giờ. Nhưng người Ấn Độ tới tôi và bao giờ cũng mang cái gì đó của thể chất. Hừ? Họ đã có cái bụng sôi ùng ục trong nhiều năm - "Osho ơi, làm điều gì đó đi!"

Gần như bao giờ tôi cũng cảm thấy: Tại sao thế? Điều gì đã xảy ra cho Ấn Độ? Tại sao những người này tới chỉ vì vấn đề thể chất, vật lí nào đó? Họ chỉ có những vấn đề đó. Nước nghèo, nước rất nghèo, chẳng có vấn đề tâm linh nào. Nước giầu có vấn đề tâm linh; nước nghèo có vấn đề thể chất, vật lí.

Thời của Phật ở Ấn Độ đã ở thời đại vàng. Đó là thời mà Ấn Độ ở đỉnh của nó. Đất nước giầu có, cực kì giầu có, thịnh vượng. Phần còn lại của thế giới nghèo, và Ấn Độ đã rất giầu. Mọi người tới Phật đều đem theo vấn đề tâm linh. Vâng, họ cũng mang những vết thương, nhưng vết thương của họ là vết thương tâm linh.

Jesus đi trong một nước rất nghèo, sống trong một nước rất nghèo. Thực tế những người đã tới ông ấy đều không có vấn đề tâm linh, bởi vì để có vấn đề tâm linh bạn phải đạt tới chuẩn sống nào đó. Bằng không, vấn đề của bạn đều có liên quan tới các mức thấp hơn. Người nghèo có các loại vấn đề khác.

Một trong những người họ hàng của tôi đã ở đây trong một tháng - anh ấy đang thiền, làm mọi thứ, và vào ngày cuối cùng của chuyến thăm của anh ấy tôi đã hi vọng anh ấy sẽ hỏi cái gì đó có nghĩa. Anh ấy đã hỏi gì? Anh ấy nói rằng con anh ấy làm ăn không khá về tài chính. Sống một tháng ở đây, nghe tôi trong một tháng, và đây là câu hỏi duy nhất tới từ tâm trí anh ấy: con anh ấy làm ăn không khá. Anh ấy lái taxi, và chiếc xe họ đã mua lại tệ tới mức mọi ngày đều có vấn đề nào đó này khác - anh ấy đã hỏi tôi, "Osho ơi, làm điều gì đó đi!"

Tôi không phải là thợ cơ khí sửa ô tô! Cho nên tôi bảo anh ấy, "Bán chiếc xe đi và mua cái khác." Anh ấy nói, "Chẳng ai thèm mua nó đâu, cho nên xin thầy - làm điều gì đó đi!"

Khi mọi người nghèo, vấn đề của họ là của thế giới này. Khi mọi người giầu, vấn đề của họ có phẩm chất cao hơn. Chỉ nước giầu có mới có thể thực sự tâm linh; nước nghèo không thể tâm linh được.

Tôi không nói rằng cá nhân nghèo không thể mang tính tâm linh - vâng, người nghèo có thể thực sự tâm linh, có ngoại lệ - nhưng nước nghèo thì không thể tâm linh được. Nước nghèo, về toàn thể, nghĩ dưới dạng tiền, thuốc, nhà, xe, thế này thế nọ. Và điều đó là tự nhiên, nó là logic!

Jesus đi trong một thế giới rất nghèo. Mọi người đều tìm kiếm giải pháp riêng của mình. Nhiều người được giúp đỡ - không phải là Jesus đã giúp nhưng họ đã được giúp đỡ. Và Jesus nói đi nói lại: "Chính đức tin của ông đã chữa lành cho ông." Khi bạn có đức tin, từ bi có thể rót vào trong bạn. Khi bạn có đức tin, bạn cởi mở với từ bi. Phật đã làm phép màu, nhưng những phép màu đó là vô hình. Mahavira đã làm phép màu, nhưng những phép màu đó là vô hình. Bạn không thể thấy được chúng - chúng chỉ có thể được thấy bởi người mà chúng đã xảy ra cho họ.

Nhưng từ bi bao giờ cũng mang tính trị liệu; dù mức độ của bạn là gì, nó đều giúp bạn. Từ bi là tình yêu được làm thuần khiết - nhiều tới mức bạn đơn giản cho và không đòi hỏi cái gì đáp lại.

Phật thường nói với các đệ tử của mình, "Sau mỗi phiên thiền, từ bi - ngay lập tức - bởi vì khi ông thiền, tình yêu phát triển, trái tim trở nên đầy. Sau mỗi phiên thiền, cảm thấy từ bi với toàn thể thế giới để cho ông chia sẻ tình yêu của mình và ông toát ra năng lượng vào bầu không khí và năng lượng đó có thể được người khác dùng."

Tôi cũng muốn nói điều đó với bạn: Sau từng việc thiền, khi bạn mở hội, hãy từ bi. Cảm thấy rằng năng lượng của bạn nên đi ra và giúp mọi người theo bất kì cách nào họ cần nó. Toả nó ra! Bạn sẽ được nhẹ gánh, bạn sẽ cảm thấy rất thảnh thơi, bạn sẽ cảm thấy rất bình thản và yên tĩnh, và những rung động mà bạn đã toả ra sẽ giúp cho nhiều người. Kết thúc phiên thiền của bạn bao giờ cũng bằng từ bi.

Và từ bi là vô điều kiện. Bạn không thể có từ bi chỉ với những người thân thiện với bạn, chỉ với những người có quan hệ với bạn.

Chuyện xảy ra ở Trung Quốc: Khi Bồ đề đạt ma tới Trung Quốc, một người tới ông ấy. Người đó nói, "Tôi đã theo giáo huấn của thầy: tôi thiền và thế rồi tôi cảm thấy từ bi với toàn thể vũ trụ - không chỉ với con người, mà cả con vật, đất đá và dòng sông nữa. Nhưng có một vấn đề: tôi không thể cảm thấy từ bi với ông hàng xóm được. Không - điều đó là không thể được! Cho nên xin thầy bảo tôi: tôi có thể loại ông hàng xóm ra khỏi từ bi của mình được không? Tôi bao hàm toàn thể sự tồn tại, cả cái biết và cái không biết, nhưng tôi có thể loại trừ mỗi ông hàng xóm được không? - bởi vì điều đó rất khó, không thể được. Tôi không thể cảm thấy từ bi với ông ta được."

Bồ đề đạt ma nói, "Thế thì quên chuyện thiền đi, bởi vì nếu từ bi loại trừ bất kì người nào thế thì nó không có đó đâu."

Từ bi là bao hàm tất thảy - về bản chất bao hàm tất cả. Cho nên nếu bạn không thể cảm thấy từ bi với hàng xóm của mình được, thế thì quên tất cả về nó đi - bởi vì nó chẳng có liên quan gì tới ai đó riêng biệt. Nó có cái gì đó liên quan tới trạng thái bên trong của bạn. Từ bi - vô điều kiện, vô chiều hướng, vô địa chỉ. Thế thì bạn trở thành lực chữa lành trong thế giới khổ sở này.

Jesus nói đi nói lại: "Yêu hàng xóm của ông như bản thân ông." Và ông ấy cũng nói, "Yêu kẻ thù của ông như bản thân ông." Nếu bạn phân tích cả hai câu này cùng nhau, bạn sẽ đi tới thấy rằng hàng xóm và kẻ thù gần như bao giờ cũng là một người! "Yêu hàng xóm của ông như bản thân ông" và "Yêu kẻ thù của ông như bản thân ông."

Ông ấy ngụ ý gì?

Ông ấy đơn giản ngụ ý: đừng có rào chắn nào cho từ bi của bạn, cho tình yêu của bạn. Như bạn yêu bản thân mình, yêu toàn thể sự tồn tại - bởi vì trong phân tích tối thượng toàn thể sự tồn tại là bạn, được phản ánh trong nhiều tấm gương. Nó là bạn - nó không tách rời khỏi bạn. Hàng xóm của bạn chỉ là một dạng của bạn; kẻ thù của bạn cũng là một dạng của bạn. Bất kì điều gì bạn bắt gặp, bạn đều bắt gặp bản thân mình. Bạn có thể không thừa nhận điều đó bởi vì bạn không rất tỉnh táo; bạn có thể không có khả năng thấy bản thân mình trong người khác, nhưng thế thì cái gì đó là sai với tầm nhìn của bạn, cái gì đó là sai với đôi mắt bạn.

Từ bi mang tính trị liệu. Và để từ bi người ta phải có từ bi với bản thân mình ngay chỗ đầu tiên. Nếu bạn không yêu bản thân mình bạn sẽ không bao giờ có khả năng yêu bất kì ai khác. Nếu bạn không tốt với bản thân mình bạn không thể tốt với bất kì ai khác. Cái gọi là thánh nhân của bạn, người hà khắc thế với bản thân họ, chỉ giả vờ rằng họ tốt với người khác. Điều đó là không thể được; về mặt tâm lí điều đó là không thể được. Nếu bạn không thể tốt được với bản thân mình, làm sao bạn có thể tốt với người khác được?

Bất kì cái gì bạn đang là với bản thân mình, bạn cũng là vậy với người khác. Để điều đó là hiểu biết căn bản. Nếu bạn ghét bản thân mình bạn sẽ ghét người khác - và bạn đã được dạy ghét bản thân mình. Không ai đã từng nói với bạn, "Yêu bản thân mình!" Chính ý tưởng này dường như ngớ ngẩn - yêu bản thân mình sao? Chính ý tưởng này chẳng có nghĩa gì cả - yêu bản thân mình sao? Chúng ta bao giờ cũng nghĩ rằng để yêu, người ta cần ai đó khác. Nhưng nếu bạn không học nó với bản thân mình bạn sẽ không thể thực hành được nó với người khác.

Bạn đã từng được bảo, thường xuyên bị ước định, rằng bạn chẳng có giá trị gì. Từ mọi hướng bạn đều được chỉ cho, bạn đều được bảo cho rằng bạn vô giá trị, rằng bạn không phải là điều bạn đáng phải là, rằng bạn không được chấp nhận như bạn đang vậy. Có nhiều cái phải treo trên đầu bạn - và những cái phải đó gần như không thể nào hoàn thành được. Và khi bạn không thể hoàn thành được chúng, khi bạn thiếu sót, bạn cảm thấy bị kết án. Hận thù sâu sắc nảy sinh trong bạn về bản thân mình.

Làm sao bạn có thể yêu người khác được? Đầy hận thù thế, bạn đi đâu để tìm tình yêu? Cho nên bạn chỉ giả vờ, bạn chỉ phô trương rằng bạn đang trong tình yêu. Sâu bên dưới bạn không trong tình yêu với ai cả - bạn không thể yêu được. Những giả vờ đó là tốt trong vài ngày, thế rồi sắc mầu biến mất, thế rồi thực tại khẳng định nó.

Mọi chuyện tình đều như trứng treo trên đá. Chẳng chóng thì chầy, mọi chuyện tình đều trở nên bị đầu độc. Làm sao nó lại trở nên bị đầu độc thế? Cả hai người đều giả vờ rằng họ đang yêu, cả hai đều cứ nói rằng họ yêu. Bố nói bố yêu con; con nói nó yêu bố. Mẹ nói mẹ yêu con gái và con gái cứ nói cùng điều. Anh em nói họ yêu nhau. Toàn thế giới nói về tình yêu, ca về tình yêu - và bạn có thể tìm ra chỗ nào khác không có tình yêu như thế không? Không có tới một chút xíu tình yêu tồn tại - chỉ núi lời nói, rặng Himalaya thơ ca về tình yêu.

Dường như là tất cả những thơ ca này chỉ là cái bù vào. Bởi vì chúng ta không thể yêu được, chúng ta bằng cách nào đó phải tin qua thơ ca, qua ca hát, rằng chúng ta yêu. Điều chúng ta bỏ lỡ trong cuộc sống chúng ta đổ vào trong thơ ca của mình. Điều chúng ta cứ bỏ lỡ trong cuộc sống, chúng ta đổ vào trong phim ảnh, trong tiểu thuyết. Tình yêu tuyệt đối vắng bóng, bởi vì bước đầu tiên đã chưa được lấy.

Bước đầu tiên là chấp nhận bản thân mình như bạn đang vậy; vứt bỏ tất cả những cái phải. Đừng mang cái "phải" nào trong tim mình! Bạn không là ai đó khác; bạn không được mong đợi làm cái gì đó mà không thuộc vào bạn - bạn chỉ là bản thân mình thôi. Thảnh thơi, và chỉ là bản thân mình. Kính trọng tính cá nhân của bạn và có dũng cảm để kí chữ kí riêng của bạn. Đừng cứ sao chép chữ kí của người khác.

Bạn không được mong đợi trở thành một Jesus hay một Phật hay một Ramakrishna - bạn đơn giản được mong đợi trở thành bản thân mình. Cũng tốt là Ramakrishna chưa bao giờ cố gắng trở thành ai đó khác, cho nên ông ấy trở thành Ramakrishna. Cũng tốt là Jesus chưa bao giờ cố gắng trở thành giống như Abraham hay Moses, cho nên ông ấy trở thành Jesus. Cũng tốt là Phật chưa bao giờ cố gắng trở thành Patanjali hay Krishna - đó là lí do tại sao ông ấy trở thành Phật.

Khi bạn không cố gắng trở thành bất kì ai khác, thế thì bạn đơn giản thảnh thơi - thế thì duyên dáng nảy sinh. Thế thì bạn đầy cao thượng, huy hoàng, hài hoà - bởi vì thế thì không có xung đột, không đâu mà đi, không cái gì mà tranh đấu; không cái gì ép buộc lên bản thân bạn một cách bạo hành. Bạn trở thành hồn nhiên. Trong hồn nhiên đó bạn sẽ cảm thấy từ bi và tình yêu với bản thân mình. Bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc với bản thân mình tới mức cho dù Thượng đế có tới và gõ cửa nhà bạn và nói, "Con có muốn trở thành ai đó khác không?" bạn sẽ nói, "Ngài có điên không đấy?! Tôi hoàn hảo! Cám ơn ngài, nhưng đừng bao giờ thử bất kì cái gì như thế - tôi hoàn hảo như tôi đang vậy."

Khoảnh khắc bạn có thể nói với sự tồn tại, "Tôi hoàn hảo như tôi đang vậy, tôi hạnh phúc như tôi đang vậy," đây là điều ở phương Đông chúng ta gọi là shraddha, tin cậy. Thế thì bạn đã chấp nhận bản thân mình, và trong việc chấp nhận bản thân mình bạn đã chấp nhận sự tồn tại.

Phủ nhận bản thân mình bạn phủ nhận sự tồn tại đã tạo ra bạn. Khoảnh khắc bạn nói, "Tôi phải giống thế này," bạn đang cố cải tiến sự tồn tại. Bạn đang nói, "Ngài phạm sai lầm rồi - tôi đáng phải như thế này chứ, mà ngài làm cho tôi giống thế này sao?" Bạn đang cố gắng cải tiến sự tồn tại. Điều đó là không thể được. Cuộc tranh đấu của bạn là vô vọng - bạn mang định mệnh thất bại.

Và bạn càng thất bại, bạn càng căm ghét. Bạn càng thất bại bạn càng càng cảm thấy bị kết án. Bạn càng thất bại, bạn càng cảm thấy bản thân mình bất lực. Và từ hận thù này, bất lực này, làm sao từ bi có thể nảy sinh được? Từ bi nảy sinh khi bạn hoàn toàn được tiếp đất trong bản thể mình. Bạn nói, "Vâng, đây là cách tôi đang vậy." Bạn không có lí tưởng nào để hoàn thành. Và ngay lập tức sự hoàn thành bắt đầu xảy ra!

Hoa hồng nở đẹp thế bởi vì chúng không cố gắng trở thành hoa sen. Và hoa sen nở đẹp thế bởi vì chúng đã không nghe truyền thuyết nào về các hoa khác. Mọi thứ trong tự nhiên đều xảy ra đẹp đẽ theo cách của nó, bởi vì không ai cố gắng cạnh tranh ai, không ai cố gắng trở thành ai đó khác. Mọi thứ là cách thức nó đang là.

Thấy ra vấn đề đi! Là bản thân mình và nhớ bạn không thể là bất kì cái gì khác, dù bạn làm bất kì cái gì. Tất cả mọi nỗ lực đều vô tích sự. Bạn phải là bản thân mình thôi.

Chỉ có hai cách. Một là bằng cách bác bỏ, bạn có thể vẫn còn là người cũ; bằng cách kết án, bạn có thể vẫn còn là người cũ. Hay chấp nhận, buông xuôi, tận hưởng, vui thích, bạn có thể vẫn là người đấy. Thái độ của bạn có thể khác, nhưng bạn sẽ duy trì cách bạn đang vậy, con người bạn đang vậy. Một khi bạn chấp nhận, từ bi nảy sinh. Và thế thì bạn bắt đầu chấp nhận người khác!

Bạn có quan sát điều đó không? - rất khó sống với thánh nhân, rất khó. Bạn có thể sống với tội đồ nhưng bạn không thể sống với thánh nhân được - bởi vì thánh nhân sẽ kết án bạn liên tục: bằng cử chỉ của ông ấy, bằng ánh mắt của ông ấy, cách ông ấy nhìn vào bạn, cách ông ấy nói vào bạn. Thánh nhân chưa bao giờ nói với bạn cả - ông ấy nói vào bạn. Ông ấy chưa bao giờ nhìn vào bạn; ông ấy bao giờ cũng có ý tưởng nào đó trong mắt ông ấy, che khuất tầm nhìn của ông ấy. Ông ấy chưa bao giờ thấy bạn. Ông ấy có cái gì đó xa xăm trong tâm trí ông ấy, và ông ấy cứ so sánh bạn với cái đó - và tất nhiên, bạn bao giờ cũng thiếu sót. Chính cái nhìn của ông ấy làm cho bạn thành tội đồ! Rất khó sống với thánh nhân - bởi vì ông ấy không chấp nhận bản thân ông ấy, làm sao ông ấy có thể chấp nhận được bạn? Ông ấy có nhiều thứ trong ông ấy, phát ra những nốt chói tai rằng ông ấy đã đi sang cõi bên kia rồi. Tất nhiên, ông ấy thấy cùng những thứ trong bạn theo cách phóng đại.

Nhưng với tôi, người là có phẩm thánh duy nhất là người đã chấp nhận bản thân mình, và trong việc chấp nhận đó người đó cũng đã chấp nhận toàn thế giới. Với tôi, trạng thái đó của tâm trí là điều phẩm thánh là gì: trạng thái của chấp nhận toàn bộ. Và đó là chữa lành, trị liệu. Chỉ ở cùng ai đó người chấp nhận bạn một cách toàn bộ là có tính trị liệu rồi. Bạn sẽ được chữa lành.

Cho nên đi chậm, tỉnh táo, quan sát, đáng yêu. Nếu bạn có dâm dục tôi không nói vứt bỏ dục: tôi nói làm nó nhiều tỉnh táo hơn, làm nó nhiều cầu nguyện hơn, làm nó sâu sắc hơn, để cho nó có thể trở thành tình yêu. Nếu bạn đang yêu, thế thì làm nó thậm chí nhiều biết ơn hơn; đem tới lòng biết ơn sâu sắc hơn, niềm vui, lễ hội, thiền cho nó, để cho nó có thể trở thành từ bi.

Chừng nào từ bi còn chưa xảy ra cho bạn, đừng nghĩ rằng bạn đã sống đúng hay rằng bạn đã sống chút nào. Từ bi là việc nở hoa. Và khi từ bi xảy ra cho một người, hàng triệu người được chữa lành. Bất kì ai tới quanh người đó đều được chữa lành.

Từ bi là mang tính trị liệu.

Tự do với giá trị một cách vô điều kiện : Từ bi của thiền

Một tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên trộm cầm kiếm sắc đi vào, đòi nộp tiền hoặc mạng sống của ông ấy.

Shichiri nói với nó, "Đừng quấy rầy ta. Ông có thể tìm tiền ở ngăn kéo kia." Thế rồi ông ấy trở lại tụng kinh.

Chút ít sau đó ông ấy dừng lại và gọi, "Đừng lấy cả đi. Ta cần một ít để đóng thuế ngày mai."

Tên trộm thu gần hết số tiền và bắt đầu bỏ đi. "Hãy cám ơn người khi ông nhận món quà." Shichiri nói thêm. Người này cám ơn ông ấy và chuồn mất.

Vài ngày sau đó tên trộm bị bắt, và thú nhận, trong số những người khác, đã phạm tội với Shichiri. Khi Shichiri được triệu tới làm nhân chứng ông ấy nói, "Người này không phải là kẻ trộm, ít nhất khi có liên quan tới ta. Ta đã cho anh ta tiền và anh ta cám ơn ta về điều đó." Sau khi đã mãn hạn tù, người này tới Shichiri và trở thành đệ tử của ông ấy.

Jesus nói, "Ông không phán xét." Đây là Thiền hoàn hảo, nếu như ông ấy dừng ở đó. Nhưng có thể bởi vì ông ấy đã nói với người Do Thái và ông ấy phải nói theo cách Do Thái, ông ấy đã nói thêm, "... để cho ông không bị phán xét." Bây giờ đấy không còn là Thiền nữa. Bây giờ nó là mặc cả. Việc nói thêm đó đã phá huỷ chính phẩm chất của nó, chính chiều sâu của nó.

"Ông không phán xét" là đủ cho chính nó; không cái gì được cần thêm vào nó. "Ông không phán xét" nghĩa là vô phán xét. "Ông không phán xét" nghĩa là nhìn vào cuộc sống mà không có đánh giá nào. Đừng đánh giá - đừng nói "cái này tốt" và đừng nói "cái này xấu." Đừng đạo đức - đừng gọi cái gì đó là thiêng liêng, và đừng gọi cái gì đó là quỉ. "Ông không phán xét" là phát biểu vĩ đại rằng không có Thượng đế và không có Quỉ.

Giá mà Jesus dừng lại ở đó, lời nói nhỏ này - chỉ bốn từ, "ông không phán xét" - đã làm biến đổi toàn thể đặc điểm của Ki tô giáo. Nhưng ông ấy đã thêm cái gì đó và đã phá huỷ nó. Ông ấy nói, "... để cho ông không bị phán xét." Bây giờ nó trở thành có điều kiện. Bây giờ nó không còn là vô phán xét nữa, nó đơn giản là mặc cả - "để cho ông không bị phán xét." Nó là như kinh doanh.

Từ sợ hãi - để cho bạn không bị phán xét - thì đừng phán xét. Nhưng làm sao bạn có thể vứt bỏ được phán xét của mình từ sợ hãi, từ tham lam? Để cho bạn không bị phán xét, thì đừng phán xét - nhưng tham lam và sợ hãi không thể làm cho bạn tự do với giá trị được. Nó lấy cái ngã là trung tâm - "Ông không phán xét, để cho ông không bị phán xét." Nó là vị kỉ. Toàn thể cái đẹp của câu nói này bị phá huỷ. Hương vị Thiền biến mất, nó trở thành bình thường. Nó trở thành lời khuyên tốt. Nó không có cách mạng trong nó; nó là lời khuyên của cha mẹ. Lời khuyên rất tốt, nhưng chẳng cái gì triệt để. Mệnh đề thứ hai là việc đóng đinh của mệnh đề gốc.

Thiền chấm dứt ở đó: Ông không phán xét. Bởi vì Thiền nói tất cả đều như nó đang vậy - không cái gì tốt, không cái gì xấu. Mọi sự là cách chúng đang vậy. Cây nào đó cao và cây nào đó nhỏ. Ai đó đạo đức và ai đó vô đạo đức. Ai đó đang cầu nguyện và ai đó đã đi ăn cắp. Đó là cách mọi sự đang là vậy. Bây giờ, thấy hương vị cách mạng của nó! Nó sẽ làm bạn sợ, nó sẽ làm bạn hoảng. Đó là lí do tại sao Thiền không có lời răn. Nó không nói: Làm cái này và không làm cái kia - nó không có những cái phải và không có cái phải không. Nó không tạo ra nhà tù của "phải."

Thiền không phải là cầu toàn. Và bây giờ phân tâm học biết rõ rằng chủ nghĩa cầu toàn là một loại thần kinh. Thiền là tôn giáo duy nhất không thần kinh. Nó chấp nhận. Chấp nhận của nó là toàn bộ, hoàn toàn toàn bộ tới mức nó thậm chí sẽ không gọi kẻ cắp là kẻ cắp, tới mức nó thậm chí sẽ không gọi kẻ giết người là kẻ giết người. Cố thấy sự thuần khiết của tinh thần của nó - cố thấy sự siêu việt hoàn toàn. Tất cả mọi thứ đều như nó đang là vậy.

Thiền là tự do với giá trị một cách vô điều kiện - nếu bạn làm ra điều kiện, bạn bỏ lỡ vấn đề. Thiền không có sợ hãi và không có tham lam. Thiền không có Thượng đế và không có Quỉ, và Thiền không có cõi trời và không có địa ngục. Nó không làm cho mọi người tham lam bằng cách dụ dỗ họ, hứa hẹn họ về phần thưởng trên cõi trời. Và nó không làm mọi người hoảng hốt, sợ hãi, bằng việc tạo ra quan niệm ác mộng về địa ngục.

 Nó không hối lộ bạn bằng ban thưởng, và nó không trừng phạt bạn bằng tra tấn. Nó đơn giản cho bạn sáng suốt để nhìn vào mọi thứ - và sáng suốt đó giải phóng bạn. Sáng suốt đó không có tham lam làm cơ sở cho nó và không có sợ hãi làm cơ sở cho nó. Tất cả các tôn giáo khác đều tham lam, tất cả các tôn giáo khác đều dựa trong nỗi sợ ở đâu đó sâu bên dưới. Đó là lí do tại sao chúng ta dùng từ "sợ thượng đế" cho người tôn giáo - người tôn giáo sợ thượng đế.

Nhưng làm sao sợ hãi có thể mang tính tôn giáo được? Điều đó là không thể được. Sợ hãi không bao giờ có thể mang tính tôn giáo được - chỉ không sợ hãi mới có thể. Nhưng nếu bạn có ý tưởng về tốt và xấu, bạn không bao giờ có thể không sợ hãi được. Ý tưởng của bạn về tốt và xấu làm cho mọi người cảm thấy mặc cảm, làm cho mọi người què quặt, làm cho mọi người tê liệt. Làm sao bạn có thể giúp họ tự do khỏi mọi sợ hãi được? - không thể được. Bạn tạo ra nhiều sợ hãi hơn.

Bình thường, người không mang tính tôn giáo ít sợ hơn, có ít phẩm chất sợ trong bản thể người đó hơn cái gọi là người tôn giáo. Cái gọi là người tôn giáo liên tục run rẩy bên trong, liên tục lo âu về liệu người đó có làm điều đó hay người đó làm mất nó. Người đó có bị tống xuống địa ngục không? Hay người đó sẽ có khả năng làm điều không thể được và vào thiên đường?

Ngay cả khi Jesus xin phép ra đi lần cuối cùng với bạn bè và đệ tử, các đệ tử còn lo lắng hơn về chỗ của họ sẽ ở đâu trên cõi trời. Họ sẽ gặp tiếp đó trên cõi trời - chỗ của họ sẽ ở đâu? Ai sẽ là ai? Tất nhiên, họ nhường Jesus sẽ ở ngay bên phải Thượng đế - thế rồi ai sẽ tiếp sau ông ấy? Lo nghĩ của họ bắt nguồn từ tham lam của họ và sợ hãi của họ. Họ không quan tâm mấy rằng Jesus sẽ bị đóng đinh ngày mai, họ quan tâm nhiều hơn tới quyền lợi riêng của họ.

Tất cả các tôn giáo đều dựa trên tham lam và sợ hãi rất bình thường này. Cùng tham lam đó bạn có với tiền một ngày nào đó trở nên được biến đổi thành tham lam Thượng đế. Thế thì, Thượng đế là tiền của bạn; bây giờ, tiền là Thượng đế của bạn - đó là khác biệt duy nhất. Thế thì Thượng đế trở thành tiền của bạn. Bây giờ bạn sợ quốc gia, sợ cảnh sát, sợ cái này cái nọ - và thế rồi bạn bắt đầu sợ địa ngục, và toà án tối cao, toà án tối thượng của Thượng đế, ngày phán xử cuối cùng.

Cái gọi là thánh nhân Ki tô giáo, ngay cả trong khoảnh khắc cuối cùng của cuộc sống của họ, vẫn thường xuyên run rẩy, sợ hãi - có làm điều đó hay không?

Thiền là tự do với giá trị một cách vô điều kiện. Để điều đó chìm vào trong bạn thực sâu, bởi vì đó là quan điểm của tôi nữa. Tôi muốn bạn hiểu, có vậy thôi. Hiểu biết là đủ. Để hiểu biết là luật duy nhất; không có luật khác. Đừng đi theo sợ hãi, bằng không bạn sẽ đi vào trong bóng tối. Và đừng đi theo tham lam - bởi vì tham lam không là gì ngoài sợ hãi lộn ngược. Chúng là hai mặt của cùng một điều: một mặt nó là tham lam, mặt kia nó là sợ hãi. Người sợ hãi bao giờ cũng tham lam, người tham lam bao giờ cũng sợ hãi. Chúng vẫn còn cùng nhau, chúng đi cùng nhau.

Chỉ hiểu biết, chỉ nhận biết, chỉ năng lực để nhìn vào trong mọi thứ như chúng vậy... Bạn không thể chấp nhận được sự tồn tại như nó vậy sao? Và bởi việc không chấp nhận nó, chẳng cái gì đã được thay đổi. Cái gì đã được thay đổi? Trong hàng nghìn năm chúng ta đã từng bác bỏ nhiều thứ - chúng vẫn có đó, thậm chí còn nhiều thế. Trộm cắp đã không biến mất. Giết người cũng không biến mất. Chẳng cái gì đã thay đổi; mọi sự đích xác như chúng bao giờ cũng vậy. Nhà tù cứ tăng lên. Luật pháp cứ phát triển và trở thành ngày một phức tạp hơn. Và bởi vì luật pháp phức tạp, trộm cắp được sử dụng ngày một nhiều hơn - các luật sư, các quan toà... Nó chẳng tạo ra thay đổi ở đâu cả. Toàn thể hệ thống nhà tù của bạn đã không làm cái gì tốt - thực tế nó đã rất có hại. Hệ thống nhà tù đã trở thành chính đại học cho tội ác - để học tội ác, để học tội ác từ các thầy.

Một khi một người vào tù, người đó trở thành khách thăm thường xuyên. Một khi người đó đã từng ở tù, thế thì người đó cứ quay đi quay lại chỗ đó mãi. Rất hiếm khi tìm ra một người đã từng ở tù và chưa bao giờ quay lại lần nữa. Người đó ra tù với nhiều tài nghệ hơn. Người đó ra tù với nhiều ý tưởng hơn - cách làm cùng điều đó, bây giờ theo cách chuyên gia hơn. Người đó ra tù mà ít nghiệp dư hơn. Người đó ra tù có bằng cấp; việc ra khỏi nhà tù là một loại tốt nghiệp trong tội ác. Bây giờ người đó biết nhiều hơn, biết cách làm điều đó tốt hơn. Bây giờ người đó biết cách không bị bắt. Bây giờ người đó biết chỗ sơ hở trong hệ thống luật pháp là gì.

Và những người áp đặt luật pháp đều là tội phạm như bất kì ai khác - thực tế họ phải tội phạm hơn. Họ phải giải quyết lũ tội phạm, cho nên họ phải tội phạm nhiều hơn. Cảnh sát và gác tù và cai tù, họ mang tính tội phạm nhiều hơn những người mà họ đang ép vào tù - họ phải vậy.

Chẳng cái gì thay đổi cả. Đây không phải là cách thay đổi mọi thứ, nó đã chứng tỏ hoàn toàn thất bại.

Thiền nói thay đổi tới qua hiểu biết, không bởi áp đặt cái gì.

Và cõi trời và địa ngục của bạn là gì? Chẳng là gì ngoài cùng ý tưởng, được chuyển sang cuộc sống bên kia. Cùng ý tưởng về nhà tù trở thành ý tưởng của bạn về địa ngục. Và cùng ý tưởng về ban thưởng - ban thưởng của chính phủ, ban thưởng của tổng thống, huân chương vàng, thế này thế nọ - cùng ý tưởng đó trở nên được chuyển thành cõi trời, thiên đường, firdaus. Nhưng tâm lí là một.

Thiền phá huỷ tâm lí đó từ chính gốc rễ. Thiền không có kết án về bất kì cái gì. Nó có duy nhất hiểu biết: nó nói cố hiểu mọi thứ như chúng vậy. Cố hiểu con người như con người đang vậy - không áp đặt lí tưởng, không nói người đó phải thế nào.

Khoảng khắc bạn nói con người phải thế nào, bạn trở thành mù với thực tại người đó đang vậy. Cái 'phải' trở thành rào chắn. Thế thì bạn không thể thấy được cái thực, thế thì bạn không thể thấy được cái đang đó - cái 'phải' của bạn trở thành quá nặng nề. Bạn có một lí tưởng, một lí tưởng hoàn hảo, và mọi người đều tụt xuống thấp dưới nó, cũng là tự nhiên. Thế thì mọi người bị kết án.

Và những người bản ngã đó, người có thể xoay xở bằng cách nào đó buộc bản thân mình vào trong những lí tưởng đó - ít nhất trên bề mặt, ít nhất ở bên ngoài - họ trở thành các thánh nhân lớn. Họ không là gì ngoài những bản ngã lớn. Và nếu bạn nhìn vào trong mắt họ, bạn sẽ thấy chỉ một vị thôi: linh thiêng hơn ngươi. Họ là ít người được chọn, họ là người được chọn của Thượng đế và họ ở đây để kết án bạn và để biến đổi bạn.

Thiền không quan tâm tới việc biến đổi của bất kì ai. Và nó làm biến đổi - đó là nghịch lí. Nó không quan tâm tới bạn phải là thế nào, nó chỉ quan tâm tới bạn là gì. Nhìn vào trong nó, nhìn vào trong nó bằng đôi mắt yêu thương, chăm sóc. Cố hiểu nó là gì, và từ việc hiểu biết này biến đổi tới. Biến đổi là tự nhiên - bạn không phải làm nó, nó đơn giản xảy ra theo cách riêng của nó.

Thiền biến đổi, nhưng nó không nói về biến đổi. Nó thay đổi, nhưng nó không quan tâm tới thay đổi. Nó đem tới cái đẹp cho con người hơn bất kì cái gì khác, nhưng nó không quan tâm tới cái đó chút nào. Nó tới như ân huệ, như món quà. Nó đi theo hiểu biết. Đó là cái đẹp của Thiền, nó là tự do với giá trị một cách vô điều kiện. Đánh giá là bệnh của tâm trí - đó là điều Thiền nói. Chẳng cái gì tốt và chẳng cái gì xấu, mọi sự chỉ là như chúng vậy. Mọi thứ đều như nó vậy.

Trong Thiền một chiều hướng hoàn toàn mới mở ra, chiều hướng của biến đổi vô nỗ lực. Chiều hướng của biến đổi tới một cách tự nhiên với đôi mắt rõ ràng hơn, với sự sáng tỏ. Bằng việc nhìn vào trong bản tính của mọi sự một cách trực tiếp hơn, không có cản trở nào của định kiến.

Khoảnh khắc bạn nói một người là tốt, bạn đã dừng nhìn vào người đó. Bạn đã dán nhãn cho người đó; bạn đã xếp ngăn người đó, bạn đã phân loại người đó. Khoảnh khắc bạn nói "người này xấu" làm sao bạn có thể nhìn vào mắt người đó được nữa? Bạn đã quyết định trước rồi, bạn đã bị kết thúc với người này rồi. Người này không còn là điều bí ẩn nữa. Bạn đã giải quyết xong bí ẩn rồi; bạn đã viết lên nó "đây là xấu" và "đây là tốt." Bây giờ bạn sẽ tương tác với những cái nhãn này, chứ không với các thực tại.

Người tốt có thể biến thành xấu, người xấu có thể biến thành tốt. Điều đó xảy ra mọi khoảnh khắc - buổi sáng người đó tốt, đến tối người đó xấu, đến đêm người đó lại tốt. Nhưng bây giờ bạn sẽ cư xử theo việc dán nhãn. Bạn sẽ không nói với bản thân người này, bạn sẽ nói với cái nhãn riêng của mình, với hình ảnh riêng của mình.

Tất nhiên, bạn cứ bỏ lỡ thực tại, con người thực.Và điều đó tạo ra cả nghìn lẻ một phức cảm và vấn đề. Những vấn đề không giải được. Bạn có thực nói với vợ mình không? Khi bạn ở trong giường với vợ, bạn có thực ở trong giường với vợ bạn không, hay với hình ảnh nào đó? Đây là cảm giác của tôi - rằng bất kì khi nào hai người gặp nhau, đều có đám đông thực, không phải hai người. Ít nhất có bốn người chắc chắn ở đó. Hình ảnh của bạn về người kia và hình ảnh của người kia về bạn, hai hình ảnh đó có đó. Và chúng chẳng bao giờ khít nhau - người thực cứ thay đổi, người thực là một luồng. Người thực là dòng sông cứ thay đổi mầu sắc của mình. Người thực là sống động! Chỉ bởi vì bạn dán nhãn nên người này không có nghĩa là người đó đi tới chết - người đó vẫn sống động.

Có lần ai đó hỏi Trang Tử, "Công việc của thầy được kết thúc chưa?" Ông ấy nói, "Làm sao nó có thể bị kết thúc được? - bởi vì ta vẫn còn sống đây!"

Nhìn vào điều đó: ông ấy nói, "Làm sao nó có thể bị kết thúc được? Ta vẫn còn sống đây. Nó chỉ có thể được kết thúc vào ngày ta chết. Ta vẫn đang tuôn chảy, mọi sự sẽ vẫn cứ xảy ra."

Khi cây sống, hoa sẽ tới, lá mới sẽ tới, chim mới sẽ tới và làm tổ trên nó, lữ khách mới sẽ tới và nghỉ qua đêm dưới nó... mọi sự sẽ tiếp tục thay đổi. Mọi thứ vẫn còn có thể khi bạn sống. Nhưng khoảnh khắc bạn dán nhãn lên một người là tốt, xấu, đạo đức, vô đạo đức, tôn giáo, phi tôn giáo, hữu thần, vô thần, thế này và thế nọ - bạn đang nghĩ cứ dường như người đó đã trở nên chết. Bạn nên dán nhãn chỉ khi một người đã chết. Bạn có thể dán nhãn cho một người trên nấm mồ, không trước điều đó. Bạn có thể đi tới nấm mồ và bạn có thể viết, "Người này là thế này." Bây giờ người đó không thể mâu thuẫn được với bạn; bây giờ mọi thứ đã kết thúc, mọi thứ đã đi tới điểm dừng. Dòng sông không còn chảy nữa.

Nhưng trong khi ai đó còn sống... Và chúng ta cứ dán nhãn - ngay cả trẻ con, trẻ con nhỏ. Chúng ta nói, "Đứa trẻ này vâng lời, và đứa trẻ này rất không vâng lời. Đứa trẻ này vui thế, và đứa trẻ này có vấn đề thế." Bạn dán nhãn - và nhớ, khi bạn dán nhãn bạn tạo ra nhiều vấn đề. Thứ nhất, nếu bạn dán nhãn ai đó, bạn hỗ trợ cho người đó cư xử theo cách bạn dán nhãn người đó - bởi vì người đó bắt đầu cảm thấy rằng bây giờ người đó có nghĩa vụ chứng minh rằng bạn là đúng. Nếu người bố nói, "Con tôi có vấn đề," bây giờ đứa trẻ nghĩ, "Mình phải chứng tỏ rằng mình có vấn đề, bằng không bố sẽ bị chứng tỏ là sai." Lập luận này là điều rất vô ý thức - làm sao đứa trẻ tin bố nó sai được? Cho nên nó tạo ra nhiều vấn đề hơn, và người bố nói, "Trông đấy. Đứa trẻ này có vấn đề."

Ba người đàn bà đang nói chuyện và, như mọi đàn bà nói chuyện, họ ba hoa về con cái mình. Một người nói, "Con tôi mới năm tuổi nhưng nó làm thơ đấy. Thơ hay tới mức các nhà thơ tài năng cũng phải cảm thấy xấu hổ."

Người thứ hai nói, "Chưa là gì cả nhé. Con tôi mới bốn tuổi, và nó vẽ đấy - những bức tranh hiện đại, cực kì hiện đại, ngay cả Picasso cũng không thể làm đầu hay đuôi nào của nó được, dù nó là gì. Và nó không dùng chổi vẽ đâu, nó chỉ dùng tay thôi. Thỉnh thoảng nó chỉ ném thuốc màu lên vải vẽ và một điều đẹp đẽ, cái gì đó từ trời xanh nảy sinh. Con tôi là người theo trường phái ấn tượng, một hoạ sĩ rất độc đáo."

Người đàn bà thứ ba nói, "Chưa là gì cả. Con tôi mới ba tuổi, và tự nó đi tới nhà phân tâm đấy."

Nếu bạn dán nhãn, bạn sẽ xoay xở làm đứa trẻ phát khùng... bạn sẽ phá huỷ nó. Mọi nhãn đều mang tính phá huỷ. Đừng bao giờ dán nhãn một người là tội đồ hay thánh nhân. Khi quá nhiều người dán nhãn một người theo một cách... Và mọi người có xu hướng nghĩ tập thể; mọi người không có ý tưởng nguyên bản, cá nhân. Hừ? Bạn nghe tin đồn rằng ai đó là tội đồ và bạn chấp nhận điều đó. Và thế rồi bạn truyền điều đó cho ai đó khác, và người đó chấp nhận điều đó. Và tin đồn cứ lan rộng mãi, cái nhãn trở nên mỗi ngày một lớn hơn và lớn hơn và lớn hơn. Rồi một ngày trên người đó cái nhãn "TỘI ĐỒ" được viết bằng chữ hoa to, trong biển hiệu đèn neon, tới mức người đó tự mình đọc và phải cư xử tương ứng theo. Toàn thể xã hội mong đợi người đó theo cách đó, bằng không mọi người sẽ giận dữ - "Anh đang làm gì vậy? Anh là kẻ tội đồ, và cố gắng là thánh nhân! Tự cư xử lấy đi!"

Đó là điều xã hội có - đầu tư rất tinh tế trong việc dán nhãn của nó: "Hãy tự cư xử lấy! Đừng làm cái gì đi ngược lại những ý tưởng của chúng tôi về anh." Đó là điều ngầm ẩn, nhưng nó có đó.

Thứ hai, khi bạn dán nhãn một người, dù người đó cố gắng cư xử thế nào tương ứng với cái nhãn đó, người đó vẫn không thể làm được. Người đó không thể làm được điều đó một cách hoàn hảo, điều đó là không thể được. Thực sự nó không thể nào được làm, người đó chỉ có thể giả vờ. Và thế rồi thỉnh thoảng hay lúc khác khi người đó không giả vờ, khi người đó thảnh thơi chút ít - người đó trong tâm trạng ngày nghỉ và người đó đi chơi ngoài trời - thực tại khẳng định. Thế thì bạn nghĩ bạn đã bị lừa; người này là kẻ lừa dối. Bạn cứ tưởng người đó tốt, và hôm nay người đó ăn cắp tiền của bạn. Trong nhiều năm bạn đã từng nghĩ người đó là người tốt, người đó là thánh nhân - và bây giờ người đó đã ăn cắp tiền của bạn!

Bạn nghĩ người đó đã lừa bạn sao? Không, chính việc dán nhãn của bạn đã lừa bạn. Người đó hành động theo thực tại của người đó. Trong thời gian đủ lâu người đó đã cố gắng khớp với cái khung của bạn, nhưng ngày này hay ngày khác người ta phát triển ra khỏi cái khung đó. Người ta phải làm những điều người ta muốn làm.

Không ai ở đây để hoàn thành mong đợi của bạn. Và chỉ rất ít người hèn nhát mới cố gắng hoàn thành mong đợi của người khác. Người thực sẽ phá huỷ mong đợi của mọi người về mình, bởi vì người đó không ở đây để bị cầm tù bởi ý tưởng của bất kì ai khác. Người đó sẽ vẫn còn tự do. Người đó sẽ vẫn còn không nhất quán - đó chính là tự do là gì. Người đó sẽ làm điều này ngày hôm nay, và người đó sẽ làm điều gì đó đích xác đối lập vào ngày mai, cho nên bạn không thể mang ý tưởng về người đó được. Con người thực, chân thực là không nhất quán. Chỉ người giả mới nhất quán. Người thực, chân thực mang mâu thuẫn bên trong mình. Người đó hoàn toàn tự do. Người đó tự do tới mức người đó có thể là thế này và người đó có thể là thế kia nữa, chính cái đối lập nữa. Đó là chọn lựa của người đó - nếu người đó muốn là người cánh hữu thì người đó là người cánh hữu, nếu người đó muốn là người cánh tả thì người đó trở thành người cánh tả. Không có cản trở nào trong người đó. Nếu người đó muốn ở bên trong, người đó có thể ở bên trong, nếu người đó muốn ở bên ngoài, người đó có thể ở bên ngoài. Người đó là tự do. Người đó có thể là người hướng ngoại, người đó có thể là người hướng nội, người đó có thể làm bất kì cái gì. Tự do của người đó chọn lựa trong khoảnh khắc điều cần làm.

Nhưng chúng ta áp đặt hình mẫu lên mọi người rằng họ phải nhất quán. Việc đặt nhất quán có giá trị lớn. Chúng ta nói, "Người này nhất quán thế. Người này là vĩ đại - người này nhất quán thế." Nhưng bạn ngụ ý điều gì bởi "nhất quán"? Nhất quán nghĩa là người đó chết, người đó không còn sống nữa. Người đó đã dừng sống vào ngày người đó trở thành nhất quán - kể từ đó người đó đã không sống.

Khi bạn nói, "Chồng tôi đáng tin cậy," bạn ngụ ý gì? Anh ấy đã chấm dứt yêu, anh ấy đã chấm dứt sống - bây giờ không người đàn bà khác nào hấp dẫn anh ấy. Nếu không đàn bà khác nào hấp dẫn anh ấy, làm sao bạn có thể cứ hấp dẫn anh ấy được? - bạn là đàn bà mà. Thực tế, bây giờ anh ấy giả vờ. Nếu người đàn ông vẫn còn sống và yêu, khi anh ấy thấy người đàn bà đẹp anh ấy bị hấp dẫn chứ. Khi người đàn bà sống và sống động và thích thú, khi cô ấy thấy người đàn ông hay, làm sao cô ấy không cảm thấy bị hấp dẫn? Điều đó tự nhiên thế! Tôi không nói cô ấy phải đi với anh ấy - nhưng sự hấp dẫn là tự nhiên. Cô ấy có thể chọn không đi - nhưng phủ nhận hấp dẫn là phủ nhận bản thân cuộc sống.

Thiền nói: còn đúng với tự do của bạn. Và thế thì một loại hiện hữu hoàn toàn khác nảy sinh trong bạn, điều rất không ngờ tới, không dự đoán được. Có tính tôn giáo, nhưng không đạo đức. Không vô đạo đức - phi luân lí: bên ngoài đạo đức, bên ngoài vô đạo đức.

Đây là chiều hướng mới mà Thiền mở vào cuộc sống. Nó hoàn toàn là thực tại tách rời với cái bạn đã sống trong đó - điều này là hoàn toàn tách rời khỏi cái đó. Nó có phẩm chất mới; phẩm chất là của vô tính cách.

Đôi khi từ này gây tổn thương nhiều lắm, bởi vì chúng ta đã yêu mến từ "tính cách" quá lâu rồi. Chúng ta đã bị ước định trong hàng thế kỉ với từ "tính cách." Chúng ta nói, "Người đó là con người có tính cách." Nhưng bạn có quan sát không? Con người có tính cách là người chết. Con người có tính cách là phân loại được, con người có tính cách là dự đoán được. Con người có tính cách không có tương lai, chỉ có quá khứ.

Hãy nghe: Con người có tính cách chỉ có quá khứ của mình. Bởi vì tính cách nghĩa là quá khứ. Người đó cứ lặp lại quá khứ của mình, người đó là chiếc máy hát bị hỏng. Người đó cứ nhắc cùng điều lặp đi lặp lại và lặp lại mãi. Người đó chẳng có gì mới để nói. Người đó chẳng có gì mới để sống, người đó chẳng có gì mới để hiện hữu. Chúng ta gọi người đó là con người có tính cách. Bạn có thể dựa vào người đó, bạn có thể phụ thuộc vào người đó. Người đó sẽ không nuốt lời hứa của mình - vâng, điều đó đúng. Người đó có tiện dụng lớn lao, tiện dụng xã hội là lớn nhưng người đó chết, người đó là cái máy.

Máy có tính cách; bạn có thể phụ thuộc vào chúng. Đó là lí do tại sao chúng ta cứ loại bỏ, dần dần, tất cả con người và thay thế người bằng máy. Máy dự đoán được hơn nhiều, chúng có cá tính lớn hơn - bạn có thể phụ thuộc vào chúng.

Ngựa không mang tính phụ thuộc được như xe hơi. Ngựa có một loại tính cách nào đó - ngày nào đó nó không có tâm trạng này, và ngày khác nó không muốn đi đường bạn muốn đi, và ngày nọ nó rất nổi dậy. Và ngày nào đó nó đơn giản đứng đó và sẽ không chuyển động. Nó có linh hồn; bạn không thể luôn luôn phụ thuộc vào nó được. Nhưng chiếc xe hơi không có linh hồn. Nó chỉ được gắn vào nhau; nó không có trung tâm. Nó đơn giản đi theo đường bạn muốn nó đi. Ngay cả bạn muốn lái xe phóng qua vách đá, nó sẽ đi. Ngựa sẽ nói, "Đợi đã! Nếu ông muốn tự tử, ông có thể làm điều đó, nhưng tôi không làm nó đâu. Ông có thể nhảy. Tôi không nhảy." Nhưng chiếc xe sẽ không nói không, nó không có linh hồn để nói không. Nó chưa bao giờ nói có, nó chưa bao giờ nói không.

Đôi khi ngay cả tâm trí của nhà toán học lớn cũng đơn giản không làm việc. Nhưng máy tính cứ làm việc hai mươi bốn giờ - ngày nọ ngày kia, năm nọ năm kia - không có vấn đề về không làm việc. Máy có tính cách, tính cách rất phụ thuộc. Và đó là điều chúng ta đã từng cố gắng làm. Đầu tiên chúng ta cố gắng làm người thành máy; chúng ta đã không thể thành công trong điều đó một trăm phần trăm, cho nên dần dần chúng ta bắt đầu phát minh ra máy móc để cho chúng có thể thay thế con người. Chẳng chóng thì chầy mọi người sẽ bị thay thế ở mọi nơi. Máy sẽ làm tốt hơn nhiều, hiệu quả hơn nhiều, tin cậy hơn, nhanh hơn.

Con người có tâm trạng bởi vì con người có linh hồn! Bởi vì con người có linh hồn, con người chỉ có thể đích thực nếu người đó vẫn còn không có tính cách nào. Tôi ngụ ý gì khi tôi nói, "vô tính cách"? Tôi ngụ ý người đó vứt bỏ quá khứ của mình. Người đó không sống theo quá khứ của mình - đó là lí do tại sao người đó là không dự đoán được. Người đó sống từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, người đó sống trong hiện tại. Người đó nhìn quanh và người đó sống, người đó thấy điều xung quanh mình và người đó sống, người đó cảm điều xung quanh và người đó sống. Người đó không có ý tưởng cố định về cách sống; người đó chỉ có nhận biết. Cuộc sống của người đó vẫn còn là luồng chảy thường xuyên. Người đó có tính tự phát - đó là điều tôi ngụ ý khi tôi nói người thực là vô tính cách. Người đó có tính tự phát.

Người đó có tính đáp ứng. Nếu bạn nói điều gì đó với người đó, người đó đáp ứng lại nó, người đó không lặp lại lời sáo rỗng. Người đó đáp ứng với bạn - với khoảnh khắc này, với câu hỏi này, với tình huống này. Người đó không đáp ứng với tình huống đã học, tình huống khác nào đó. Người đó đáp ứng với bạn, người đó nhìn vào trong bạn. Người đó không phản ứng, người đó đáp ứng. Phản ứng tới từ quá khứ.

Chuyện xảy ra: Một Thiền sư hỏi, "Bí mật của Phật là gì? Ông ấy đã chuyển giao cái gì cho Mahakashyapa khi ông ấy đưa cho ông này bông hoa? Sao ông ấy nói, 'Ta trao cho Mahakashyapa điều ta đã không thể trao được cho bất kì ai khác - bởi vì người khác chỉ có thể hiểu được lời, Mahakashyapa có thể hiểu được im lặng?"

Hôm đó Phật đã tới với bông sen trong tay. Tất cả các đệ tử cứ nhìn mãi nhìn hoài, và họ đều lo nghĩ và họ bắt đầu trở nên ngày một bồn chồn hơn. Ông ấy chẳng nói gì cả, ông ấy nhìn mãi hoa sen... cứ dường như ông ấy đã quên mất toàn thể hội chúng. Nhiều phút trôi qua, và cả giờ qua đi, và mọi người trở nên rất bồn chồn. Và thế rồi Mahakashyapa bắt đầu cười. Phật gọi ông ấy và đưa ông ấy bông hoa và nói, "Điều ta có thể cho qua lời, ta đã cho người khác. Điều ta không thể cho qua lời, ta trao nó cho ông, Mahakashyapa. Giữ lấy nó cho tới khi ông tìm ra một người có thể đón nhận được thông điệp trong im lặng."

Thiền sư hỏi các đệ tử của mình, "Bí mật là gì? Cái gì đã được trao qua bông sen? Cái gì đã xảy ra trong khoảnh khắc đó?" Một đệ tử đứng dậy, nhảy múa, chạy mất. Và thầy nói, "Đúng rồi. Đích xác đây là điều nó vậy đấy."

Nhưng một thầy khác trong cùng tu viện tới gặp thầy này lúc ban đêm và nói, "Ông không nên đồng ý sớm thế, sự đồng ý của ông quá sớm, tôi ngờ đấy."

Thế là thầy này đi tới đệ tử kia, người đã nhảy múa và với người đó ông ấy đã nói, "Đúng, đây là nó." Ngay trong đêm ông ấy tới đó và ông ấy hỏi lại cùng câu hỏi: "Phật đã trao cái gì trong bông sen đưa cho Mahakashyapa? Mahakashyapa đã hiểu cái gì khi ông ấy mỉm cười? Nó là gì vậy? Nói cho ta câu trả lời."

Anh thanh niên nhảy múa. Và thầy đánh cho anh ta một cú nên thân! Thầy nói, "Điều này sai rồi, tuyệt đối sai."

Đệ tử nói, "Nhưng vừa mới sáng nay thầy đã nói nó là đúng."

Và thầy nói, "Đúng. Buổi sáng nó là đúng, đến đêm nó là sai. Anh đang lặp lại. Buổi sáng ta nghĩ nó đã là câu trả lời. Bây giờ ta biết nó là phản ứng."

Câu trả lời phải thay đổi, nếu nó là đáp ứng, mỗi lúc câu hỏi được nêu ra. Câu hỏi có thể vẫn vậy nhưng chẳng cái gì khác là vẫn vậy. Buổi sáng khi thầy hỏi, mặt trời đang mọc và chim chóc líu lo, và cả hội chúng... cả nghìn sư đang ngồi trong thiền - đó đã là một loại thế giới hoàn toàn khác. Vâng, câu hỏi vẫn vậy, cách nói ngôn ngữ vẫn vậy. Nhưng cái toàn thể đã thay đổi rồi, động thái đã đổi rồi. Ban đêm nó hoàn toàn khác; thầy một mình cùng đệ tử trong phòng anh ta. Mặt trời không có đó trên trời, và chim chóc không còn hót, và không có ai khác nhìn cả. Thầy đã thay đổi. Vài giờ này, dòng sông đã chảy tiếp, đã đi vào đồng cỏ mới, đã đi vào lãnh thổ mới. Câu hỏi này chỉ có vẻ như vẫn vậy. Nhưng đệ tử đã bị cố định. Anh ta nghĩ, "Vậy mình đã biết câu trả lời rồi."

Không, trong cuộc sống thực chẳng ai biết câu trả lời cả. Trong cuộc sống thực bạn phải mang tính đáp ứng. Trong cuộc sống thực bạn không thể mang câu trả lời làm sẵn, cố định, sáo rỗng. Trong cuộc sống thực bạn phải cởi mở. Đệ tử đó đã lỡ.

Người vô tính cách là người không có câu trả lời, người không có triết lí, người không có ý tưởng đặc biệt về mọi sự phải thế nào. Dù chúng là thế nào, người đó vẫn còn cởi mở. Người đó là tấm gương - người đó phản xạ.

Bạn không quan sát sao? Nếu bạn đến trước gương, nếu bạn giận dữ, tấm gương phản xạ khuôn mặt giận dữ của bạn; nếu bạn cười tấm gương phản xạ khuôn mặt cười của bạn. Nếu bạn già tấm gương phản xạ tuổi già của bạn, nếu bạn trẻ tấm gương phản xạ tuổi thanh xuân của bạn. Bạn không thể nói với tấm gương, "Hôm qua anh phản xạ tôi cười, và hôm nay anh phản xạ tôi giận và buồn thế sao? Anh ngụ ý gì vậy? Anh không nhất quán. Anh không có tính cách nào! Tôi sẽ vứt anh ra khỏi nhà đấy."

Tấm gương không có tính cách. Và con người thực là giống như tấm gương.

Thiền là vô phán xét, Thiền là vô đánh giá, Thiền không áp đặt tính cách lên bất kì ai. Bởi vì để áp đặt tính cách, bạn sẽ cần đánh giá - tốt hay xấu. Để áp đặt tính cách bạn sẽ phải tạo ra những cái phải và phải không; bạn sẽ phải cho những lời răn. Để áp đặt tính cách bạn sẽ phải là một Moses - bạn không thể là một Bồ đề đạt ma được. Để áp đặt tính cách bạn sẽ phải tạo ra sợ hãi và tham lam. Bằng không ai sẽ nghe bạn? Bạn sẽ phải là một B. F. Skinner và đối xử với mọi người như chuột - huấn luyện họ, trừng phạt họ, thưởng họ, để cho họ bị ép buộc vào hình mẫu nào đó.

Đó là điều đã từng được làm cho bạn. Cha mẹ bạn đã làm điều đó, nền giáo dục của bạn đã làm điều đó, xã hội, quốc gia của bạn đã làm điều đó. Thiền nói: Bây giờ thế là đủ rồi, thoát khỏi nó đi. Vứt tất cả những cái vô nghĩa này đi, bắt đầu là bản thân mình. Điều đó không có nghĩa là Thiền để bạn trong hỗn độn. Không, chính điều đối lập lại. Thiền, thay vì cho bạn tính cách và lương tâm để thao túng tính cách, nó cho bạn tâm thức.

Sự khác biệt này phải được chú ý, ghi nhớ. Tất cả các tôn giáo khác đều cho bạn lương tâm. Thiền cho bạn tâm thức. Lương tâm nghĩa là, "Cái này tốt, cái kia xấu. Làm cái này, không làm cái kia." Tâm thức đơn giản nghĩa là, "Là tấm gương - phản xạ, đáp ứng." Đáp ứng là đúng, phản ứng là sai. Có tính đáp ứng không có nghĩa là tuân theo những qui tắc nào đó; có trách nhiệm nghĩa là có khả năng của đáp ứng.

Thiền làm cho bạn chói sáng từ bên trong. Không áp đặt từ bên ngoài, không giáo hoá từ bên ngoài; nó không cho bạn áo giáp, cơ chế phòng thủ. Nó không bận tâm về ngoại vi của bạn, nó đơn giản tạo ra ngọn đèn bên trong tại trung tâm của bạn, tại chính trung tâm của bạn. Và ánh sáng đó cứ phát triển mãi... và một ngày nào đó toàn thể nhân cách của bạn đều chói sáng.

Thái độ Thiền này, cách tiếp cận này nảy sinh thế nào? Nó nảy sinh từ thiền. Nó là đỉnh tối thượng của tâm thức thiền. Nếu bạn thiền, dần dần bạn sẽ thấy - mọi thứ đều tốt, mọi thứ đều như nó phải vậy. Tathata, như vậy, nảy sinh. Thế thì, nhìn thấy kẻ trộm bạn không nghĩ rằng người đó phải được biến đổi - bạn đơn giản đáp ứng. Thế thì bạn không nghĩ rằng người đó là xấu. Và khi bạn không nghĩ về một người là người đó xấu, ác, bạn đang tạo ra khả năng cho người đó được biến đổi. Bạn đang chấp nhận người đó như người đó vậy. Và qua chấp nhận đó là biến đổi.

Bạn đã từng quan sát điều đó cũng xảy ra trong đời mình chưa? Bất kì khi nào ai đó chấp nhận bạn một cách hoàn toàn, vô điều kiện, bạn bắt đầu thay đổi. Việc chấp nhận của người đó cho bạn dũng cảm thế... Khi có ai đó đơn giản yêu bạn như bạn vậy, bạn không thấy phép màu xảy ra rằng cái gì đó thay đổi, lập tức bắt đầu thay đổi, nhanh chóng đó sao? Chính sự chấp nhận rằng bạn được yêu như bạn vậy - không cái gì được mong đợi từ bạn - cho bạn linh hồn, làm cho bạn được hoà hợp, làm cho bạn tự tin, cho bạn tin cậy. Làm cho bạn cảm thấy rằng mình hiện hữu. Rằng bạn không cần hoàn thành các mong đợi, rằng bạn có thể HIỆN HỮU, rằng bản thể nguyên thuỷ của bạn được kính trọng.

Cho dù bạn có thể tìm ra một người kính trọng bạn hoàn toàn - bởi vì mọi phán xét đều là bất kính - người chấp nhận bạn như bạn vậy, người không đưa ra đòi hỏi nào với bạn, người nói, "Cứ như bạn vậy. Đích thực là bản thân mình. Tôi yêu bạn. Tôi yêu bạn, không phải điều bạn làm. Tôi yêu bạn vì bạn đang trong cái ta của bạn, cốt lõi bên trong nhất của bạn; tôi không lo nghĩ về ngoại vi của bạn và quần áo của bạn. Tôi yêu bản thể bạn - không phải cái bạn có. Tôi không quan tâm tới bạn có gì, tôi chỉ quan tâm tới một điều - bạn là gì. Và bạn đẹp vô cùng"...

Đó chính là tình yêu là gì. Đó là lí do tại sao tình yêu lại mang tính nuôi dưỡng thế. Khi bạn có thể tìm thấy người đàn bà hay đàn ông đơn giản yêu bạn - chẳng bởi lí do nào cả, chỉ vì yêu thôi - tình yêu biến đổi. Bỗng nhiên bạn là người khác, người mà bạn chưa bao giờ đã từng là. Bỗng nhiên mọi nỗi buồn đều biến mất, mọi đờ đẫn mất đi. Bỗng nhiên bạn thấy điệu vũ trong bước đi của mình, bài ca trong tim mình. Bạn bắt đầu đi theo cách khác - duyên dáng nảy sinh.

Quan sát điều đó: bất kì khi nào ai đó yêu bạn, chính hiện tượng yêu đó là đủ. Lạnh lẽo của bạn biến mất, bạn bắt đầu nồng hậu. Trái tim bạn không còn dửng dưng với thế giới. Bạn nhìn vào hoa nhiều hơn, bạn nhìn vào bầu trời nhiều hơn - bầu trời có thông điệp... bởi vì người đàn bà đã nhìn vào trong mắt bạn, hay người đàn ông đã nhìn vào trong mắt bạn và đã chấp nhận bạn hoàn toàn, không mong đợi gì. Nhưng điều này không kéo dài lâu, bởi vì mọi người ngu xuẩn thế. Tuần trăng mật này, chẳng chóng thì chầy sẽ biến mất - một tuần, hai tuần, ba tuần là nhiều nhất. Chẳng chóng thì chầy người đàn bà bắt đầu mong đợi và người đàn ông bắt đầu mong đợi. "Làm cái này. Không làm cái kia." Và bạn lại bị kéo lùi lại, bạn không còn trên trời nữa. Bạn lại bị nặng gánh, tình yêu đã biến mất. Bây giờ người đàn bà quan tâm nhiều tới ví tiền của bạn. Bây giờ người đàn ông quan tâm nhiều tới thức ăn của mình. Thu xếp chuyện gia đình, thu xếp nhà cửa, và cả nghìn lẻ một thứ chi tiết - nhưng bạn không còn hài hoà với bản thể của nhau nữa.

Nếu hài hoà đó vẫn còn, thế thì mọi sự là tốt. Bạn có thể cứ làm cả nghìn lẻ một thứ, chẳng cái gì bị rối loạn. Nhưng nếu hài hoà đó bị mất; bạn bắt đầu coi nhau như được cho không. Trong vòng ba tuần bạn đã dán nhãn lên nhau rồi. Cái ngày việc dán nhãn của bạn hoàn thành, tuần trăng mật qua đi.

Thiền tin vào tình yêu. Nó không tin vào qui tắc, qui định. Nó không tin vào bất kì kỉ luật bên ngoài nào, nó tin vào cái bên trong. Nó tới từ tình yêu, nó tới từ kính trọng, từ tin cậy. Khi bạn thiền, bạn bắt đầu tin cậy vào sự tồn tại. Thấy khác biệt: nếu bạn hỏi người Ki tô giáo hay người Hindu, tin cậy là đòi hỏi đầu tiên. Người đó nói, "Tin cậy sự tồn tại - thế thì ông sẽ biết Thượng đế là gì." Trong Thiền, đó không phải là đòi hỏi đầu tiên. Thiền nói: Thiền. Từ thiền tin cậy nảy sinh, và tin cậy làm cho sự tồn tại thành thiêng liêng. Tathata nảy sinh, tính như vậy nảy sinh.

Làm sao bạn có thể cứ kết án nếu bạn biết mọi thứ đều mang tính thượng đế? Cái gọi là người Vedantin ở Ấn Độ nói "Tất cả đều là Brahma" - nhưng họ vẫn cứ kết án. Họ vẫn cứ nói rằng người ta là tội đồ và người ta là thánh nhân, và thánh nhân sẽ lên trời còn tội đồ sẽ xuống địa ngục. Điều này dường như ngớ ngẩn, nếu tất cả đều là Brahma, tất cả đều là Thượng đế. Thế thì làm sao bạn có thể là tội đồ được? Thế thì chính Thượng đế là tội đồ trong bạn. Làm sao Thượng đế xuống địa ngục được?

Thiền nói ngày bạn biết tất cả đều là thiêng liêng, mọi thứ đều là Thượng đế. Nhưng họ không dùng từ "thượng đế" chút nào - bởi vì các tôn giáo khác đã làm biến chất từ này tồi tệ thế, làm ô uế nó, ô nhiễm nó, đầu độc nó. Họ không dùng từ "thượng đế." Khi bạn thiền, và dần dần bạn bắt đầu thấy mọi thứ như chúng vậy, và bạn bắt đầu tin cậy và kính trọng mọi thứ như chúng vậy, tin cậy nảy sinh. Tin cậy đó là tathata - như vậy.

Tathata dẫn tới tầm nhìn về tương quan lẫn nhau của sự tồn tại. Thế thì toàn thể vũ trụ là một đơn vị, vận hành trong một đơn vị hữu cơ. Họ có một từ đặc biệt cho nó, họ gọi nó là "jiji muge hokkai" - khi bạn đi tới biết rằng toàn thể sự tồn tại mang tính nhất thể - nó thực sự là uni-verse (một-vũ trụ), không phải là multiverse (đa vũ trụ) - rằng mọi thứ đều được nối với mọi thứ khác; rằng tội đồ và thánh nhân tất cả đều giống như một phần của một mạng lưới, họ không tách rời; rằng tốt và xấu được gắn liền nhau. Cũng như bóng tối và ánh sáng được gắn với nhau, cũng như chết và sống được gắn với nhau, tốt và xấu cũng vậy.

Mọi thứ đều được liên nối. Nó là một mạng, một hình mẫu đẹp.

Nghe những lời này của Berenson:

"Đó là một sáng đầu hè. Màn sương bạc lung linh và rung rinh trên những cây chanh. Không khí được chất đầy với sự âu yếm. Tôi nhớ... rằng tôi đã trèo lên gốc cây và bỗng nhiên cảm thấy được ngập vào trong cái nó đó. Tôi đã không gọi nó bằng cái tên đó; trong trạng thái đó của tâm trí không có lời. Nó thậm chí không phải là cảm giác. Tôi không có nhu cầu về lời. Nó và tôi là một. Đơn giản nó có đó, phúc lành."

Tathata nghĩa là đi tới một khoảnh khắc mà bạn bỗng nhiên thấy rằng sự tồn tại là một, liên quan lẫn nhau, nhảy múa trong một điệu vũ, và dàn nhạc. Và tất cả đều được cần tới - cái xấu cũng được cần tới nhiều như cái tốt. Jesus một mình sẽ không có tác dụng, Judas là điều phải có. Không có Judas, Jesus sẽ không giầu có thế. Vứt bỏ Judas ra khỏi Kinh Thánh và Kinh Thánh mất đi nhiều. Vứt bỏ Judas ra khỏi Kinh Thánh và Jesus ở đâu được? Jesus là gì? Judas cho sự tương phản; ông ấy tạo ra bối cảnh. Ông ấy trở thành đám mây tối trong đó Jesus trở thành niềm hi vọng. Không có mây tối sẽ không có niềm hi vọng. Jesus phải cảm ơn Judas. Và không phải ngẫu nhiên mà khi ông ấy rửa chân cho đệ tử của mình, chân đầu tiên ông ấy rửa là chân của Judas. Thế rồi khi ông ấy xin phép ra đi, nói lời tạm biệt, ông ấy ôm Judas nhiều hơn bất kì ai khác, ông ấy đã hôn Judas nhiều hơn bất kì ai khác. Ông này là đệ tử cao nhất.

Bây giờ, đây là bí ẩn đằng sau bí ẩn. Đã có tin đồn trong giới bí truyền, qua nhiều thời đại, rằng đó tất cả đã được bản thân Jesus lập kế hoạch. Gurdjieff tin điều đó nhiều lắm. Và có mọi khả năng là Judas đơn giản tuân theo mệnh lệnh từ Jesus - để phản bội ông ấy, đi và bán ông ấy cho kẻ thù. Và điều đó có vẻ logic hơn. Bởi vì dù Judas có thể là người xấu thế nào, chỉ bán Jesus lấy ba mươi đồng bạc thôi sao?... dường như quá nhiều. Judas đã ở cùng Jesus trong một thời gian dài, và ông ấy là đệ tử thông minh nhất trong tất cả. Ông ấy là người có giáo dục duy nhất, ông ấy là người duy nhất có thể được gọi là trí thức. Thực tế ông ấy còn là người thông thái hơn bản thân Jesus. Ông ấy là học giả quanh Jesus.

Dường như việc bán Jesus lấy ba mươi đồng bạc là quá nhiều. Không. Và bạn có biết điều gì đã xảy ra? Khi Jesus bị đóng đinh, Judas tự tử - ngày hôm sau. Người Ki tô giáo không nói nhiều về điều đó, nhưng nó phải được nói tới chứ. Sao ông ấy đã tự tử? Công việc của ông ấy đã chấm dứt - ông ấy phải đi với thầy. Người có thể bán thầy mình lấy ba mươi đồng bạc, bạn có thể nghĩ về người đó cảm thấy mặc cảm tới mức người đó phải tự tử không? Không thể được. Sao ông ấy phải bận tâm? Không, ông ấy đã đơn giản tuân theo mệnh lệnh từ thầy. Ông ấy không thể nói không - đó là một phần của sự buông xuôi của ông ấy. Ông ấy phải nói có. "Không" không thể được nói với thầy. Điều đó đã được lập kế hoạch. Có lí do trong nó: chính là qua việc đóng đinh mà thông điệp của Jesus đã sống trên thế giới này. Không có Ki tô giáo nếu không có việc đóng đinh này. Đó là lí do tại sao tôi gọi Ki tô giáo là "thập tự giáo." Nó không phải là Ki tô giáo - bởi vì chỉ Christ sẽ không có tác dụng, cây thập tự được cần tới cho nó xảy ra.

Khi bạn thấy tương quan của mọi sự, thế thì Judas cũng trở thành một phần của trò chơi mà Jesus là một phần. Thế thì xấu là một phần của tốt. Thế thì Quỉ không là ai ngoài thiên thần của Thượng đế - và tôi không gọi ông ấy là thiên thần sa ngã. Có thể đang trong sứ mệnh lớn trên thế giới, được bản thân Thượng đế phái tới - có thể là đệ tử gần gũi nhất của ông ấy.

Từ "devil - quỉ" bắt nguồn từ cùng gốc như "divine - thiêng liêng." Đó là chỉ dẫn. Vâng, Quỉ cũng là thiêng liêng.

Sasaki kể lại:

Khi thầy giáo của tôi nói với tôi về cái này, ông ấy nói, "Bây giờ nghĩ về bản thân mình. Em nghĩ em là người tách biệt, là hòn đảo. Nhưng em không là vậy. Không có bố và mẹ, em sẽ không có. Không có các bố và mẹ của họ, họ sẽ không có và em sẽ không có."

Và vân vân - bạn có thể đi tới chính lúc bắt đầu vô thuỷ. Bạn có thể cứ đi lùi mãi, và bạn sẽ thấy mọi thứ đã xảy ra trong sự tồn tại mãi cho tới nay, phải xảy ra để cho bạn xảy ra. Bằng không bạn sẽ không xảy ra. Bạn được liên nối thế. Bạn chỉ là một phần nhỏ của dây chuyền dài vô hạn. Tất cả những cái đang đó, đều được bao hàm trong bạn, tất cả những cái đã trôi qua đều được bao hàm trong bạn. Bạn là đỉnh, tại khoảnh khắc này, của tất cả những cái đã đi trước bạn. Trong bạn toàn thể quá khứ tồn tại. Nhưng đây không phải là tất cả. Từ bạn, con bạn sẽ tới, và con của con bạn... và vân vân.

Từ hành động của bạn sẽ tới hành động kết quả, và từ hành động kết quả sẽ tới các kết quả khác, và từ các kết quả khác sẽ có hành động khác. Bạn sẽ biến mất, nhưng bất kì cái gì bạn làm sẽ tiếp tục. Nó sẽ có sự dội lại, qua nhiều thời đại, tới chính tận cùng.

Cho nên toàn thể quá khứ đều được bao hàm trong bạn, và toàn thể tương lai nữa. Tại khoảnh khắc này quá khứ và tương lại gặp gỡ trong bạn, vô cùng vô tận, theo cả hai hướng. Bạn giữ bên trong mình hạt mầm từ đó tương lai sẽ nảy sinh, cũng nhiều như bạn tại khoảnh khắc này là trọn vẹn của quá khứ. Cho nên bạn là trọn vẹn của tương lai nữa. Khoảnh khắc này là tất cả, bạn là tất cả. Bởi vì cái toàn thể được bao hàm trong bạn, cái toàn thể đóng góp vào bạn. Cái toàn thể đan chéo bạn.

Họ nói rằng khi bạn chạm vào một nhành cỏ bạn đã chạm tới tất cả các vì sao. Bởi vì mọi thứ đều được bao hàm trong mọi thứ khác, mọi thứ đều ở bên trong mọi thứ khác.

Thiền gọi sự tham gia này của cái toàn thể trong từng bộ phận của nó là "jiji muge hokkai." Điều đó được minh hoạ bởi khái niệm về lưới vũ trụ. Lưới này được gọi là "lưới của Indra" ở Ấn Độ, một lưới lớn trải rộng khắp vũ trụ, chiều đứng biểu diễn thời gian, chiều ngang biểu diễn không gian. Tại từng điểm nơi dây lưới bắt chéo qua nhau là một hạt tinh thể, biểu tượng của một sự tồn tại. Từng hạt tinh thể phản xạ trên bề mặt của nó không chỉ mọi hạt khác trong lưới mà còn phản xạ mọi sự phản xạ khác của mọi hạt khác lên từng hạt riêng. Phản xạ vô tận, vô hạn lẫn nhau - điều này được gọi là jiji muge hokkai.

Khi Phật Gautam cầm một bông sen trong tay, ông ấy đang biểu lộ jiji muge hokkai này. Mahakashyapa đã hiểu điều đó. Đây là thông điệp - rằng trong bông sen nhỏ này tất cả đều được bao hàm: toàn thể quá khứ, toàn thể tương lai, mọi chiều đều được bao hàm. Trong bông sen nhỏ này, mọi thứ đã nở hoa, và mọi thứ khác sẽ nở hoa đều được chứa trong bông sen nhỏ này. Mahakashyapa cười; ông ấy đã hiểu thông điệp này: jiji muge hokkai. Đó là lí do tại sao bông hoa đã được trao cho Mahakashyapa, như một thẻ bài về việc truyền trao bên ngoài lời.

Do đó từ bi Phật giáo dành cho tất cả, và lòng biết ơn với tất cả, và sự kính trọng với tất cả - bởi vì mọi thứ đều được bao hàm trong nhau.

Bây giờ đến câu chuyện Thiền này:

Một tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên trộm cầm kiếm sắc đi vào, đòi nộp tiền hoặc mạng sống của ông ấy.

Shichiri nói với nó, "Đừng quấy rầy ta. Ông có thể tìm tiền ở ngăn kéo kia." Thế rồi ông ấy trở lại tụng kinh.

Không kết án, không phán xét. Đơn giản chấp nhận - dường như làn gió thoảng đã vào, không phải là tên trộm. Thậm chí không một thay đổi nhỏ trong mắt ông ấy - dường như người bạn đã tới, không phải kẻ trộm. Không thay đổi gì trong thái độ của ông ấy. Ông ấy nói, "Đừng quấy rầy ta. Ông có thể tìm tiền ở ngăn kéo kia. Ông không thấy ta đang tụng kinh sao? Ít nhất ông cũng nên kính trọng, đừng quấy rầy người đang tụng kinh, chỉ vì điều ngu xuẩn như tiền. Ông đi ra mà tự tìm lấy! Và đừng quấy rầy ta."

Bây giờ xem: ông ấy không chống lại kẻ trộm bởi vì nó đã tới ăn trộm. Ông ấy không chống lại kẻ trộm bởi vì người đó theo đuổi tiền, bị ám ảnh bởi tiền - không chẳng có gì thuộc loại đó. Sự chấp nhận đơn giản: đây là cách người đó là vậy. Và ai biết được? Đây là cách người đó PHẢI là vậy. Và tại sao tôi phải kết án? Tôi là ai? Nếu người đó có thể đủ tốt không quấy rầy tôi, thế là đủ, thế còn quá điều mong đợi từ ai đó khác. Cho nên xin đừng quấy rầy tôi.

Chút ít sau đó ông ấy dừng lại và gọi, "Đừng lấy cả đi. Ta cần một ít để đóng thuế ngày mai."

Hãy thấy ra vấn đề - thân thiện thế. Không có thù nghịch gì trong nó. Và bởi vì không có thù nghịch gì, không có sợ hãi trong nó. Bởi vì không có kết án, sự kính trọng sâu sắc thế, ông ấy có thể tin cậy rằng người đó sẽ đi. Khi bạn cho một cách toàn tâm thế, bạn có thể tin cậy - ngay cả người tồi nhất trong mọi người ít nhất cũng có sự kính trọng với sự kính trọng của bạn đối với người đó. Người đó sẽ kính trọng, bạn có thể tin cậy. Khi bạn tin cậy ai đó, khi bạn không phán xét và không kết án, bạn có thể tin cậy rằng người đó sẽ tin cậy bạn. Ông ấy đơn giản nói, "Đừng lấy cả đi. Ta cần một ít để đóng thuế ngày mai."

Tên trộm thu gần hết số tiền và bắt đầu bỏ đi. "Hãy cám ơn người khi ông nhận món quà..."

Bây giờ, thấy từ bi của người này. Ông ấy không gọi điều đó là ăn trộm; ông ấy nói, "Hãy cám ơn người khi ông nhận món quà." Ông ấy đang biến đổi; tầm nhìn của ông ấy là hoàn toàn khác. Ông ấy không muốn người này cảm thấy mặc cảm; từ bi của ông ấy thật mênh mông. Nếu không về sau người này sẽ bắt đầu cảm thấy mặc cảm. Người này nhất định cảm thấy mặc cảm - ăn cắp của nhà sư nghèo, người ăn xin nghèo, người chẳng có gì mấy ngay chỗ đầu tiên, ăn cắp của người sẵn sàng cho thế, tôi, người đã chấp nhận ông toàn bộ thế - người này sẽ cảm thấy mặc cảm, người này sẽ bắt đầu ăn năn. Người này sẽ không thể nào ngủ được khi về nhà. Người này phải quay lại vào buổi sáng để được tha thứ.

Không, điều đó sẽ là không tốt. Thiền không muốn tạo ra mặc cảm theo bất kì cách nào. Đó là điều Thiền tất cả là gì, một tôn giáo không tạo ra mặc cảm nào. Tôn giáo có thể rất dễ được tạo ra bằng mặc cảm, đó là điều các tôn giáo khác đã làm. Nhưng khi bạn tạo ra mặc cảm bạn đã tạo ra cái gì đó còn tồi tệ hơn bạn sẽ chữa chạy. Thiền không tạo ra mặc cảm nào, làm mọi chăm sóc để không tạo ra bất kì mặc cảm nào trong bất kì ai.

Bây giờ ông ấy nói, "Hãy cám ơn người khi ông nhận món quà. Đây là món quà! Ông thậm chí không biết đền điều này sao? Ta đang cho ông - ông không ăn trộm nó từ ta." Khác biệt làm sao! Nó là cùng một điều.

Đây là điều Thiền nói: Cho - thay vì nó bị giật mất. Và đây là toàn bộ tầm nhìn về cuộc sống. Trước khi cái chết tới cho đi mọi thứ để cái chết không cần cảm thấy mặc cảm. Trao cuộc sống của bạn cho cái chết như món quà. Đây là từ bỏ của Thiền. Nó khác toàn bộ với từ bỏ của người Hindu hay Cơ đốc giáo - họ cho để được. Thiền cho để cho không mặc cảm nào bị tạo ra ở bất kì đâu trên thế giới; không mặc cảm nào được cảm thấy đằng sau.

 Người này cám ơn ông ấy và chuồn mất. Vài ngày sau đó tên trộm bị bắt, và thú nhận, trong số những người khác, đã phạm tội với Shichiri. Khi Shichiri được triệu tới làm nhân chứng ông ấy nói, "Người này không phải là kẻ trộm, ít nhất khi có liên quan tới ta. Ta đã cho anh ta tiền và anh ta cám ơn ta về điều đó."

Bạn thấy vấn đề không? Kính trọng làm sao! Kính trọng mênh mông làm sao! Kính trọng vô điều kiện làm sao với một người - với tên trộm!

Nếu Shichiri này mà là thánh nhân Ki tô giáo, ông ấy đã doạ người này phải bị đầy địa ngục - và ở địa ngục vĩnh viễn. Nếu ông ấy mà là thánh nhân Hindu, ông ấy đã thuyết giảng cho người này một bài dài lê thê về không trộm cắp, và ông ấy đã làm cho người này hoảng sợ rằng người này sẽ bị tống vào ngọn lửa địa ngục. Ông ấy sẽ vẽ ra bức tranh rùng rợn về địa ngục, và ông ấy sẽ thuyết giảng cái vô dụng của tiền.

Trông đấy: Thiền sư không nói gì về tính vô dụng của tiền. Thực tế, thay vì thế ông ấy nói, "Để lại một ít cho ta; đến sáng ta sẽ cần nó." Tiền có mục đích. Người ta cần không bị ám ảnh, theo cách này hay cách nọ, ủng hộ hay chống đối. Tiền là thứ tiện dụng. Bạn cần không chỉ sống vì tiền, và bạn không cần chống lại tiền. Nó chỉ là thứ tiện dụng. Đó chính là thái độ của tôi với tiền là gì: Tiền phải được dùng, nó là công cụ.

Trong thế giới tôn giáo, tiền bị kết án rất nhiều - người tôn giáo rất sợ tiền. Nỗi sợ đó không là gì ngoài tham lam đứng lộn đầu. Nó là cùng tham lam đó mà bây giờ đã trở thành sợ hãi. Nếu bạn đi tới thánh nhân Hindu với tiền trong tay ông ấy sẽ nhắm mắt lại, ông ấy sẽ không nhìn vào tiền. Nhiều sợ hãi tiền thế sao? Sao bạn phải nhắm mắt? Ông ấy sẽ cứ nói rằng tiền là bẩn thỉu - nhưng ông ấy chẳng bao giờ nhắm mắt khi ông ấy nhìn vào cái bẩn thỉu. Điều này là rất phi logic. Thực tế, nếu tiền là bẩn thỉu thì ông ấy phải nhắm mắt trong hai mươi bốn giờ, bởi vì bẩn thỉu ở mọi nơi. Tiền là bẩn sao? Thế thì sao lại sợ bẩn thế? Nỗi sợ là gì?

Thiền có cách tiếp cận hoàn toàn khác và rất nền tảng. Thầy không nói rằng tiền là bẩn và bạn không nên tìm tiền của người khác. Nó có liên quan gì tới mọi người? Tiền chẳng của ai cả. Cho nên nói với ai đó, "Anh là tên trộm," là tin vào tài sản riêng tư. Là tin rằng ai đó có thể có nó một cách đúng đắn và ai đó có thể có nó một cách sai trái, ai đó có quyền sở hữu nó và ai đó không có quyền.

Trộm cắp bị kết án bởi vì tâm trí tư bản trên thế giới; nó là một phần của tâm trí tư bản. Tâm trí tư bản nói tiền thuộc về ai đó - có người chủ đúng, và không ai được lấy nó đi.

Nhưng Thiền nói chẳng cái gì thuộc vào bất kì ai cả, không ai là người chủ đúng. Làm sao bạn có thể sở hữu thế giới này được? Bạn tới thế giới này với hai bàn tay trắng, bạn ra đi khỏi nó với hai bàn tay trắng - bạn không thể sở hữu nó được. Không ai sở hữu nó; chúng ta dùng nó. Và chúng ta tất cả đều cùng nhau ở đây để dùng nó. Và chúng ta tất cả ở đây để dùng nó. Đó là thông điệp: "Cầm lấy tiền! nhưng để lại một ít cho ta nữa. Ta cũng ở đây để dùng nó, cũng như ông ở đây để dùng nó."

Thái độ thực tế thế, thái độ kinh nghiệm thế! Và tự do với tiền thế! Và ở toà án ông ấy nói, "Người này không phải là kẻ trộm..." Ông ấy đã biến kẻ trộm này thành người bạn. Ông ấy nói, "... ít nhất khi có liên quan tới ta. Ta không biết về những người khác - làm sao ta có thể biết được về người khác? Điều này thì ta biết: Ta đã cho anh ta tiền và anh ta đã cám ơn ta về điều đó. Điều đó đã kết thúc, tài khoản đã đóng rồi. Anh ta không nợ gì với ta cả. Anh ta đã cám ơn ta về điều đó - người ta còn có thể làm gì khác được?"

Nhiều nhất chúng ta có thể cho lời cám ơn. Chúng ta có thể cám ơn sự tồn tại về tất cả những điều nó đã cho chúng ta - chúng ta có thể làm gì khác được?

Sau khi đã mãn hạn tù, người này tới Shichiri và trở thành đệ tử của ông ấy.

Bạn có thể làm được điều gì khác với người như Shichiri? Bạn phải trở thành đệ tử. Ông ấy đã chuyển đổi kẻ trộm thành sannyasin. Đây là giả kim thuật của thầy, thầy chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội nào. Bất kì cơ hội nào có đấy, thầy đều dùng nó - ngay cả kẻ trộm tới thầy, người đó sẽ biến thành sannyasin.

Tới tiếp xúc với thầy là được biến đổi. Bạn có thể đã tới vì cái gì đó khác, bạn có thể không tới thầy chút nào - kẻ trộm này đã không ở đó vì thầy. Thực tế, nếu mà người đó biết rằng trong lều này một bậc thầy sống, người đó đã không dám vào chút nào. Người đó đã tới chỉ vì tiền; người đó đã loạng choạng ngẫu nhiên vớ phải thầy. Nhưng ngay cả bạn có ngẫu nhiên gặp vị phật, điều đó sẽ thay đổi bạn toàn bộ. Bạn sẽ không bao giờ còn là con người cũ nữa.

Nhiều người trong các bạn đang ở đây chỉ bởi tình cờ. Các bạn đã không đi tìm tôi, các bạn đã không kiếm tôi. Bởi cả nghìn lẻ một ngẫu nhiên mà các bạn đã tới đây. Nhưng sự việc trở thành ngày càng khó ra đi.

Thầy không thuyết giảng, thầy chẳng bao giờ nói cái gì đáng phải làm. Bồ đề đạt ma nói, "Thiền chẳng có gì để nói cả, nhưng Thiền có nhiều cái để biểu lộ." Bậc thầy này đã chỉ ra con đường cho tên trộm. Ông ấy đã thay đổi người này, và ông ấy đã thay đổi người này tài tình thế. Ông ấy phải đã là nhà giải phẫu vĩ đại - ông ấy đã mổ trái tim người này... và không âm thanh nào được nghe thấy. Ông ấy đã phá huỷ người này toàn bộ, và ông ấy đã tạo ra người này lần nữa. Và người này thậm chí không nhận biết về điều đã xảy ra. Đây chính là phép màu của thầy là gì.

Lời kinh Thiền nói: "Con người của hiểu biết không bác bỏ sai sót." Khi tôi bắt gặp nó, trái tim tôi nhảy múa. Tụng lời kinh này trong cốt lõi sâu thẳm nhất của trái tim bạn: Con người của hiểu biết không bác bỏ sai sót.

Và một bậc thầy khác, khi nói lời kinh này, đã bình luận - tên ông ấy là Ohasama - ông ấy đã bình luận: "Chân lí không cần được thăm dò trước, vì nó hiện diện ở mọi nơi, ngay cả trong sai sót. Do đó người bác bỏ sai sót là bác bỏ chân lí."

Những người này thật là vĩ đại! Những người bác bỏ sai sót là bác bỏ chân lí. Bạn có thấy cái đẹp của nó không? Người cấp tiến, người cách mạng, quan điểm về điều đó là gì? Shichiri đã không bác bỏ người này bởi vì người này là kẻ trộm; ông ấy không bác bỏ người này bởi vì sai sót của người này - bởi vì đằng sau sai sót đó là sự tồn tại thiêng liêng, là thượng đế. Bác bỏ sai sót, và bạn bác bỏ cả thượng đế nữa. Bác bỏ sai sót, và bạn bác bỏ chân lí, cái ẩn đằng sau nó.

Ông ấy chấp nhận sai sót để chấp nhận chân lí. Một khi chân lí nảy sinh, được chấp nhận, lan toả, sai sót sẽ biến mất theo cách riêng của nó. Bạn không cần tranh đấu với bóng tối - đó là nghĩa. Đơn giản thắp sáng ngọn nến. Bạn không cần tranh đấu với bóng tối, chỉ thắp sáng ngọn nến. Thầy thắp sáng ngọn nến trong người này.

Đích xác như nhau, nhưng chút ít Thiền hơn, có câu chuyện khác về bậc thầy khác - gần như nhau, nhưng vẫn mang tính Thiền hơn.

                                                                                                            Một đêm khi Thầy Taigan đang viết thư một tên trộm bước vào phòng ông ấy tay lăm lăm chiếc kiếm lớn tuốt trần. Nhìn vào tên trộm, thầy nói, "Anh muốn gì - tiền hay mạng ta?"

Bây giờ, điều này Thiền nhiều hơn - ông ấy không cho tên trộm cơ hội nói điều gì. Shichiri ít nhất cũng để cho nó có cơ hội; với Shichiri tên trộm hỏi: một tên trộm cầm kiếm sắc đi vào phòng của Shichiri, đòi nộp tiền hoặc mạng sống của ông ấy. Taigan đã cải tiến điều đó. Có thể Taigan xảy ra sau - ông ấy phải đã bắt gặp câu chuyện của Shichiri. Ông ấy không để cho tên trộm cơ hội ấy. Ông ấy nói với tên trộm này, "Anh muốn gì - tiền hay mạng ta? Cả hai đều không liên quan - bất kì anh cần cái gì, anh có thể lấy. Đó là chọn lựa của anh."

"Ta tới vì tiền," tên trộm đáp, chút ít sợ hãi.

Người này - tên trộm chưa bao giờ bắt gặp thứ dữ vậy - ông ấy nói, "Anh muốn gì - tiền hay mạng ta?" và dễ dàng cho thế: "Anh có thể chọn." Không kết án, chẳng có gì như thế. Ngay cả nó có chọn mạng ông ấy, Taigan cũng cho. Tất cả những cái đó đằng nào cũng bị lấy đi, tốt hơn cả là cho luôn. Ngày này hay ngày khác ngay cả cuộc sống cũng sẽ biến mất - cho nên sao lo nghĩ về nó? Cái chết đang tới, cứ để tên trộm này tận hưởng khoảnh khắc này.

"Ta tới vì tiền," tên trộm đáp, chút ít sợ hãi.

Thầy lấy ví ra và đưa nó cho người này, nói, "Đây lấy đi!" Rồi thầy quay lại viết thư cứ cường như chẳng có gì xảy ra.

Tên trộm bắt đầu cảm thấy không thoải mái và rời khỏi phòng, quá kính nể. "Này! Đợi chút đã!" thầy gọi. Tên trộm đứng lại, run bắn. "Sao anh không đóng cửa lại?" thầy nói.

Nhiều ngày sau, tên trộm bị quan bắt và nói, "Tôi đã ăn cướp trong nhiều năm, nhưng tôi chưa bao giờ kinh khiếp thế khi bậc thầy Phật giáo đó gọi tôi, "Này! Đợi chút đã!"Tôi vẫn còn run bắn."

"Người đó rất nguy hiểm, và tôi chưa bao giờ có thể quên được ông ấy. Và cái ngày tôi được thả ra khỏi nhà tù, tôi sẽ tới ông ấy. Tôi chưa bao giờ bắt gặp một người như vậy - với phẩm chất như vậy! Tôi cầm kiếm tuốt trần trong tay, nhưng cái đó chẳng là gì cả. Ông ấy là lưỡi kiếm tuốt trần."

Những lời này - "Này! Đợi chút đã!" - và tên trộm nói, "Tôi vẫn còn run bắn."

Khi bạn tới gần một bậc thầy, ông ấy sẽ giết bạn. Làm sao bạn có thể giết được thầy? Cho dù bạn có kiếm tuốt trần, bạn vẫn không thể giết được thầy; thầy sẽ giết bạn. Và thầy giết theo cách tinh tế tới mức bạn chưa bao giờ trở nên nhận biết là bạn đã bị giết. Bạn trở nên nhận biết chỉ khi bạn được tái sinh. Bỗng nhiên một ngày nào đó bạn không còn như cũ nữa. Bỗng nhiên một ngày nào đó con người cũ mất rồi. Bỗng nhiên một ngày nào đó mọi thứ tươi tắn và mới mẻ - chim chóc hót vang, lá mới mọc ra trong bạn. Dòng sông tù đọng lại tuôn chảy, bạn đi tới đại dương.

Câu chuyện khác:

Một Thiền sư đã bị bắt vào tù vài lần.

... Bây giờ một bước thêm nữa! Những Thiền nhân này thực sự là những người gàn dở, người điên - nhưng họ làm những điều hay. "Một Thiền sư đã bị bắt vào tù vài lần." Bây giờ, một điều là tha thứ cho kẻ trộm, một điều là không coi người đó là xấu, một điều khác là tự mình vào tù. Và không chỉ một lần, nhiều lần - vì ăn cắp những thứ nhỏ bé của hàng xóm. Và hàng xóm biết, và họ phân vân: Sao người này lại ăn cắp? - và những thứ nhỏ bé thế. Nhưng khoảnh khắc ông ấy ra khỏi nhà tù ông ấy sẽ lại ăn cắp nữa, và ông ấy sẽ quay lại. Ngay cả quan toà cũng phải lo nghĩ. Nhưng họ phải tống ông ấy vào tù, bởi vì ông ấy sẽ thú tội. Ông ấy chẳng bao giờ nói, "Tôi đã không ăn cắp."

Cuối cùng, các hàng xóm tụ tập lại, và họ nói. "Thưa ông, xin đừng ăn cắp nữa.

"Ông già rồi, và chúng tôi sẵn sàng cung cấp cho ông đủ mọi thứ ông cần - tất cả mọi thứ cần thiết, dù nó là gì. Ông chấm dứt việc này đi! Chúng tôi rất lo nghĩ, và chúng tôi rất buồn. Sao ông cứ làm điều này?"

Và ông già này cười. Và ông ấy nói:

"Tôi ăn cắp để vào với các tù nhân, và đem tới cho họ thông điệp bên trong."

"Ai sẽ giúp họ đây? Bên ngoài, với các ông là tù nhân, có nhiều thầy rồi. Nhưng trong tù không có thầy. Ai sẽ giúp họ, các ông nói cho tôi xem nào? Đây là cách của tôi để vào và giúp những người đó. Cho nên khi hình phạt của tôi hết và tôi bị tống ra, tôi phải ăn cắp cái gì đó và quay trở lại. Tôi định tiếp tục việc này. Và tôi đã thấy ở đó trong tù những linh hồn đẹp thế, linh hồn hồn nhiên thế - đôi khi còn hồn nhiên hơn nhiều..."

Có lần điều đó xảy ra, một trong các bạn tôi trở thành thống đốc của một bang ở Ấn Độ, và ông ấy đã cho phép tôi vào nhà tù trong khắp bang của ông ấy. Tôi tới trong nhiều năm, và tôi ngạc nhiên. Những người trong tù còn hồn nhiên hơn nhiều so với các chính khách, hơn những người giầu, hơn cái gọi là thánh nhân. Tôi biết hầu hết các thánh nhân ở Ấn Độ. Họ tinh ranh hơn. Tôi đã thấy trong những kẻ tội phạm những linh hồn hồn nhiên thế... Tôi có thể hiểu ý tưởng của Thiền sư già này - về việc ăn cắp, bị bắt, và đem thông điệp cho họ: "Tôi ăn cắp để vào với những tù nhân, và đem tới cho họ thông điệp bên trong."

Thiền không có hệ thống giá trị. Thiền chỉ đem một điều vào trong thế giới này, và đó là hiểu biết, nhận biết. Qua nhận biết mà hồn nhiên tới. Và hồn nhiên là hồn nhiên của tốt và xấu, cả hai. Hồn nhiên đơn giản là hồn nhiên - nó không biết tới phân biệt.

Câu chuyện cuối cùng, Nó là về Ryokan - ông ấy là người yêu trẻ em vĩ đại. Như có thể được mong đợi về nhân vật như ông ấy, bản thân ông ấy là đứa trẻ. Ông ấy là đứa trẻ mà Jesus nói tới. Ông ấy hồn nhiên tới mức gần như không thể nào tin nổi rằng một người có thể hồn nhiên thế. Ông ấy không tinh ranh, không láu cá. Ông ấy hồn nhiên tới mức mọi người thường nghĩ rằng ông ấy chút ít điên khùng.

Ryokan thích chơi với trẻ con. Ông ấy chơi trốn tìm, ông ấy chơi tamari, bóng tay nữa. Một tối đến lượt ông ấy đi trốn, và ông ấy ẩn mình kín trong đống rơm trên cánh đồng. Trời gần tối và trẻ con, không thể nào tìm được chỗ ông ấy, rời cánh đồng về nhà.

Sáng sớm hôm sau, một nông dân tới và phải dọn đống rơm để bắt đầu làm việc. Tìm thấy Ryohan ở đó, ông ta kêu lên, "Ôi, Ryokan-sama! Ông làm gì ở đây thế?"

Bậc thầy trả lời, "Suỵt! Đừng nói to thế, tụi trẻ sẽ tìm thấy tôi."

Cả đêm dưới đống rơm đó ông ấy chờ đợi lũ trẻ! Hồn nhiên thế là Thiền, và hồn nhiên thế là thiêng liêng. Hồn nhiên thế không biết tới phân biệt giữa tốt và xấu, không biết tới phân biệt giữa thế giới này và thế giới kia, không biết phân biệt giữa cái này và cái nọ. Hồn nhiên thế là điều như vậy là gì.

Và tính như vậy là cốt lõi bên trong nhất của tính tôn giáo.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập