Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Cách sống có ý thức Từ bi : Việc nở hoa tối thượng của tình yêu
 
 
Cách sống có ý thức

Từ bi : Việc nở hoa tối thượng của tình yêu - (3)

Từ bi trong hành động

Không ai có thể không ích kỉ được - ngoại trừ kẻ đạo đức giả.

Từ "ích kỉ" đã mang liên tưởng rất kết án, bởi vì tất cả các tôn giáo đều kết án nó. Họ muốn bạn không ích kỉ. Nhưng tại sao? Để giúp người khác...

Tôi nhớ: Một đứa trẻ nhỏ nói với mẹ nó, và bà mẹ nói, "Con bao giờ cũng phải nhớ giúp đỡ người khác." Và đứa trẻ hỏi, "Thế những người khác sẽ làm gì?" Một cách tự nhiên bà mẹ nói, "Họ sẽ giúp người khác." Đứa trẻ nói, "Đây cứ như là một kế hoạch lạ kì. Sao không tự giúp mình, thay vì chuyển nó sang người khác và làm mọi thứ phức tạp không cần thiết?"

Ích kỉ là tự nhiên. Vâng, sẽ tới một khoảnh khắc mà bạn chia sẻ bởi việc là ích kỉ. Khi bạn ở trong trạng thái tuôn tràn niềm vui, thế thì bạn có thể chia sẻ. Ngay bây giờ người khổ đang giúp người khổ khác, người mù đang dẫn đường cho người khác cũng mù. Bạn có thể giúp được gì? Đó là ý tưởng rất nguy hiểm, đã lan tràn qua nhiều thế kỉ.

Trong một trường nhỏ cô giáo bảo lũ trẻ, "Ít nhất một lần một tuần các con phải làm một điều tốt." Một đứa trẻ hỏi, "Thưa cô, cô cho chúng con ví dụ về làm điều tốt. Chúng con không biết tốt là gì." Thế là cô nói, "Chẳng hạn, một bà mù muốn qua đường; hãy giúp bà ấy đi qua đường. Đây là việc tốt; đây là đức hạnh."

Tuần sau cô giáo hỏi, "Ai trong các con nhớ làm điều cô đã nói với các con?" Ba đứa trẻ giơ tay lên. Cô nói, "Điều này không tốt - cả lớp đã không theo lời cô. Nhưng dẫu sao, điều tốt là ít nhất ba em trai đã làm điều gì đó tốt." Cô hỏi đứa thứ nhất, "Con đã làm gì?" Nó nói, "Đích xác điều cô đã nói đấy: Một bà già bị mù, con đã giúp bà ấy qua đường."

Cô nói, "Điều đó rất tốt. Thượng đế ban phúc lành cho con." Cô hỏi đứa thứ hai, "Con đã làm gì nào?" Nó nói, "Cũng điều đó - một bà già mù, con đã giúp bà ấy qua đường." Cô giáo đâm ra phân vân chút ít. Chúng kiếm đâu ra lắm bà già mù thế này? Nhưng đó là thành phố lớn; có lẽ chúng có thể đã tìm ra hai bà. Cô giáo hỏi đứa thứ ba, và nó nói, "Con đã làm đúng điều các bạn đã làm: giúp bà già mù qua đường."

Cô giáo hỏi, "Nhưng con tìm đâu ra những ba bà mù?" Chúng nói, "Cô không hiểu - không có ba bà mù đâu, chỉ có một bà mù thôi. Và khó giúp bà ấy đi qua đường thế! Bà ấy đánh chúng con và la hét ầm ĩ vì bà ấy không muốn đi qua đường, nhưng chúng con đã định làm hành động đức hạnh nào đó. Một đám đông xúm lại, mọi người đều mắng chúng con, nhưng chúng con nói, 'Đừng lo. Chúng cháu đang đưa bà ấy sang phía bên kia đường.' Nhưng bà ấy chẳng bao giờ muốn qua bên kia cả!"

Mọi người được bảo hãy giúp người khác, và họ trống rỗng bên trong bản thân mình. Họ được bảo hãy yêu người khác - hãy yêu hàng xóm của mình, yêu kẻ thù của mình - và họ chưa bao giờ được bảo hãy yêu lấy bản thân mình. Tất cả các tôn giáo, trực tiếp hay gián tiếp, đều bảo mọi người hãy ghét bản thân mình. Người ghét bản thân mình không thể yêu được bất kì ai; người đó chỉ có thể giả vờ.

Điều căn bản là yêu bản thân bạn toàn bộ tới mức tình yêu tràn ngập bạn và đạt tới người khác. Tôi không chống lại việc chia sẻ, nhưng tôi tuyệt đối chống lại chủ nghĩa vị tha. Tôi ủng hộ chia sẻ, nhưng đầu tiên bạn phải có cái gì đó để chia sẻ. Và thế rồi bạn không làm gì như ban ơn cho bất kì ai - ngược lại, người nhận cái gì đó từ bạn đang ban ơn cho bạn. Bạn phải cám ơn bởi vì người khác có thể đã bác bỏ sự giúp đỡ của bạn; người khác đã hào phóng.

Toàn thể nhấn mạnh của tôi là ở chỗ cá nhân nên hạnh phúc, phúc lạc, im lặng, mãn nguyện tới mức từ trạng thái thoả mãn của mình người đó bắt đầu chia sẻ. Người đó có nhiều thế, người đó giống như đám mây mưa - người đó phải mưa rào.

Nếu cơn khát của người khác được dịu đi, nếu cơn khát của đất được dịu đi, đó là điều phụ. Nếu từng cá nhân đều tràn đầy niềm vui, đầy ánh sáng, đầy im lặng, người đó sẽ chia sẻ nó mà không ai bảo người đó, bởi vì việc chia sẻ là niềm vui thế. Trao nó cho ai đó còn vui sướng hơn là có nó.

Nhưng toàn bộ cấu trúc phải được thay đổi. Mọi người không nên được bảo vị tha. Họ đều khổ - họ có thể làm gì được? Họ mù - họ có thể làm gì được? Họ đã bỏ lỡ cuộc sống của mình - họ có thể làm gì được? Họ có thể cho chỉ cái họ có. Cho nên mọi người đang cho khổ sở, buồn tủi, phiền não, lo lắng cho mọi người khác, những người tới tiếp xúc với họ. Đây là vị tha đấy! Không, tôi muốn mọi người hoàn toàn ích kỉ.

Từng cây đều ích kỉ: Nó lấy nước về rễ nó, nó đem nhựa cây vào cành của nó, vào lá, vào quả, vào hoa. Và khi nó nở hoa, nó toả ra hương thơm cho mọi người - biết, không biết, quen thuộc, xa lạ. Khi nó nặng trĩu với quả, nó chia sẻ, nó cho những quả đó. Nhưng nếu bạn dạy những cây này phải vị tha, tất cả những cây này sẽ chết, cũng như toàn thể nhân loại đã chết - chỉ các cái xác bước đi. Và bước đi đâu? Bước đi tới nghĩa địa của họ, chung cuộc nghỉ ngơi trong nấm mồ của họ.

Cuộc sống nên là điệu vũ. Và cuộc sống của mọi người có thể là điệu vũ. Nó nên là âm nhạc - và thế thì bạn có thể chia sẻ; bạn sẽ phải chia sẻ. Tôi không phải nói điều đó, bởi vì đây là một trong những luật nền tảng của sự tồn tại: Bạn càng chia sẻ phúc lạc của mình, nó càng phát triển nhiều hơn.

Nhưng tôi dạy tính ích kỉ.

Đừng là luật sư, là người yêu

Trong Matthew 22 có nói

Thế rồi một trong họ, người là luật sư, đã hỏi ông ấy một câu hỏi, khích ông ấy, và nói, Thưa Thầy, lời nào là lời răn vĩ đại trong luật?

Jesus nói với ông ấy, ông phải yêu Thượng đế bằng cả trái tim mình, bằng cả linh hồn mình, bằng cả tâm trí mình. Đây là lời răn vĩ đại và đầu tiên. Và lời răn thứ hai cũng giống nó, ông phải yêu hàng xóm của mình như bản thân mình.

Tất cả luật pháp và nhà tiên tri đều phải bám theo hai lời răn này.

Hai từ - luật pháp và tình yêu - là cực kì có ý nghĩa. Chúng đại diện cho hai kiểu tâm trí, các cực đối lập. Tâm trí mang tính luật pháp không bao giờ có thể yêu, còn tâm trí yêu không bao giờ có thể mang tính luật pháp. Quan điểm luật pháp là phi tôn giáo; nó mang tính chính trị, xã hội. Còn quan điểm của tình yêu là phi chính trị, phi xã hội - cá nhân, riêng tư, tôn giáo.

Moses, Manu, Marx, Mao, đây là các tâm trí luật pháp; họ đã đem luật pháp cho thế giới. Jesus, Krishna, Phật, Lão Tử, đây là những con người của tình yêu. Họ đã không đem lời răn luật pháp cho thế giới, họ đã cho tầm nhìn hoàn toàn khác.

Tôi đã nghe một câu chuyện về Frederick Đại đế, Vua của vùng Prussia - ông ấy là một tâm trí luật pháp. Một người đàn bà tới ông ấy và phàn nàn về chồng mình. Bà ấy nói, "Tâu bệ hạ, chồng thần đối xử với thần rất tồi tệ."

Frederick Đại đế nói, "Đó không phải là việc của ta."

Nhưng người đàn bà này vẫn kiên trì. Bà ấy nói, "Tâu bệ hạ, không chỉ thế đâu, ông ấy còn nói xấu về bệ hạ nữa."

Frederick Đại đế nói, "Đó không phải là việc của ngươi." Đây là tâm trí luật pháp.

Tâm trí luật pháp bao giờ cũng nghĩ về luật lệ, không bao giờ về tình yêu. Tâm trí luật pháp nghĩ về công lí nhưng không bao giờ về từ bi; và công lí mà không có từ bi thì không bao giờ có thể công bằng được. Công lí mà không có từ bi trong nó thì nhất định là không công bằng; và từ bi mà có thể có vẻ không công bằng thì nhất định công bằng. Chính bản chất của từ bi là công bằng; công lí theo sau từ bi như cái bóng. Nhưng từ bi không theo sau công lí như cái bóng, bởi vì từ bi là điều thực, tình yêu là điều thực. Cái bóng của bạn theo sau bạn; bạn không theo sau cái bóng của mình.. Cái bóng không thể lãnh đạo được, cái bóng phải theo sau. Và đây là một trong những tranh cãi sôi nổi nhất của lịch sử nhân loại - liệu Thượng đế là tình yêu hay luật pháp, liệu Thượng đế là công bằng hay từ bi.

Tâm trí luật pháp nói Thượng đế là luật lệ, là công bằng. Nhưng tâm trí luật pháp không thể biết được Thượng đế là gì, bởi vì Thượng đế chỉ là cái tên khác cho tình yêu. Tâm trí luật pháp không thể đạt tới chiều đó được. Tâm trí luật pháp bao giờ cũng cứ đổ trách nhiệm lên ai đó khác - xã hội, cấu trúc kinh tế, lịch sử. Với tâm trí luật pháp, người khác bao giờ cũng chịu trách nhiệm. Tình yêu nhận trách nhiệm về bản thân nó: bao giờ cũng là tôi chịu trách nhiệm, không phải bạn.

Một khi bạn hiểu rằng bạn chịu trách nhiệm, bạn bắt đầu nở hoa. Luật pháp là cái cớ. Nó là tinh ranh của tâm trí, để cho bạn bao giờ cũng có thể bảo vệ bản thân mình, phòng thủ bản thân mình. Tình yêu là mong manh, luật pháp là sự thu xếp phòng thủ. Khi bạn yêu ai đó, bạn không nói tới luật lệ. Khi bạn yêu, luật lệ biến mất - bởi vì tình yêu là luật tối thượng rồi. Nó không cần luật lệ khác, nó là đủ lên chính nó. Và khi tình yêu bảo vệ bạn, bạn không cần bảo vệ nào khác. Đừng tuân thủ pháp luật một cách tuyệt đối, bằng không bạn sẽ bỏ lỡ tất cả những cái đẹp đẽ trong cuộc sống. Đừng là luật sư, mà là người yêu, nếu không bạn sẽ cứ bảo vệ bản thân mình, và đến cuối cùng bạn sẽ thấy rằng chẳng có gì để bảo vệ cả - bạn đã bảo vệ mỗi bản ngã trống rỗng. Và bạn bao giờ cũng có thể tìm ra cách thức và phương tiện để bảo vệ bản ngã trống rỗng.

Tôi đã nghe một câu chuyện về Oscar Wilde. Vở kịch đầu tiên của ông ấy được đưa lên sân khấu và nó thất bại hoàn toàn; nó bị thất bại. Khi ông ấy ra khỏi rạp, bạn bè hỏi, "Vở kịch thế nào rồi?" Ông ấy nói, "Nó thành công lớn. Nhưng khán giả là thất bại lớn."

Đây là tâm trí luật pháp, bao giờ cũng cố gắng bảo vệ bản ngã trống rỗng - chẳng có gì ngoài bong bóng xà phòng, hổng hoác bên trong, đầy trống rỗng và chẳng có gì trong nó cả. Nhưng luật lệ cứ bảo vệ nó. Nhớ, khoảnh khắc bạn trở nên có tính luật lệ, khoảnh khắc bạn bắt đầu nhìn cuộc sống qua luật lệ - có thể luật lệ là của chính phủ, hay luật lệ của nhà thờ, cũng chẳng khác biệt gì - khoảnh khắc bạn bắt đầu nhìn cuộc sống qua luật lệ, qua qui tắc đạo đức, kinh sách, lời răn, bạn bắt đầu bỏ lỡ nó.

Người ta cần mong manh để biết cuộc sống là gì; người ta cần hoàn toàn cởi mở, bất an ninh. Người ta cần có khả năng chết trong việc biết nó - chỉ thế thì người ta mới đi tới biết cuộc sống. Nếu bạn sợ chết bạn sẽ không bao giờ biết cuộc sống, bởi vì sợ hãi không bao giờ có thể biết được. Nếu bạn không sợ chết, nếu bạn sẵn sàng chết để biết nó, bạn sẽ biết cuộc sống, cuộc sống vĩnh hằng, cái không bao giờ chết. Luật lệ là sợ hãi ẩn kín, tình yêu là can đảm được diễn đạt.

Khi bạn yêu, sợ biến mất - bạn có quan sát không? Khi bạn yêu, không có sợ. Nếu bạn yêu một người, sợ hãi biến mất. Bạn càng yêu nhiều, sợ hãi càng biến mất nhiều. Nếu bạn yêu một cách toàn bộ, sợ hãi tuyệt đối vắng bóng. Sợ hãi nảy sinh chỉ khi bạn không yêu. Sợ hãi là thiếu vắng của tình yêu, luật lệ là thiếu vắng của tình yêu, bởi vì luật lệ về căn bản không là gì ngoài việc bảo vệ cho trái tim run rẩy bên trong của bạn - bạn sợ, bạn muốn bảo vệ bản thân mình.

Nếu xã hội dựa trên luật lệ, xã hội đó sẽ vẫn còn liên tục trong sợ hãi. Nếu xã hội dựa trên tình yêu, sợ hãi biến mất và luật lệ không được cần tới - toà án sẽ không được cần tới; địa ngục và cõi trời sẽ không được cần tới. Địa ngục là quan điểm luật pháp; mọi trừng phạt đều tới từ tâm trí luật pháp. Luật lệ nói nếu bạn làm sai bạn sẽ bị trừng phạt; nếu bạn làm đúng bạn sẽ được thưởng. Và thế thì có cái gọi là tôn giáo - họ nói nếu bạn phạm tội bạn sẽ bị đoạ địa ngục. Nghĩ về địa ngục của họ mà xem! Những người đã tạo ra ý tưởng về địa ngục phải đã mang tính rất tàn bạo. Cách họ mô tả địa ngục, họ đã dàn xếp mọi thứ có thể để làm cho bạn khổ. Và họ đã bịa ra cả cõi trời nữa - cõi trời cho bản thân họ và cho những người theo họ, địa ngục cho những người không theo họ và không tin vào họ. Nhưng đây là những quan điểm luật pháp, cùng quan điểm như trừng phạt tội phạm. Và trừng phạt đã thất bại.

Tội ác không thể bị chấm dứt, nó đã không được chấm dứt bởi việc trừng phạt. Nó cứ phát triển, bởi vì thực tế tâm trí luật pháp và tâm trí tội phạm là hai mặt của cùng một đồng tiền; chúng không khác nhau. Mọi tâm trí luật pháp về căn bản là tâm trí tội phạm, và mọi tâm trí tội phạm có thể trở thành tâm trí luật pháp tốt - chúng có tiềm năng. Chúng không phải là hai thế giới tách biệt; chúng là một phần của một thế giới. Tội ác cứ tăng lên, và luật lệ cứ ngày một trở nên phức tạp và rắc rối.

Con người đã không bị thay đổi bởi trừng phạt; thực tế, con người đã bị làm hư hỏng nhiều hơn. Toà án đã không thay đổi người đó; họ đã làm người đó biến chất nhiều hơn. Và ngay cả các khái niệm về ban thưởng, cõi trời, kính trọng, cũng chẳng có ích gì. Bởi vì địa ngục phụ thuộc vào sợ, và cõi trời phụ thuộc vào tham - sợ và tham, đấy mới là vấn đề. Làm sao bạn có thể thay đổi mọi người qua chúng được? Chúng là bệnh tật, và tâm trí luật pháp cứ nói chúng là thuốc.

Một quan điểm hoàn toàn khác là được cần tới, quan điểm của tình yêu. Christ đem tình yêu tới thế giới. Ông ấy phá huỷ luật lệ, chính cơ sở của nó. Đó là tội của ông ấy; đó là lí do tại sao ông ấy đã bị đóng đinh - bởi vì ông ấy đã phá toàn thể cơ sở của xã hội tội phạm này; ông ấy đã phá toàn thể tảng đá nền móng của thế giới tội phạm này, thế giới của chiến tranh, và bạo hành, và xâm lăng. Ông ấy đã cho tảng đá nền móng mới. Những dòng này phải được hiểu sâu nhất có thể được.

Thế rồi một trong họ, người là luật sư, đã hỏi ông ấy một câu hỏi, khích ông ấy, và nói...

"Khích ông ấy"... Ông ấy muốn kéo Jesus xuống, vào tranh cãi luật pháp. Có nhiều trường hợp trong đời Jesus mà ông ấy đã bị khích để đi từ chiều cao của tình yêu xuống thung lũng tăm tối của luật pháp. Và những người cố gắng khích ông ấy đều rất thủ đoạn. Câu hỏi của họ thâm hiểm tới mức nếu Jesus mà không thực sự là người đã hiểu ra, ông ấy chắc đã thành nạn nhân. Họ đã cho ông ấy điều được gọi trong logic là "tiến thoái lưỡng nan" - bất kì điều gì bạn trả lời, bạn đều bị mắc. Nếu bạn nói điều này, bạn sẽ bị mắc; nếu bạn nói điều đối lập, thế thì bạn cũng sẽ bị mắc.

Bạn phải đã nghe câu chuyện nổi tiếng. Ông ấy đang ngồi bên sông; đám đông kéo tới, và họ đã mang tới một người đàn bà. Họ nói với ông ấy rằng người đàn bà này đã phạm tội: "Ông nói gì đây?" Họ khích ông ấy; bởi vì trong kinh sách cổ nói rằng nếu đàn bà phạm tội, người đó sẽ bị ném đá tới chết. Bây giờ họ đang đưa ra hai phương án cho Jesus. Nếu ông ấy nói theo kinh sách, thế thì họ sẽ hỏi, "Khái niệm về tình yêu và từ bi của ông đi đâu rồi? Ông không thể tha thứ cho cô ấy sao? Vậy tất cả những bài nói về tình yêu chỉ là nói suông thôi sao?" Thế thì ông ấy sẽ bị mắc. Hay, nếu ông ấy nói, "Tha cho cô ấy," thế thì họ sẽ nói, "Vậy ông chống lại kinh sách à; và ông đã từng nói với mọi người, 'Ta đã đi tới hoàn thành kinh sách, không phá huỷ nó." Đây là thế tiến thoái lưỡng nan; bây giờ đây là hai phương án duy nhất.

Nhưng tâm trí luật pháp không nhận biết rằng con người của tình yêu có phương án thứ ba, điều tâm trí luật pháp không thể biết được tới bởi vì tâm trí luật pháp chỉ có thể nghĩ trong các đối lập. Chỉ hai phương án tồn tại cho tâm trí luật pháp, có hay không. Nó không biết về phương án thứ ba, điều Bono đã gọi là po - có, không và phương án thứ ba là po. Nó không có, không không; nó khác toàn bộ. Jesus là người đầu tiên trên thế giới nói po. Ông ấy không dùng thuật ngữ này, thuật ngữ do Bono phát minh ra - nhưng ông ấy nói po, ông ấy thực sự đã làm điều đó. Ông ấy nói với những người này trong đám đông, "Chỉ những người trong số các ông bà, những người chưa bao giờ phạm tội, và chưa bao giờ nghĩ tới phạm tội, những người đó bước lên. Các ông bà nên cầm đá trong tay và giết người đàn bà này." Bây giờ không có một người nào mà đã không phạm tội, hay người đã không nghĩ tới phạm tội.

Có thể có người đã không phạm tội, nhưng họ có thể nghĩ liên tục về điều đó. Thực tế, họ nhất định nghĩ về điều đó. Những người phạm tội nghĩ ít về nó. Những người không phạm tội liên tục nghĩ và tưởng tượng về nó. Và với cốt lõi bên trong nhất của bản thể bạn, chẳng khác biệt gì liệu bạn nghĩ hay bạn hành động.

Dần dần đám đông tản mác đi. Những người đứng trước biến vào phía sau - các chuyên gia luật lệ của xã hội, các công dân gương mẫu của thị trấn bắt đầu biến đi. Con người này đã dùng phương án thứ ba. Ông ấy đã không nói có, ông ấy đã không nói không. Ông ấy nói, "Vâng, giết người đàn bà đi - nhưng chỉ những người chưa bao giờ phạm tội, chưa bao giờ nghĩ về nó mới được giết cô ấy." Đám đông biến mất. Jesus bị bỏ lại một mình cùng với người đàn bà này; cô ấy quì xuống dưới chân ông ấy và nói, "Tôi đã thực sự phạm tội, tôi là người đàn bà xấu. Ông có thể trừng phạt tôi."

Jesus nói, "Ta là ai mà phán xét? Đây là việc giữa cô và Thượng đế của cô. Đây là cái gì đó giữa cô và sự tồn tại. Ta là ai mà can thiệp vào? Nếu cô nhận ra rằng cô đã làm điều gì đó sai, thì đừng làm nó nữa."

Những tình huống như thế liên tục được lặp lại. Toàn thể nỗ lực của mọi người là đem Jesus vào tranh luận, chỗ mà tâm trí luật pháp có thể thành công. Bạn không thể tranh biện với tâm trí luật pháp được - nếu bạn tranh cãi bạn sẽ bị thất bại bởi vì trong biện luận tâm trí luật pháp rất hiệu quả. Bất kì lập trường nào bạn lấy cũng chẳng thành vấn đề; bạn sẽ bị thất bại.

Jesus không thể bị thất bại bởi vì ông ấy không bao giờ tranh cãi. Đây là một trong các dấu hiệu, một trong các chỉ dẫn rằng ông ấy đã đạt tới tình yêu. Ông ấy vẫn còn trên đỉnh của mình; ông ấy chưa bao giờ đi xuống.

Thế rồi một trong họ, người là luật sư, đã hỏi ông ấy một câu hỏi, khích ông ấy, và nói, Thưa Thầy, lời nào là lời răn vĩ đại trong luật?

Bây giờ, đó là câu hỏi rất khó. Lời răn nào là lời răn vĩ đại, lời răn nào là lời răn tốt nhất, lời răn nào là lời răn nền tảng theo luật? Điều đó là rất khó, bởi vì mọi luật đều phụ thuộc vào luật khác - chúng được liên nối nhau. Bạn không thể tìm thấy luật căn bản được, bởi vì không luật nào là căn bản cả. Chúng phụ thuộc vào nhau; chúng mang tính liên thuộc.

Ở Ấn Độ điều đó đã từng là tranh cãi tiếp diễn mãi: Cái nào là căn bản - bất bạo hành hay chân lí? Nếu bạn ở vào tình huống phải chọn giữa chân lí và bất bạo hành - nếu bạn nói chân lí, thế thì sẽ có bạo hành, và nếu bạn không nói chân lí, bạo hành có thể được tránh - bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ nói chân lí và giúp đỡ bạo hành bị phạm phải sao?

Chẳng hạn, bạn đang đứng ở ngã tư đường, và một nhóm cảnh sát tới. Họ hỏi bạn, "Anh có thấy một người đi qua lối này không? Nó phải bị bắt và giết, nó đã trốn khỏi nhà tù. Nó bị tử hình." Bạn đã thấy người này. Bạn có thể nói có và nói một cách thật thà, nhưng thế thì bạn sẽ chịu trách nhiệm cho cái chết của người đó. Bạn có thể nói bạn đã không thấy người đó, hay thậm chí bạn có thể chỉ hướng sai cho cảnh sát, thế thì người này sẽ được cứu. Bạn vẫn còn bất bạo hành, nhưng bạn trở thành không thực thà. Bạn sẽ làm gì? Dường như không thể nào chọn được, gần như không thể nào. Luật nào là nền tảng nhất?

Jesus nói với ông ấy, ông phải yêu Thượng đế bằng cả trái tim mình, bằng cả linh hồn mình, bằng cả tâm trí mình.

Đây là po: ông ấy không trả lời câu hỏi này chút nào; ông ấy đang trả lời cái gì đó khác. Ông ấy không đi xuống thế giới luật pháp; ông ấy vẫn còn ở trên cao trên đỉnh tình yêu của ông ấy. Ông ấy nói, "Đây là lời răn đầu tiên và vĩ đại: Yêu Thượng đế của ông bằng cả trái tim mình, bằng cả tâm trí mình, bằng cả linh hồn mình." Câu hỏi về luật pháp, còn câu trả lời là về tình yêu. Thực tế, ông ấy đã không trả lời câu hỏi này; hay, bạn có thể nói ông ấy đã trả lời câu hỏi này bởi vì đây là câu trả lời duy nhất, không thể có câu trả lời khác được.

Điều này phải được hiểu. Chỉ từ bình diện cao hơn thì câu hỏi của bình diện thấp hơn mới được trả lời; vẫn còn trong cùng bình diện, câu trả lời là không thể được. Chẳng hạn, bạn ở từ đâu mà câu hỏi này nảy sinh, nhiều câu hỏi nảy sinh. Nếu bạn hỏi người vẫn còn ở cùng bình diện như bạn, người đó không thể trả lời bạn được. Câu trả lời của người đó có thể có vẻ liên quan, nhưng không thể liên quan được, bởi vì người đó cũng ở trong cùng tình huống như bạn.

Điều đó giống như người điên giúp người điên khác, người mù dẫn người mù, người lẫn lộn giúp người lẫn lộn khác đạt tới sáng tỏ. Nhiều lung tung hơn, nhiều lẫn lộn hơn sẽ xảy ra từ nó. Đó là điều đã xảy ra trên thế giới - mọi người đều khuyên bảo mọi người khác. Chẳng cái gì rẻ hơn lời khuyên. Thực tế, nó chẳng tốn gì cả, bạn có thể có ngay lời khuyên chỉ bằng hỏi; mọi người đều sẵn sàng cho bạn lời khuyên. Bạn chẳng nghĩ, mà những người cho bạn lời khuyên cũng chẳng nghĩ về sự kiện là họ tồn tại trên cùng bình diện, và lời khuyên của họ đơn giản là vô dụng. Hay, thậm chí nó còn có thể có hại. Chỉ ai đó ở bình diện cao hơn bạn mới có thể giúp được - người có cảm nhận rõ ràng hơn, sáng tỏ sâu sắc hơn, bản thể kết tinh hơn. Chỉ kiểu người đó mới có thể trả lời câu hỏi của bạn được.

Có ba khả năng đối thoại: một là hai người dốt nát nói chuyện. Nhiều việc nói diễn ra, nhưng chẳng cái gì xảy ra từ đó, nó chỉ là chuyện hư huyễn. Họ nói đấy, nhưng họ không ngụ ý điều họ đang nói, họ thậm chí không nhận biết về điều họ đang nói - đấy chỉ là bận bịu, người ta cảm thấy tốt được bận bịu. Họ nói như máy, hai máy tính nói chuyện. Thế rồi có khả năng hai người chứng ngộ nói. Họ không nói; không có nhu cầu nói. Giao cảm là im lặng; họ hiểu lẫn nhau không qua lời. Hai người dốt nói chuyện - quá nhiều lời, và không có hiểu biết. Hai người chứng ngộ gặp gỡ - không lời, chỉ có hiểu biết.

Tình huống thứ nhất xảy ra hàng ngày, cả triệu lần trên khắp thế giới. Tình huống thứ hai hiếm khi xảy ra, sau hàng nghìn và hàng nghìn năm - hiến khi xảy ra là hai người chứng ngộ gặp nhau.

Có khả năng thứ ba - người đã chứng ngộ nói với người chưa chứng ngộ. Thế thì có hai bình diện: một là trên đất, bình diện kia là trên trời; một người đi trong xe bò kéo; người kia bay trong máy bay. Người trên đất hỏi điều này còn người trên trời trả lời cái gì đó khác. Nhưng đây là cách duy nhất, đây là cách duy nhất mà người trên đất có thể được giúp đỡ. Luật sư này đã hỏi về luật. Ông ấy đã hỏi, Thưa Thầy, lời nào là lời răn vĩ đại trong luật?

Ông ấy không hỏi về tình yêu. Jesus đang cố gắng dụ ông ấy hướng tới tình yêu - ông ấy đã thay đổi toàn thể hoàn cảnh. Một khi sự việc ở trong tay của Jesus, thế thì ông ấy sẽ đưa bạn vào chiều hướng bạn không biết, vào cái không biết, vào cái không thể biết.

Jesus nói với ông ấy, ông phải yêu Thượng đế bằng cả trái tim mình, bằng cả linh hồn mình, bằng cả tâm trí mình.

"Bằng cả trái tim mình" nghĩa là bằng tất cả tình cảm của bạn. Đó là điều tính cầu nguyện là gì. Khi tất cả tình cảm của bạn là cùng nhau, được tích hợp vào trong một đơn vị, nó là lời cầu nguyện. Tính cầu nguyện là toàn thể trái tim bạn, đập rộn ràng với ham muốn về cái không biết, đập rộn ràng với sự thôi thúc sâu sắc, cuộc truy tìm sâu sắc vào cái không biết, từng nhịp đập trái tim bạn đều được cống hiến.

"Bằng cả tâm trí mình" - đó là nghĩa của thiền, khi tất cả ý nghĩ của bạn trở thành một. Khi tất cả ý nghĩ của bạn trở thành một, suy nghĩ biến mất; khi tất cả tình cảm của bạn trở thành một, tình cảm biến mất. Khi tình cảm của bạn là nhiều, bạn đa cảm. Khi tình cảm của bạn là một, tất cả đa cảm biến mất - bạn đầy tràn trong tim nhưng không đa cảm nào. Tính cầu nguyện không phải là đa cảm. Tính cầu nguyện là sự hài hoà của tình cảm, sự thống nhất toàn bộ của tình cảm tới mức phẩm chất của tình cảm lập tức thay đổi. Cũng như bạn đun nước, nước cứ trở nên ấm dần, ấm hơn, nóng hơn và nóng hơn - tới 99 độ nó vẫn là nước, Thế rồi điểm 100 độ tới, và bỗng nhiên có biến đổi. Nước không còn là nước nữa, nó bắt đầu bay hơi - phẩm chất lập tức thay đổi. Nước có đặc tính chảy xuống thấp: khi nó bay hơi, hơi nước có đặc tính nổi lên trên. Chiều hướng đã thay đổi.

Khi bạn sống trong tình cảm, nhiều tình cảm thế, bạn chỉ là lẫn lộn, nhà thương điên. Khi tất cả tình cảm được hoà hợp lại, sẽ tới một khoảnh khắc của biến đổi. Khi tất cả chúng trở thành một, bạn ở điểm 100 độ, điểm bay hơi. Ngay lập tức bản tính cũ của tình cảm biến mất, đặc tính chảy xuống cũ không còn đó nữa. Bạn bắt đầu bay hơi như hơi nước lên bầu trời. Đó là điều tính cầu nguyện là gì.

Và cùng điều đó xảy ra khi tất cả ý nghĩ của bạn là một - việc suy nghĩ dừng lại. Khi các ý nghĩ là nhiều, việc suy nghĩ là có thể; khi các ý nghĩ là một, thế thì đi tới một khoảnh khắc mà tính một này của ý nghĩ trở thành gần như đồng nghĩa với vô ý nghĩ. Có một ý nghĩ là không có ý nghĩ, bởi vì một không thể tồn tại một mình. Một có thể tồn tại chỉ với nhiều, một có thể tồn tại chỉ trong đám đông. Khi đám đông đã biến mất, một cũng biến mất và đi tới trạng thái của vô ý nghĩ.

Cho nên Jesus, trong câu nói nhỏ bé của mình, đã cô đọng toàn thể tôn giáo:

Ông phải yêu Thượng đế bằng cả trái tim mình - đây là điều lời cầu nguyện tất cả là gì.

Bằng cả tâm trí mình- đó là điều thiền tất cả là gì.

Bằng cả linh hồn mình... Linh hồn là sự siêu việt của suy nghĩ và tình cảm. Linh hồn là ở bên ngoài lời cầu nguyện và bên ngoài thiền. Linh hồn là bản tính của bạn - nó là tâm thức siêu việt trong bạn.

Nhìn bản thân mình như một tam giác - ở đáy dưới, hai đỉnh là tình cảm, suy nghĩ. Nhưng tình cảm và suy nghĩ chỉ là hai điều bạn đã từng kinh nghiệm cho tới giờ; bạn không biết cái thứ ba. Cái thứ ba có thể được biết tới chỉ khi tình cảm trở thành tính cầu nguyện và bắt đầu đi lên, và suy nghĩ trở thành thiền và bắt đầu đi lên. Thế thì lời cầu nguyện và thiền gặp nhau ở một điểm - điểm đó là linh hồn. Đâu đó trái tim bạn và tâm trí bạn gặp nhau - đó là bạn, đó là cái bên kia. Đó là điều Jesus gọi là linh hồn.

Đây là lời răn vĩ đại và đầu tiên.

Bây giờ ông ấy đang dùng ngôn ngữ của luật sư. Ông ấy đã nói bất kì điều gì ông ấy muốn nói; bây giờ ông ấy đi tới ngôn ngữ của luật sư. Câu thứ nhất thuộc vào bình diện của Jesus; câu thứ hai thuộc vào bình diện của luật sư. Và Jesus đã cố gắng tạo ra cây cầu giữa hai câu này.

Đây là lời răn vĩ đại và đầu tiên. Tình yêu là lời răn đầu tiên và vĩ đại. Thực tế, tình yêu không phải là lời răn chút nào, bởi vì bạn không thể bị ra lệnh để yêu; bạn không thể bị ra lệnh phải yêu, bạn không thể bị ép buộc. Bạn không thể quản lí và kiểm soát được tình yêu. Tình yêu còn lớn hơn bạn, cao hơn bạn - làm sao bạn có thể kiểm soát được nó? Và nếu bạn bị ra lệnh phải yêu, nếu ai đó tới như họ làm trong quân đội: "Quay phải, quay! Quay trái, quay!" - ai đó tới và nói, "Yêu đi!" bạn có thể làm gì? "Quay phải" thì được, "Quay trái" cũng được, nhưng "Yêu đi" sao? - bạn không biết quay đâu, đi đâu. Bạn không biết cách thức, điều đó không thể ra lệnh được.

Vâng, bạn có thể giả vờ; bạn có thể hành động. Đó là điều đã xảy ra trên trái đất này. Tai hoạ lớn nhất đã xảy ra trên trái đất này là ở chỗ tình yêu đã bị ép buộc. Từ chính thời thơ ấu mọi người đều được dạy yêu, cứ dường như tình yêu có thể được dạy: "Yêu mẹ, yêu bố, yêu anh, yêu chị." Yêu cái này, yêu cái kia - và đứa trẻ bắt đầu cố gắng, bởi vì làm sao đứa trẻ có thể biết rằng tình yêu không thể là hành động được? Nó là việc xảy ra. Bạn không thể ép buộc được nó.

Bạn đã từng bỏ lỡ tình yêu bởi vì bạn đã từng cố gắng quá vất vả. Và mọi người đều đi tìm tình yêu - bạn có thể gọi nó là Thượng đế, bạn có thể gọi nó là cái gì đó khác, nhưng sâu bên dưới bạn đang đi tìm tình yêu. Nhưng bạn đã trở nên không có khả năng - không phải bởi vì bạn đã không cố gắng, mà bởi vì bạn đã cố gắng quá vất vả.

Tình yêu là việc xảy ra; nó không thể bị ra lệnh. Bởi vì bạn đã từng bị ra lệnh phải yêu, tình yêu của bạn đã bị làm giả đi từ chính lúc ban đầu, bị đầu độc từ chính cội nguồn. Đừng bao giờ nói với con - đừng bao giờ phạm phải tội này - đừng bao giờ nói với con "Yêu mẹ đi." Yêu con và để cho tình yêu xảy ra. Đừng nói, "Yêu mẹ đi bởi vì mẹ là mẹ của con, hay bố là bố của con. Yêu bố đi." Đừng làm điều đó thành mệnh lệnh; bằng không con bạn sẽ bỏ lỡ mãi mãi. Yêu con, và ở chỗ tình yêu đó, một ngày nào đó bỗng nhiên hợp âm xảy ra. Sự hài hoà được tìm thấy trong chiếc đàn bên trong nhất của bản thể bạn. Cái gì đó bắt đầu; giai điệu nào đó, sự hài hoà nào đó nảy sinh, và thế thì bạn biết rằng nó là bản tính của mình. Nhưng thế thì bạn không bao giờ cố gắng làm nó; thế thì bạn đơn giản thảnh thơi và cho phép điều đó hiện hữu.

Đây là lời răn vĩ đại và đầu tiên. Jesus đang dùng ngôn ngữ của luật sư, bởi vì ông ấy đang trả lời cho ông này; bằng không tình yêu không phải là lời răn, và không thể là lời răn được.

Và lời răn thứ hai cũng giống nó, ông phải yêu hàng xóm của mình như bản thân mình:

Lời răn thứ nhất là, yêu Thượng đế của ông. "Thượng đế" nghĩa là cái toàn bộ, Đạo, Brahma. Thượng đế không phải là từ rất hay; Đạo còn tốt hơn nhiều - cái toàn bộ, cái toàn thể, sự tồn tại - yêu sự tồn tại. Đó là điều đầu tiên, nền tảng nhất.

Và lời răn thứ hai cũng giống nó, ông phải yêu hàng xóm của mình như bản thân mình:

... bởi vì khó mà tìm thấy Thượng đế, và khó yêu Thượng đế nếu bạn đã không tìm thấy ngài. Làm sao bạn có thể yêu Thượng đế được, người không được biết? Làm sao bạn có thể yêu cái không biết được? Bạn cần chiếc cầu nào đó, bạn cần sự quen thuộc nào đó - làm sao bạn có thể yêu Thượng đế được? Điều đó có vẻ ngớ ngẩn; nó quả là ngớ ngẩn thật. Do đó mới có lời răn thứ hai.

Và lời răn thứ hai cũng giống nó, ông phải yêu hàng xóm của mình như bản thân mình:

Tôi đã đọc một câu chuyện - tôi thích nó. Một người có học hỏi giáo sĩ Abraham, "Họ nói rằng ông cho mọi người thuốc gì huyền bí lắm, và rằng thuốc của ông hiệu nghiệm. Xin cho tôi một liều, để tôi có thể đạt tới nỗi sợ Thượng đế."

"Ta không biết thuốc nào để sợ Thượng đế," giáo sĩ nói. "Nhưng, nếu ông thích, ta có thể cho ông thuốc yêu Thượng đế."

"Thế thì tốt quá!" học giả này kêu lên. "Cho tôi ngay đi."

"Đó là tình yêu người bạn mình," giáo sĩ trả lời.

Nếu bạn thực sự muốn yêu Thượng đế, bạn phải bắt đầu bằng việc yêu người bạn của mình đã, bởi vì họ là những người gần gũi bạn nhất. Và dần dần, gợn sóng tình yêu của bạn có thể cứ lan rộng. Tình yêu giống như hòn đá được ném vào trong cái hồ im lặng: gợn sóng phát sinh, và thế rồi chúng bắt đầu lan toả tới bến bờ xa xăm. Nhưng đầu tiên có cú chạm của hòn đá vào hồ; cạnh hòn đá, gợn sóng phát sinh, và thế rồi chúng cứ lan toả ra xa mãi. Đầu tiên bạn phải yêu những người giống như bạn - bởi vì bạn biết họ, bởi vì ít nhất bạn cũng có thể cảm thấy sự quen thuộc nào đó, cảm giác như ở nhà với họ. Thế rồi tình yêu có thể cứ mở rộng mãi. Thế thì bạn có thể yêu con vật, thế thì bạn có thể yêu cây cối, thế thì bạn có thể yêu tảng đá. Và chỉ thế thì bạn mới có thể yêu sự tồn tại như nó vậy, không trước đó.

Cho nên, nếu bạn có thể yêu con người, bạn đã lấy bước đầu tiên. Nhưng chính điều đối lập đã từng xảy ra trên trái đất không may này - mọi người yêu Thượng đế và giết con người. Thực tế, họ nói bởi vì họ yêu Thượng đế nhiều thế, họ phải giết. Người Ki tô giáo giết người Mô ha mét giáo, người Mô ha mét giáo giết người Ki tô giáo, người Hindu giết người Mô ha mét giáo, người Mô ha mét giáo giết người Hindu, bởi vì họ tất cả đều yêu Thượng đế - nhân danh Thượng đế họ giết con người. Thượng đế của họ đều là giả. Bởi vì nếu Thượng đế của bạn là thật, nếu bạn đã thực sự biết tính thượng đế nghĩa là gì, nếu bạn đã nhận ra cho dù chút xíu thôi, nếu bạn đã từng đạt tới chỉ một thoáng nhìn về tính thượng đế là gì, bạn sẽ yêu con người. Bạn sẽ yêu con vật, bạn sẽ yêu cây cối, bạn sẽ yêu đất đá - bạn sẽ yêu! Tình yêu sẽ trở thành trạng thái tự nhiên của bản thể. Và nếu bạn không thể yêu con người được, đừng bị lừa dối - không đền chùa nào sẽ giúp gì cho bạn được.

Bạn có thể nói không với Thượng đế, nhưng đừng bao giờ nói không với con người, bởi vì nếu bạn nói không với con người, con đường bị chặt đứt; thế thì bạn sẽ không bao giờ có khả năng đạt tới tính thượng đế. Nói không với nhà thờ, với đền chùa; không có vấn đề gì về nó cả. Nhưng đừng bao giờ nói không với tình yêu, bởi vì đó là ngôi đền thực. Tất cả các ngôi đền khác đều chỉ là đồng tiền giả, hình ảnh giả, không đích thực. Chỉ có một ngôi đền đích thực, và ngôi đền đó là tình yêu. Đừng bao giờ nói không với tình yêu - bạn sẽ tìm thấy tính thượng đế; nó không thể ẩn giấu lâu được.

Lời răn thứ hai, Jesus nói, ông phải yêu hàng xóm của mình như bản thân mình... bởi vì, thực tế, toàn thể nhân loại là bạn, trong nhiều khuôn mặt và trong nhiều hình dạng. Bạn không thể thấy được điều đó sao - rằng hàng xóm của bạn không là ai khác hơn bạn, bản thể riêng của bạn trong các hình và dạng khác nhau đó thôi?

Nhiều dòng sông trên thế giới được đặt tên theo mầu sắc. Ở Trung Quốc chúng ta có sông Hoàng Hà, đâu đó ở Nam Phi họ có sông Hồng. Ở Mĩ, tôi đã nghe, họ có sông Trắng, sông Lục. Bản thân dòng sông không có mầu; nước không mầu, nhưng dòng sông lấy mầu của địa hình nó trôi qua, mầu của bụi cây bên bờ. Nếu nó đi qua sa mạc, tất nhiên nó có mầu khác; nếu nó đi qua rừng, rừng được phản chiếu - bụi cây, mầu lục - nó có mầu khác. Nếu nó đi qua vùng đất nơi bùn mầu vàng, nó trở thành vàng. Nhưng không dòng sông nào có mầu nào cả. Và mọi dòng sông, dù nó được gọi là trắng, hay lục, hay vàng, đều tự nhiên đi tới mục đích của nó, tới định mệnh của nó, rơi vào trong đại dương, và trở thành mang tính đại dương.

Sự khác biệt của bạn là bởi vì địa hình của bạn. Mầu sắc của bạn khác nhau bởi vì địa hình của bạn. Nhưng phẩm chất bên trong nhất của bản thể là vô mầu, nó là như nhau. Ai đó da đen, ai đó da trắng; ai đó ở chính giữa, người Ấn Độ; ai đó da vàng, người Trung Quốc - biết bao nhiêu mầu. Nhưng nhớ, đây là mầu của địa hình của thân thể mà bạn đi qua. Chúng không phải là mầu của bạn; bạn vô mầu. Bạn không là thân thể; bạn không là tâm trí, bạn không là trái tim. Tâm trí bạn khác, bởi vì nó đã được ước định khác nhau; thân thể bạn khác, bởi vì nó đã tới qua địa hình khác nhau, qua di truyền khác nhau; nhưng bạn là không khác.

Jesus nói: ông phải yêu hàng xóm của mình như bản thân mình. Như bạn yêu bản thân mình, yêu hàng xóm của bạn. Và một điều rất căn bản, điều người Ki tô giáo đã hoàn toàn quên mất. Jesus nói - "Yêu bản thân mình." Chừng nào bạn còn chưa yêu bản thân mình, bạn không thể yêu hàng xóm của mình được. Tất cả những điều mà cái gọi là Ki tô giáo đã từng dạy bạn là hận thù với bản thân mình, kết án bản thân mình. Yêu bản thân bạn, bởi vì bạn là chỗ gần nhất với tính thượng đế. Nó là chỗ gợn sóng đầu tiên phải dâng lên. Yêu bản thân mình! Tự yêu mình là điều nền tảng nhất - nếu bạn muốn mang tính tôn giáo, tự yêu mình là cơ sở. Và tất cả cái gọi là tôn giáo cứ dạy bạn tự hận mình: "Hãy kết án bản thân mình, con là kẻ tội lỗi, phạm tội, thế này thế nọ - con là không xứng đáng."

Bạn không phải là kẻ tội lỗi. Họ đã làm bạn thành vậy. Bạn không phạm tội; họ đã cho bạn cách diễn giải sai về cuộc sống. Chấp nhận bản thân mình, và yêu bản thân mình. Chỉ thế thì bạn mới có thể yêu được hàng xóm của mình, bằng không thì không có khả năng nào. Nếu bạn không yêu bản thân mình, làm sao bạn có thể yêu người khác được? Tôi dạy bạn yêu bản thân mình. Ít nhất là làm điều đó; nếu bạn không thể làm được gì khác - yêu bản thân mình đã. Và từ việc tự yêu mình, dần dần bạn sẽ thấy rằng tình yêu bắt đầu tuôn chảy; nó đang mở rộng; nó đang đạt tới hàng xóm.

Toàn thể vấn đề ngày nay là ở chỗ bạn ghét bản thân mình và bạn muốn yêu ai đó khác, điều không thể được. Và người khác cũng ghét bản thân họ, và người đó muốn yêu bạn. Bài học của tình yêu phải được học đầu tiên là từ bên trong bản thân bạn.

Nếu bạn hỏi Freud và nhà phân tâm, họ đã đi tới phát hiện ra một điều rất căn bản. Họ nói rằng đầu tiên đứa trẻ có tính tự dục, tự dâm; đứa trẻ yêu bản thân nó. Thế rồi đứa trẻ trở thành đồng dục - con trai yêu con trai và muốn chơi với con trai; con gái muốn chơi với con gái, và chúng không muốn trộn lẫn với nhau. Và thế rồi nảy sinh dị dục - con trai muốn trộn lẫn và yêu con gái; con gái muốn gặp gỡ con trai và yêu. Đầu tiên, tự dục, thế rồi đồng dục, thế rồi dị dục - đây là về dục. Cùng điều đó cũng đúng về tình yêu.

Đầu tiên, bạn yêu bản thân mình. Thế rồi bạn yêu hàng xóm của mình, bạn yêu người khác. Và thế rồi bạn đi ra ngoài và bạn yêu sự tồn tại. Nhưng điều căn bản là bạn. Cho nên đừng kết án bản thân mình; đừng bác bỏ bản thân mình. Chấp nhận. Điều thiêng liêng đã trú ngụ trong bạn. Sự tồn tại đã yêu bạn nhiều thế, đó là lí do tại sao nó đã lấy chỗ trú ngụ trong bạn. Sự tồn tại đã làm ra ngôi đền từ bạn; điều thiêng liêng sống trong bạn. Nếu bạn bác bỏ bản thân mình, bạn bác bỏ cái gần nhất với tính thượng đế mà bạn có thể tìm thấy. Nếu bạn bác bỏ cái gần nhất, không thể nào có chuyện bạn sẽ có khả năng yêu được cái xa xôi.

Khi Jesus nói, "Ông phải yêu hàng xóm của mình như bản thân mình," ông ấy đang nói hai điều: Thứ nhất, yêu bản thân ông, để cho ông có thể có khả năng yêu hàng xóm của ông.

Tất cả luật pháp và nhà tiên tri đều phải bám theo hai lời răn này.

Thực tế nó là một lời răn: Hãy yêu. Yêu là một và chỉ một mệnh lệnh của mọi sự. Nếu bạn đã hiểu tình yêu, bạn đã hiểu tất cả. Nếu bạn không hiểu tình yêu, bạn có thể biết nhiều điều nhưng tất cả tri thức đó đơn giản mục rữa. Vứt nó vào đống rác và quên tất cả về nó đi. Bắt đầu từ chính lúc ban đầu. Lại là đứa trẻ, và bắt đầu yêu bản thân mình lần nữa.

Cái hồ của bạn, như tôi thấy nó, không có gợn sóng nào. Hòn đá đầu tiên của tình yêu còn chưa rơi vào nó.

Tôi đã nghe một câu chuyện Đan Mạch. Hãy nhớ nó, để nó trở thành một phần của sự lưu tâm của bạn. Câu chuyện này kể về con nhện sống trên cao trong rui mè của chuồng ngựa cũ. Một hôm nó thả mình xuống bằng một sợi mạng nhện dài tới cái xà thấp hơn, chỗ nó thấy có ruồi nhiều hơn và dễ bắt hơn. Nó quyết định sống vĩnh viễn ở mức thấp hơn này, và chăng quanh mình một mạng nhện thoải mái ở đó. Nhưng một hôm nó tình cờ để ý tới sợi dây thả từ trên xuống mà nó đã đi qua đó, trải xa vào trong bóng tối phía trên. "Mình không cần cái này nữa," nó nói. "Nó chỉ vướng vào đường." Nó giật đứt cái dây này, và cùng với điều đó đã phá huỷ luôn toàn thể mạng nhện, vì mạng cần sợi dây đó nâng đỡ.

Đây là câu chuyện về con người nữa. Sợi chỉ nối bạn với điều tối thượng, cái cao nhất - gọi nó là Đạo, sự tồn tại, tính thượng đế. Bạn có thể đã hoàn toàn quên mất rằng bạn xuống từ đó. Bạn tới từ cái toàn thể, và bạn phải trở về nó. Mọi thứ đều quay trở về cội nguồn nguyên thuỷ; nó phải như vậy. Thế thì vòng tròn là hoàn chỉnh và người ta được hoàn thành. Và bạn thậm chí có thể cảm thấy giống con nhện này, rằng sợi chỉ nối bạn với cái cao nhất vướng vào con đường. Nhiều lần bởi vì nó bạn không thể làm được điều gì đó; nó cứ tới lặp đi lặp lại trên đường. Bạn không thể bạo hành như bạn muốn vậy; bạn không thể hung hăng như bạn muốn vậy; bạn không thể ghét nhiều như bạn muốn ghét - sợi chỉ này cứ tới đi tới lại trên con đường. Thỉnh thoảng bạn có thể cảm thấy giống như con nhện này - cắt béng nó đi, chặt nó đi để cho con đường của bạn được rõ ràng.

Đó là điều Nietzsche nói: "Thượng đế chết rồi." Ông ấy đã cắt phăng đường này. Nhưng ngay lập tức Nietzsche phát điên. Khoảnh khắc ông ấy nói "Thượng đế chết rồi" ông ấy đã phát điên, bởi vì thế thì bạn đã bị cắt khỏi cội nguồn nguyên thuỷ của mọi cuộc sống. Thế thì bạn bị đói về cái gì đó sống còn, bản chất. Thế thì bạn bỏ lỡ cái gì đó, và bạn đã trở nên hoàn toàn quên lãng rằng nó là điều rất căn bản của cuộc sống của bạn. Con nhện gạt đứt sợi dây, và cùng với điều đó là phá huỷ luôn toàn thể mạng nhện của mình, vì mạng cần sợi dây đó nâng đỡ.

Dù bạn ở đâu, trong đêm tối của mình, một tia sáng vẫn được nối với bạn từ sự tồn tại. Đó là cuộc sống của bạn; đó là cách bạn đang sống động. Tìm ra sợi chỉ đó đi, bởi vì điều đó sẽ là đường về nhà.

Vào ngày 5 tháng 6 năm 1910, O. Henry sắp chết. Lúc đó trời tối. Bạn bè vây quanh ông ấy. Bỗng nhiên ông ấy mở mắt ra và nói, "Bật đèn lên. Tôi không muốn về nhà trong bóng tối." Đèn được bật lên; ông ấy nhắm mắt, mỉm cười và biến mất.

Sợi dây đang nối bạn, tia sáng duy nhất của cuộc sống đang làm bạn sống động, là con đường về nhà. Dù bạn đã đi xa thế nào, bạn vẫn được nối với sự tồn tại - bằng không điều đó đã là không thể được. Bạn có thể đã quên mất, nhưng sự tồn tại đã không quên bạn; và đó là điều thực thành vấn đề. Cố tìm cái gì đó trong bạn mà nối bạn với sự tồn tại. Tìm nó, và bạn sẽ đi tới lời răn mà Jesus đang nói tới. Nếu bạn tìm, bạn sẽ đi tới biết nó là tình yêu, không phải là tri thức, cái nối bạn với sự tồn tại. Không giầu có, không quyền lực, không danh vọng - chính tình yêu mới nối bạn với sự tồn tại. Và bất kì khi nào bạn cảm thấy tình yêu, bạn đều cực kì hạnh phúc bởi vì cuộc sống ngày càng trở thành sẵn có cho bạn.

Jesus, hay Phật, cả hai đều giống như ong mật. Ong mật đi và tìm hoa đẹp trong thung lũng. Nó quay về, nó múa điệu vũ của cực lạc gần bạn bè nó để bảo chúng rằng nó đã tìm thấy thung lũng đẹp đầy hoa. "Lại đây, theo ta." Một Jesus chính là con ong mật đã tìm thấy cội nguồn nguyên thuỷ của cuộc sống - thung lũng hoa đẹp, hoa của vĩnh hằng. Ông ấy tới và nhảy múa gần bạn để cho bạn thông điệp: "Lại đây, theo ta."

Nếu bạn cố gắng hiểu và tìm kiếm bên trong, bạn sẽ thấy chính tình yêu là điều có ý nghĩa nhất, điều tinh tuý nhất trong bản thể bạn. Đừng bỏ đói nó. Giúp nó phát triển, để cho nó có thể trở thành cây lớn; để cho chim trời có thể đến trú ngụ trong bạn; để cho trong tình yêu của bạn, lữ khách mệt mỏi trên đường có thể nghỉ ngơi; để cho bạn có thể chia sẻ tình yêu của mình; để cho bạn cũng có thể trở thành con ong mật. Trong cực lạc của mình, bạn cũng có thể chia sẻ với mọi người điều bạn đã tìm thấy.

Tội ác và trừng phạt

Tử hình là bằng chứng hèn hạ về tính vô nhân đạo của con người với con người. Nó chỉ ra rằng con người vẫn còn sống trong thời đại man rợ. Văn minh vẫn còn là ý tưởng thôi - nó chưa trở thành thực tại.

Bạn sẽ phải nhìn từ mọi khía cạnh để hiểu tại sao điều ngu xuẩn như tử hình vẫn liên tục được dùng trong nhiều nền văn minh, văn hoá, quốc gia thế. Ngay cả ở một số nước mà nó đã bị loại bỏ, nó được chấp nhận lại. Ở các nước khác, nơi nó đã bị loại bỏ, nó đã được thay thế bằng tù chung thân - điều còn tồi tệ hơn bản thân tử hình. Tốt hơn cả là chết đi trong một khoảnh khắc còn hơn là cứ chết dần mòn trong năm mươi năm, sáu mươi năm. Việc đổi từ tử hình sang chung thân không phải là đi tới văn minh đâu, nó vẫn đi sâu hơn vào trong bóng tối man rợ, vô nhân đạo, vô ý thức.

Điều đầu tiên cần hiểu là ở chỗ tử hình không thực sự là trừng phạt. Nếu bạn không thể cho cuộc sống như ban thưởng, bạn không thể cho cái chết như trừng phạt được. Đây là logic đơn giản, không thể có hai ý kiến về nó được. Nếu bạn không thể cho mọi người cuộc sống, bạn có quyền gì mà lấy đi cuộc sống của họ?

Tôi nhớ tới một câu chuyện thực. Chuyện xảy ra là hai kẻ tội phạm tìm thấy một kho báu giấu trong một lâu đài. Nhiều lần mọi người đã cố gắng phá rào đột nhập vào trong lâu đài và đánh cắp nó, và đã bị bắt, nhưng bằng cách nào đó những kẻ tội phạm này thành công. Kho báu thật bao la, và một trong hai người quyết định rằng anh ta không muốn chia nó. Một cách là giết người kia đi, nhưng trong việc giết người kia anh này có thể bị bắt. Anh này không thể nhận rủi ro nào được, bởi vì bây giờ toàn thể kho báu là trong tay anh này.

Anh này xoay xở theo cách rất tinh ranh. Anh này biến mất và cho lan truyền tin đồn rằng mình đã bị sát hại, và anh này để lại bằng chứng để làm có vẻ như bạn mình là hung thủ. Người bạn này bị bắt với mọi bằng chứng: súng lục của anh ta thiếu mất hai viên đạn, và dấu ngón tay anh ta còn trên súng. Một chiếc khăn tay có thêu tên anh ta đã bị bỏ lại ở hiện trường... Anh ta không thể nào chứng minh được sự vô tội của mình; không có cách nào cả - mọi thứ đều chống lại anh ta và anh ta bị xử tử hình. Anh ta biết mình đã không giết bạn mình; anh ta biết rằng toàn thể điều này là âm mưu. Bạn anh ta đã không chết; đó chỉ là thủ đoạn để giữ cả kho báu cho người đó.

Nhưng anh ta đã trốn khỏi nhà tù trước khi bị hành hình. Và mười hai năm sau, khi anh ta nghe nói rằng người thứ nhất - người đã đổi căn cước và trở thành chính khách đáng kính - đã chết, anh ta tới nhà chức trách. Anh ta nói với toà án - vẫn là cùng quan toà đó - "Tôi là người ông đã xử tử hình mười hai năm trước đây, nhưng tôi đã trốn thoát. Và tôi tuyệt đối vô tội, nhưng tôi không có bằng chứng."

Thực tế vô tội chẳng bao giờ có bằng chứng nào. Bằng chứng là dành cho kẻ tội đồ hay để chống lại tội ác, nhưng vô tội không có bằng chứng. Người đó nói, "Bây giờ người mà ông mười hai năm trước đã buộc tội tôi giết đó, nay đã chết rồi - đây là chính cùng con người đó. Cho nên tôi không thể đã giết ông ta được từ mười hai năm trước." Anh ta nói, "Tội duy nhất tôi đã phạm là trốn khỏi nhà giam, nhưng ông có thể gọi đó là tội được không? Khi ông trừng phạt một người vô tội bằng cái chết, ai là kẻ tội phạm - ông hay tôi?"

Câu chuyện này có nhiều ngụ ý. Người này đã hỏi, "Nếu tôi bị xử tội chết và tôi đã không trốn đi và bị hành hình, bây giờ vụ xử này sẽ là gì? Nếu như người ta đi tới biết rằng người bị coi là đã bị giết chết vẫn còn sống, liệu ông có khả năng trả lại cuộc sống cho tôi không? Nếu ông không thể trả lại cuộc sống cho tôi, ông có quyền gì mà lấy nó đi?"

Người ta nói rằng ông quan toà đó đã từ chức, xin lỗi người này và nói, "Có lẽ tôi đã phạm phải nhiều tội trong cuộc đời tôi."

Trên khắp thế giới, thực tế là chừng nào bạn còn chưa chứng minh được vô tôi, bạn là có tội. Điều này đi ngược lại tất cả các ý tưởng nhân đạo, dân chủ, tự do, tôn trọng tính cá nhân; nó đi ngược lại tất cả những điều đó. Qui tắc nói rằng chừng nào bạn còn chưa bị chứng minh là có tội thì bạn là vô tội - đây là điều được nói bằng lời - nhưng trong thực tế hoàn cảnh lại chính là điều đối lập lại.

Con người cứ nói một điều và cứ làm chính cái đối lập nó. Người đó nói về việc là văn minh, là văn hoá - trong khi người đó không có văn minh, không có văn hoá. Tử hình đủ là bằng chứng.

Đây là qui tắc của xã hội man rợ: mắt đền mắt, và đầu trả đầu. Nếu ai đó chặt một tay bạn, thế thì trong xã hội man rợ, luật đơn giản là một tay của người đó phải bị chặt đi. Cùng điều đó đã được tiến hành qua nhiều thời đại, và tử hình đích xác là cùng luật đó: "Mắt đền mắt. Nếu một người bị coi là đã giết ai đó, thế thì người đó phải bị giết." Nhưng đó là điều kì lạ: nếu giết ai đó là tội ác, thế thì làm sao bạn có thể loại bỏ tội ác khỏi xã hội bằng việc phạm cùng tội ác đó lần nữa? Đã có một người bị giết rồi; bây giờ có hai người bị giết. Và cũng chẳng tuyệt đối chắc chắn rằng người này đã giết người kia, bởi vì chứng minh kẻ giết người không phải là điều dễ dàng.

Nếu giết người là sai, thế thì dù điều đó do cá nhân hay do xã hội phạm phải, chuyện ra toà cũng chẳng khác biệt gì.

Giết người chắc chắn là tội ác. Tử hình là tội ác do xã hội phạm phải chống lại một cá nhân, người bất lực. Tôi không thể gọi nó là trừng phạt được, nó là tội ác.

Và bạn có thể hiểu tại sao nó bị phạm phải: đó là cách trả thù. Xã hội trả thù bởi vì người này đã không tuân theo qui tắc. Xã hội sẵn sàng giết người đó - nhưng không ai bận tâm rằng khi ai đó phạm tội giết người, điều đó chỉ ra rằng người đó là ốm yếu về tâm lí. Thay vì cho người đó vào tù hay bị hành hình, người đó nên được đưa vào chỗ có tiện nghi nơi người đó có thể được chăm sóc - vật lí, tâm lí, tâm linh. Người đó ốm; người đó cần mọi từ bi của xã hội, không có vấn đề trừng phạt.

Vâng, điều đó đúng - một người đã bị giết. Nhưng chúng ta không thể làm được gì về điều đó. Bằng việc giết người đã giết người này, bạn có cho rằng người kia sẽ trở lại cuộc sống không? Nếu điều đó là có thể, tôi sẽ ủng hộ tất cả cho kẻ giết người này bị loại bỏ - người đó không xứng đáng là một phần của xã hội - và người kia nên được sống lại. Nhưng điều đó không xảy ra. Người kia đã đi vĩnh viễn; không có cách nào làm người kia sống lại được. Vâng, bạn có thể làm một điều, bạn có thể giết người này nữa. Bạn đang cố gắng lau sạch máu bằng máu, lau bùn bằng bùn.

Bạn không nhận biết về điều đã xảy ra trong lịch sử trong nhiều trường hợp. Ba trăm năm trước đây, trong nhiều nền văn hoá người điên đã bị coi là giả vờ. Trong nhiều nền văn hoá khác người đó đã bị coi là bị ma ám. Trong các nền văn hoá khác người đó bị coi là điên, nhưng được đối xử bằng trừng phạt. Đây đã là ba cách người điên được chăm nom tới.

Họ đã bị trị liệu bằng đánh đập - chữa trị kì lạ! - và bằng việc lấy máu của họ ra. Bây giờ bạn cho truyền máu; họ thường làm điều đối lập lại - họ thường lấy máu ra khỏi người này bởi vì người ta cho rằng người đó có quá nhiều năng lượng. Một cách tự nhiên, khi máu bị lấy ra, người này trở nên yếu, bắt đầu biểu lộ dấu hiệu của yếu bởi vì nhiều máu thế đã bị lấy ra, và người ta nghĩ là họ đã chữa cho người đó khỏi điên.

Bằng việc đánh người, một cách tự nhiên thỉnh thoảng điều xảy ra là họ trở về với tri giác của mình. Cũng gần như là một người đang ngủ và bạn bắt đầu đánh người đó và người đó thức dậy. Người điên đã tuột ra khỏi tâm trí có ý thức của mình; nếu bạn đánh người đó mạnh, thỉnh thoảng có thể xảy ra là người đó tỉnh dậy trở về ý thức của mình lần nữa. Điều đó trở thành bằng chứng rằng đánh là cách chữa trị đúng. Điều đó thỉnh thoảng mới xảy ra thôi; chín mươi chín phần trăm các trường hợp là bị hành hạ không cần thiết. Nhưng đó là một ngoại lệ trở thành qui tắc.

Người ta cho rằng người điên bị ma ám, quỉ ám; thế nữa ý tưởng lại là đánh họ, bởi vì nếu họ bị ma ám, việc đánh sẽ chỉ tác động vào ma, không vào người đó. Bạn không đánh thân thể người đó, bạn thực sự đánh con ma đang ám người này, và bởi vì việc đánh mà con ma sẽ phải chạy ra. Và thỉnh thoảng người này sẽ trở về tri giác của mình - nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi, còn ít hơn một phần trăm, không nhiều hơn thế.

Tôi đã từng ở một chỗ nổi tiếng về trị liệu cho người điên. Hàng trăm người điên được đem tới chỗ đó. Đó là một ngôi đền trên bờ sông, và tu sĩ của ngôi đền đó phải đã là một đồ tể trong ít nhất vài trăm kiếp. Ông ta trông như đồ tể và ông ta cho mọi người trận đòn nên thân. Những người điên đó bị xiềng lại, bị đánh ra trò, không được ăn, và phải uống thuốc nhuận tràng rất mạnh. Và tôi đã thấy rằng thỉnh thoảng một người trở về tri giác. Dùng thuốc nhuận tràng mạnh trong vài ngày, lại không có thức ăn, sẽ dọn sạch hệ thống bên trong của người đó. Đánh đập đem người đó trở về ý thức một chút. Không thức ăn, đói - người đói không thể đảm đương được việc điên bởi vì thân thể người đó bị hành hạ thế. Để điên bạn cần chút ít thuận tiện trong tình huống cuộc sống của mình.

Bạn có thể thấy điều đó - xã hội càng thuận tiện, càng xa hoa, văn hoá càng giàu có, càng nhiều người phát điên. Xã hội càng nghèo - chết đói, đói - càng ít người phát điên. Ngay chỗ đầu tiên điên cần tâm trí. Nhưng người đói không có chất nuôi dưỡng cho tâm trí. Người đó thiếu dinh dưỡng, cho nên tâm trí người đó không ở tình huống gàn dở. Để có điều đó tâm trí cần nhiều năng lượng hơn là bình thường có được để sống sót. Điên khùng là bệnh của người giầu. Người nghèo không thể đảm đương được điều đó.

Cho nên khi bạn để cho một người đói và cho người đó thuốc nhuận tràng, điều đó dọn sạch hệ thống bên trong của người đó, làm cho người đó đói tới mức người đó trở nên hướng vào thân thể. Người đó quên mất tâm trí, mối quan tâm chính là vào thân thể. Người đó không còn quan tâm tới tâm trí và trò chơi tâm trí của nó.

Điên khùng là trò chơi tâm trí.

Cho nên thỉnh thoảng tôi thấy người được chữa trong ngôi đền đó, nhưng một phần trăm số người được chữa cũng đã gây ra tin đồn lan rộng khắp, và hàng trăm người đã được đưa tới đó. Ngôi đền này trở nên rất giầu. Tôi đã đi tới đó nhiều lần để xem nó, nhưng chỉ một lần tôi gặp một người đã được chữa; những người khác quay trở về nhà họ chỉ bị đánh, bị bỏ đói, chết đói - thậm chí còn ốm hơn, yếu hơn. Nhiều người chết bởi vì việc điều trị của tu sĩ đó.

Nhưng ở Ấn Độ, nếu trị liệu được tu sĩ thực hiện trong một ngôi đền, ở chỗ linh thiêng, thì bạn chết lại không phải là tội ác; thực tế bạn được coi là may mắn vì bạn đã chết ở nơi linh thiêng. Bạn sẽ được tái sinh ở mức tâm thức cao hơn. Cho nên điều đó không bị coi là tội ác. Và các tu sĩ đã chữa trị người điên trong hàng thế kỉ rồi, theo cùng cách, trên khắp thế giới.

Bây giờ chúng ta biết rằng người điên không thể được chữa trị theo cách này. Người điên bị cho vào nhà tù, và phòng giam biệt lập. Điều đó vẫn đang xảy ra trên khắp thế giới bởi vì chúng ta không biết phải làm gì khác. Chỉ để che giấu dốt nát của mình chúng ta tống người điên vào nhà giam, để cho chúng ta có thể quên về họ; ít nhất chúng ta có thể cứ bỏ qua sự kiện là họ tồn tại.

Trong thị trấn của tôi, ông bác của một trong các bạn tôi bị điên. Họ là những người giầu. Tôi thường tới nhà họ, nhưng ngay cả tôi mãi vài năm sau mới trở nên nhận biết rằng ông bác của một trong những người bạn này đã bị giam giữ trong tầng ngầm, bị xích lại.

Tôi hỏi, "Sao thế?"

Họ nói, "Ông ấy điên. Chỉ có hai cách thôi: hoặc là chúng tôi giữ ông ấy ở trong nhà riêng của mình, bị xích lại... Và tất nhiên chúng tôi không thể để ông ấy bị xích trên gác trong nhà được; bằng không mọi người sẽ tới thăm, và mọi người sẽ cảm thấy lo lắng và quan tâm. Và con ông ấy, vợ ông ấy, nhìn bố họ, chồng họ trong cảnh này... điều đó thật khủng khiếp. Nếu cho ông ấy vào nhà tù thì làm hỏng danh tiếng của gia đình chúng tôi, cho nên chúng tôi đã tìm ra cách. Chúng tôi đã giam ông ấy ở tầng hầm. Thức ăn được người hầu đưa tới cho ông ấy; ngoài ra không ai tới thăm ông ấy cả, không ai tới gặp ông ấy."

Tôi thuyết phục bạn tôi, "Tớ muốn gặp bác cậu."

Cậu ta nói, "Nhưng tớ không thể đi cùng cậu được - ông ấy là con người nguy hiểm, ông ấy điên! Ngay cả bị xích rồi, ông ấy vẫn có thể làm bất kì cái gì."

Tôi nói, "Ông ấy nhiều nhất có thể giết tớ. Cậu cứ ở đằng sau tớ đi để nếu tớ bị giết thì cậu có thể chạy thoát - nhưng tớ muốn đi tới đó."

Bởi vì tôi cứ nài nỉ, cậu ta xoay xở kiếm chìa khoá từ người hầu, người chăm nom thức ăn cho ông bác. Trong ba mươi năm này tôi là người đầu tiên từ thế giới bên ngoài, không phải là người hầu, đã tới gặp ông ấy. Và người đó đã có thời điên - tôi không thể nói được - nhưng bây giờ ông ấy không điên. Nhưng chẳng ai thực sự nghe ông ấy bởi vì tất cả mọi người điên đều nói, "Chúng tôi không điên." Cho nên khi ông ấy nói điều này với người hầu, "Bảo gia đình tôi là tôi không điên," người hầu chỉ cười. Cuối cùng người hầu cũng bảo với gia đình, nhưng chẳng ai để ý tới điều đó.

Khi tôi thấy người này, tôi đã ngồi cùng ông ấy, tôi đã nói với ông ấy. Ông ấy lành mạnh như bất kì ai khác trên thế giới - có lẽ còn hơn chút ít, bởi vì ông ấy nói một điều với tôi: "Ở đây trong ba mươi năm đã là một kinh nghiệm vô cùng. Thực tế bác cảm thấy may mắn là bác đã ở ngoài thế giới điên của cháu. Họ nghĩ bác điên - cứ để họ nghĩ điều đó đi, chẳng hại gì - nhưng thực tế bác may mắn là bác ở ngoài thế giới điên của cháu. Cháu nghĩ sao?" ông ấy hỏi tôi.

Tôi nói, "Bác tuyệt đối đúng. Thế giới bên ngoài còn điên hơn nhiều khi bác rời bỏ nó từ ba mươi năm trước. Trong ba mươi năm qua đã có tiến hoá lớn lao trong mọi thứ - trong cả tính điên khùng nữa. Bác nên thôi bảo mọi người là bác không điên đi; bằng không họ có thể đưa bác ra đấy! Bác đang sống cuộc sống hoàn toàn đẹp. Bác có đủ không gian để đi dạo..."

Ông ấy nói, "Đó là luyện tập duy nhất bác có thể làm ở đây - đi dạo."

Tôi bắt đầu dậy cho ông ấy vipassana. Tôi nói, "Bác đang trong tình huống hoàn hảo để trở thành vị phật: không lo nghĩ, không bận tâm, không quấy rối. Bác thực sự được phúc lành." Và lần cuối tôi gặp ông ấy, trước khi ông ấy chết, tôi có thể thấy từ khuôn mặt của ông ấy, từ đôi mắt ông ấy, rằng ông ấy không phải là cùng con người cũ - sự biến đổi toàn bộ, sự chuyển hoá đã xảy ra cho ông ấy.

Người điên cần những phương pháp thiền để cho họ có thể ra khỏi tính điên của mình. Kẻ tội phạm cần giúp đỡ tâm lí, hỗ trợ tâm linh. Họ thực sự ốm yếu sâu bên dưới, còn bạn lại trừng phạt người ốm. Đó không phải là lỗi của họ. Nếu ai đó giết người, điều đó nghĩa là người đó đã mang xu hướng giết người trong mình trong một thời gian dài. Không phải là ở đâu đó, từ không đâu cả, bất thần bạn giết ai đó đâu.

Nếu giết người xảy ra thế thì xã hội cần phải nhìn lại, thế thì toàn thể xã hội đáng phải bị phạt chứ. Sao điều như vậy đã xảy ra trong xã hội này? Bạn đã làm gì với người này đến nỗi người đó phải giết người? Sao người này đã trở nên mang tính huỷ hoại thế? - bởi vì tự nhiên cho mọi người năng lượng mang tính sáng tạo. Nó trở thành mang tính huỷ hoại chỉ khi nó bị cản trở, khi không luồng chảy tự nhiên nào được phép. Bất kì khi nào năng lượng đi tới tự nhiên nó đều bị xã hội ngăn lại, nó bị què quặt; nó bị chuyển sang hướng khác nào đó. Chẳng mấy chốc người đó lâm vào lẫn lộn. Người đó không biết cái gì là cái gì. Người đó không biết điều mình đang làm, tại sao mình làm nó. Lí do nguyên thuỷ bị bỏ lại xa đằng sau; người đó đã lấy nhiều ngã rẽ tới mức người đó đã trở thành trò chơi sắp hình.

Chẳng ai cần tử hình, chẳng ai xứng đáng với nó cả. Thực tế, không chỉ tử hình, mà không loại trừng phạt nào là đúng cả, bởi vì trừng phạt không bao giờ chữa lành con người. Mọi ngày số tội phạm cứ tăng lên; mọi ngày bạn đều xây thêm nhà tù. Điều này là kì lạ. Nó đáng phải không thế chứ. Chính điều đối lập mới đáng là hoàn cảnh, bởi vì với bao nhiêu toà án và bao nhiêu trừng phạt và bao nhiêu nhà tù, tội ác đáng phải ít đi, tội phạm đáng phải ít đi chứ. Qua thời gian, nhà tù đáng phải ít đi, toà án đáng phải ít đi. Và điều đó không xảy ra.

Chính là vì toàn thể lập luận của bạn là sai. Bạn không thể dạy bằng việc trừng phạt người khác được. Đó là điều các quan toà, chuyên gia luật pháp, chính khách đã từng nói trong nhiều thế kỉ: "Nếu chúng ta không trừng phạt mọi người, thế thì làm sao chúng ta dạy được họ? Thế thì mọi người sẽ bắt đầu phạm tội. Chúng ta phải trừng phạt mọi người để cho họ vẫn còn sợ hãi." Họ nghĩ sợ là cách dạy duy nhất - và sợ không phải là cách dạy mọi người chút nào! Điều trừng phạt làm là dạy cho mọi người quen với sợ, để cho cú sốc nguyên thuỷ không còn đó nữa. Họ biết điều có thể xảy ra: "Nhiều nhất các ông có thể đánh tôi. Và nếu một người có thể nhận điều đó, thì tôi cũng có thể nhận nó. Bên cạnh đó, trong hàng trăm kẻ trộm các ông chỉ có thể bắt được một hay hai người thôi. Bây giờ, nếu các ông thậm chí không sẵn sàng nhận rủi ro đó - chín mươi tám người thành công, hai phần trăm thất bại - các ông là cái loại người gì vậy?"

Chẳng ai học được từ trừng phạt cả. Ngay cả người đang bị trừng phạt cũng không học được điều bạn muốn người đó học. Vâng, người đó học cái gì đó khác; người đó học có bộ da dầy.

Và một khi một người vào tù, nhà tù trở thành nhà của người đó bởi vì ở đó người đó tìm thấy những người có tâm trí giống mình. Ở đó người đó tìm thấy xã hội thực của mình. Bên ngoài người đó là người xa lạ; trong tù người đó ở trong thế giới riêng của mình. Họ tất cả đều hiểu cùng ngôn ngữ, và họ là chuyên gia. Bạn có thể chỉ là người nghiệp dư, kẻ học nghề; đó có thể là học kì đầu tiên của bạn.

Tôi đã nghe một câu chuyện về một người vào tù, và trong xà lim tối tăm anh ta thấy một ông già, đang nghỉ ngơi. Ông già hỏi anh ta, "Anh định ở đây bao lâu?"

Người mới tới nói, "Mười năm."

Ông già nói, "Thế thì anh có thể ở gần cửa ra vào. Chỉ mỗi mười năm thôi! Anh dường như là kẻ nghiệp dư rồi. Ta định ở đây năm mươi năm, cho nên anh ở gần cửa ra vào. Chẳng bao lâu anh sẽ ra."

Nhưng khi bạn ở cùng với chuyên gia trong mười năm, tất nhiên bạn học tất cả các kĩ thuật, chiến lược, phương pháp của họ. Bạn học từ kinh nghiệm của họ. Bạn sẽ thấy việc giam cầm của mình là một loại đại học nơi tội ác được dạy bằng chi phí của chính phủ. Bạn sẽ thấy các giáo sư tội ác, trưởng khoa tội ác, phó giám đốc, giám đốc - đủ mọi loại người đã phạm đủ mọi loại tội ác mà bạn có thể hình dung. Chắc chắn người mới tới bắt đầu học.

Tôi đã từng ở nhiều nhà tù, và trong tất cả chúng, bầu khí hậu về bản chất là như nhau. Ý tưởng chung trong tất cả những nhà giam và nhà tù mà tôi đã tới thăm là không phải tội ác đem bạn vào tù, nó chỉ là việc bị bắt. Cho nên bạn phải học cách đúng để làm điều sai. Đấy không phải là vấn đề làm đúng; vấn đề là làm sai theo cách đúng. Và mọi tù nhân đều học cách đúng để làm điều sai trong tù. Thực tế tôi đã nói với các tù nhân, người đã nói, "Chúng tôi hăm hở hơn để ra tù sớm nhất có thể được bởi vì chúng tôi đã học nhiều thế, chúng tôi muốn thực hành. Chỉ mỗi khía cạnh thực hành bị thiếu thôi, trước khi chúng tôi bị bắt nó toàn là tri thức lí thuyết. Với việc dạy thực hành ông cần xã hội của nhà tù để dạy ông."

Một khi một người trở thành người vào tù nhiều lần, thì chẳng ở đâu khác người đó tìm thấy bản thân mình dễ dàng thế; chẳng chóng thì chầy người đó sẽ trở lại nhà giam. Qua thời gian, nhà giam trở thành xã hội thay thế của người đó. Nó thuận tiện hơn, người đó cảm thấy như ở nhà nhiều hơn; không ai ra vẻ ta đây với người đó. Mọi người đều là tội phạm. Không ai là tu sĩ và không ai là hiền nhân và không ai là người linh thiêng. Tất cả đều là người đáng thương với tất cả những yếu đuối và nhu nhược.

Bên ngoài người đó thấy rằng mình bị bác bỏ, bị bỏ rơi.

Trong thị trấn của tôi có một người vào tù nhiều lần thường xuyên. Người đó là người rất đẹp; tên người đó là Barkat Mian và người đó dành hầu hết chín tháng trong tù, thế rồi ba tháng ở ngoài. Trong ba tháng đó người đó phải tới trình diện cảnh sát hàng tuần để chứng tỏ rằng mọi thứ là ổn thoả và người đó vẫn ở đó. Nhưng tôi có tình bạn lớn với người này. Gia đình tôi giận lắm; họ nói, "Sao con cứ bạn bè với Barkat thế?" Họ thường nói với tôi, "Con người được biết qua bạn bè của người đó."

Tôi nói, "Con hiểu bố mẹ. Điều đó nghĩa là Barkat sẽ được biết tới bởi con, và cho một người chút ít sự kính trọng thì chẳng phải là cái gì xấu cả."

Họ nói, "Khi nào con sẽ thấy mọi điều theo cách đúng đây?"

Tôi nói, "Con nhìn điều đó đích xác theo cách đúng đấy. Thay vì Barkat làm giảm giá trị của con, con đang nâng giá trị cho Barkat. Bố mẹ nghĩ cái ác của anh ấy còn mạnh hơn cái thiện của con sao? Bố mẹ không tin cậy vào tính toàn vẹn của con; bố mẹ tin cậy vào tính toàn vẹn của Barkat." Tôi nói, "Dù ý kiến bố mẹ ra sao, con vẫn tin cậy vào bản thân mình. Barkat không thể làm hại gì con được. Nếu điều hại nào sẽ được làm, điều đó sẽ được con làm cho Barkat."

Anh ấy thực sự là người đẹp, tốt, và anh ấy hay bảo tôi, "Em không nên ở quanh anh. Nếu em muốn gặp anh và nói chuyện, chúng ta có thể xoay xở để gặp ở đâu đó bên ngoài thị trấn, bên bờ sông." Bản thân anh ấy sống gần nghĩa địa của người Mô ha mét giáo nơi không ai tới cả trừ phi người ta chết; người ta chỉ tới một lần. Anh ấy không được phép sống ở trong thị trấn. Trong thị trấn không ai sẵn sàng cho anh ấy thuê nhà. Dù anh ấy có sẵn sàng trả tiền thuê nhà bao nhiêu, chẳng ai muốn nhận. Không ai sẵn sàng cho anh ấy vào.

Tôi hỏi Barkat, "Anh đã thành kẻ cắp thế nào?"

Anh ấy nói, "Lần đầu tiên anh bị tù anh tuyệt đối vô tội, nhưng anh nghèo và anh đã không thể thuê được luật sư và những người muốn anh vào tù lại mong kiếm lợi nào đó. Bố và mẹ anh đều chết khi anh còn rất trẻ, mới mười bốn hay mười lăm. Còn những người họ hàng khác của anh muốn lấy tài sản của cả gia đình, nhà cửa, ruộng đất - nhưng để làm điều đó họ phải tống anh ra khỏi đường. Họ đơn giản xoay xở làm điều đó. Họ để cái gì đó vào túi anh trong nhà anh, và không có cách nào để bỏ nó ra. Vật đó đã được tìm thấy trong túi anh, và anh bị tống vào tù. Khi anh trở về, đất đã mất, nhà đã bị bán, họ hàng anh đã xoay xở phân tán và phân phối mọi thứ. Anh chỉ còn ở trên phố.

"Thế là đầu tiên, anh vô tội khi anh bước vào tù, nhưng khi anh bước ra anh không còn hồn nhiên nữa, bởi vì anh đã tốt nghiệp. Anh kể cho mọi người trong tù về điều đã xảy ra cho anh - anh mới chỉ mười bẩy - và họ nói 'Đừng lo nghĩ, chín tháng này sẽ chóng kết thúc thôi, nhưng trong chín tháng chúng ta sẽ cho cháu kĩ năng cuối cùng và cháu sẽ có khả năng trả thù mọi người.'

"Đầu tiên anh bắt đầu trả thù mọi người họ hàng - điều này đơn giản để trả đũa. Họ đã buộc anh thành kẻ cắp, và anh đã chứng minh rằng bây giờ anh là kẻ cắp đấy. Anh bám theo cả nhóm họ hàng nhà anh và đánh cắp mọi thứ họ có. Nhưng dần dần anh trở nên ngày một dính líu hơn. Em có thể can dự vào mười vụ và đều được cứu thoát, nhưng đến vụ thứ mười một thì em bị bắt. Khi em càng lớn hơn và hiệu quả hơn, em bị bắt ít hơn. Nhưng bây giờ không có vấn đề gì; thực tế nhà tù là chỗ thảnh thơi, ngày nghỉ làm việc và nghỉ lo lắng và đủ mọi thứ. Vài tháng trong tù là tốt cho sức khoẻ - nó là cuộc sống có kỉ luật với thời gian đích xác để thức dậy, đi làm, đi ngủ. Và đủ thức ăn để giữ cho em sống."

Anh ấy nói, "Anh chưa bao giờ ốm trong tù, trừ phi anh giả vờ để cho anh có thể vào bệnh viện để có ngày nghỉ chút ít. Bên ngoài anh ốm, nhưng chưa bao giờ ốm bên trong. Và bên ngoài là thế giới ngoại; mọi người đều cao siêu còn anh kém cỏi. Chỉ trong tù anh mới cảm thấy tự do."

Thật kì lạ! Khi anh ấy nói điều đó, tôi nói, "Anh nói trong tù anh cảm thấy tự do sao?"

Anh ấy nói, "Đúng, chỉ trong tù anh mới cảm thấy tự do."

Đây là cái loại xã hội gì vậy, nơi mọi người trong tù cảm thấy tự do, và bên ngoài họ cảm thấy bị cầm tù?

Và đây gần như là câu chuyện của mọi tội phạm. Một điều nhỏ trong lúc bắt đầu - có thể người đó đói, có thể người đó lạnh, cần chiếc chăn và chỉ đánh cắp chiếc chăn thôi - những nhu cầu nhỏ bé đáng được đáp ứng; bằng không thì xã hội không nên tạo ra những người này. Không ai đòi hỏi xã hội tạo ra họ. Một mặt bạn cứ sinh ra ngày một nhiều người, và không có đủ thứ cho họ, không cái ăn không cái mặc không chỗ trú ngụ. Thế thì bạn mong đợi cái gì? Bạn đang đặt mọi người vào tình huống họ nhất định trở thành tội phạm.

Dân số thế giới phải được cắt giảm đi một phần ba nếu bạn muốn tội ác biến mất.

Nhưng không ai muốn tội ác biến mất bởi vì sự biến mất của tội ác nghĩa là việc biến mất của chánh án, luật sư, chuyên gia pháp luật, của nghị viện, của cảnh sát, của cai tù. Nó sẽ tạo ra vấn đề thất nghiệp lớn; không ai muốn cái gì thay đổi cho tốt hơn.

Mọi người đều nói mọi sự nên thay đổi cho tốt hơn, nhưng mọi người đều cứ làm cho mọi sự tồi hơn, bởi vì mọi sự càng tồi đi thì mọi người càng có việc. Mọi sự càng tồi đi thì càng nhiều cơ may cho bạn cảm thấy thoải mái. Tội phạm được cần tới để bạn cảm thấy rằng bạn là người đạo đức, đáng kính thế. Tội đồ được cần tới để thánh nhân cảm thấy rằng họ là thánh nhân. Không có tội đồ, ai sẽ là thánh nhân? Nếu toàn xã hội chỉ gồm những người tốt, bạn có cho rằng bạn sẽ nhớ tới Jesus Christ từ hai nghìn năm không? Để làm gì? Chính xã hội tội phạm mới nhớ tới Jesus Christ trong hai nghìn năm.

Đó là điều đơn giản để hiểu. Sao bạn nhớ tới Phật Gautam? Nếu như có hàng triệu chư phật, những người thức tỉnh, trong thế giới này thì bạn sẽ chẳng để ý gì. Phật Gautam đã có cái đặc biệt gì? Ông ấy chắc sẽ bị mất hút trong đám đông. Nhưng hai mươi nhăm thế kỉ đã trôi qua và ông ấy đứng như cột trụ, đỉnh núi xa trên đầu bạn.

Thực tế Phật, Jesus, Mohammmed, Mahavira, không phải là những người khổng lồ - bạn mới là người rất nhỏ bé. Và mọi người khổng lồ đều có đầu tư vào việc vẫn còn là người nhỏ bé của bạn; bằng không ông ấy sẽ không là người khổng lồ. Đây là mưu đồ lớn lao.

Tôi chống lại toàn thể mưu đồ này. Tôi không là người khổng lồ cũng chẳng là người nhỏ bé; tôi không có quyền lợi được đầu tư chút nào. Tôi chỉ là bản thân mình. Tôi không so sánh bản thân mình với bất kì ai, cho nên không ai là thấp hơn tôi và không ai là cao hơn tôi. Bởi vì sự kiện đơn giản này tôi có thể thấy trực tiếp; không có quyền lợi được đầu tư làm lệch tầm nhìn của tôi. Và đây là đáp ứng tức khắc của tôi cho câu hỏi về tử hình - nó là bằng chứng đơn giản rằng con người vẫn cần được văn minh, cần được văn hoá, cần biết giá trị nhân bản.

Trong thế giới này không ai là tội phạm, chưa bao giờ đã từng có. Vâng, có những người cần từ bi - không tù đầy, không trừng phạt. Tất cả mọi nhà tù nên được biến thành nhà nuôi dưỡng tâm lí.

Vấn đề sống và chết - đáp lại câu hỏi

Em gái tôi bị tai nạn, và từ đó nó không cử động được, nó không nhìn được, nó không nghe được, nó không nói được. Để nó chết đi có tốt hơn không?

Đó là một trong những câu hỏi nền tảng nhất, đã được đưa ra trên khắp trái đất ở các dạng khác nhau. Bởi vì trong hàng thế kỉ chúng ta đã chấp nhận ý tưởng rằng cái chết nên được né tránh, rằng nó là cái gì đó độc ác - rằng cuộc sống được Thượng đế trao cho, còn cái chết tới qua quỉ.

Ngay cả trong nghề y, mọi người tốt nghiệp ngành y trên thế giới đều phải lấy lời thề Hippocrates nói rằng người đó sẽ không giúp cho bất kì ai theo bất kì cách nào chết đi; người đó sẽ giúp theo mọi cách có thể để bảo vệ cuộc sống.

Điều đó là đúng vào những ngày của Hippocrates, bởi vì cứ mười đứa trẻ được sinh ra chỉ một đứa sống sót trở thành người lớn. Chín đứa sẽ chết, đó là tình huống. Dân số toàn thế giới vào thời của Phật Gautam nhỏ tới mức bạn không thể hình dung nổi. Nó chỉ hai trăm triệu người. Bây giờ một mình Ấn Độ có gần một tỉ người. Toàn thế giới có hơn năm tỉ người. Từ hai trăm triệu người, trong hai mươi nhăm thế kỉ, chúng ta đã đạt tới hơn năm tỉ người, trên cùng Trái đất này. Và y học đã phát triển vượt bực.

Điều thường được nói là bẩy mươi năm là thời gian dài nhất người ta có thể hi vọng sống. Trong gần năm nghìn năm, các nhà khoa học đã nghiên cứu về xương, các bộ xương, để tìm ra đích xác con người thường sống được bao lâu. Và họ đã đi tới kết luận rằng mọi người không sống quá bốn mươi tuổi - cho nên cũng phải khi mọi người nói rằng trong quá khứ, thời đó đẹp tới mức không người cha nào đã thấy cái chết của con trai mình. Điều đó là tự nhiên. Nếu mọi người cha sẽ chết vào tuổi bốn mươi, làm sao người đó sẽ thấy cái chết của con riêng của mình được?

Nhưng trong điều này, chín đứa trẻ nhỏ kia đã không được tính tới, bởi vì chúng không sống quá hai năm. Cho nên trong thực tế, mọi người cha đều thấy hàng tá con trai và con gái chết. Một khi đứa trẻ đã sống hơn hai năm, thế thì có khả năng cho nó sống ít nhất bốn mươi năm. Một cách tự nhiên, đồng thời cha nó sẽ chết.

Bây giờ có nhiều người đã qua một trăm tuổi và ở một số nơi trên thế giới bạn có thể tìm thấy người trên trăm tuổi vẫn có thể làm việc trên cánh đồng như bất kì thanh niên nào. Một số nhà khoa học nói rằng có khả năng, nếu được nuôi dưỡng đúng, luyện tập đúng và bầu không khí đúng, thì thân thể con người có khả năng sống ít nhất ba trăm năm. Đó là viễn cảnh rất nguy hiểm, bởi vì ngay cả trong thời gian chín mươi hay một trăm năm, bạn cũng phát chán thế với cuộc sống - bạn sẽ làm gì trong ba trăm năm? Các thành viên của gia đình riêng của bạn sẽ không nhận ra bạn. Trong ba trăm năm, bao nhiêu thế hệ của con cháu riêng của bạn - họ sẽ không có quan hệ nào với bạn cả. Lỗ hổng sẽ quá lớn.

Và bạn sẽ định làm gì? Bạn đã sống, bạn đã yêu. Bạn đã thấy tất cả mọi điều cuộc sống chứa đựng - thất bại, thành công; đau đớn và vui thú, ngày và đêm. Bạn đã thấy tất cả các mùa; bây giờ chẳng có gì hơn. nó bây giờ chỉ là lặp lại, cùng bánh xe đó đang chuyển động.

Chúng ta phải nghĩ lại về toàn thể vấn đề chết. Ý kiến riêng của tôi là ở chỗ nếu một người đi tới giai đoạn mà người đó thấy rằng việc mình sống là tuyệt đối vô dụng, người đó đã sống đủ rồi, thế thì điều đó không nên là bất hợp pháp. Điều đó nên là tuyệt đối được chấp nhận; thực tế mọi bệnh viện nên có một khoa đặc biệt dành cho những người đi tới chết ở đó - để cho họ có thể chết trong an bình, trong im lặng, với tất cả chăm sóc y tế thích hợp. Chăm sóc y tế này không phải là để giữ cho họ sống, chăm sóc y tế này là để giúp cho họ chết đẹp đẽ, an bình nhất có thể được.

Gợi ý riêng của tôi là ở chỗ mọi khoa chết trong bệnh viện nên có một thiền nhân, người có thể giúp cho mọi người học thiền trước khi họ chết, để cho họ có thể chết mang tính thiền. Cái chết của họ có thể trở thành một kinh nghiệm có giá trị vô cùng, có lẽ còn có giá trị hơn cả toàn thể cuộc sống của họ đã từng là. Và họ đã không phạm phải tội lỗi nào.

Bạn có thể có thời gian để nghĩ về nó. Có lẽ con người này xúc động nổi giận vào khoảnh khắc đó. Có lẽ cái gì đó xảy ra mà đã cho họ ý tưởng, "Tốt hơn cả là kết thúc cuộc đời mình." Họ nên được cho thời gian, nên được bảo, "Bạn vào bệnh viện này, nghỉ ngơi trong một tháng, chuẩn bị cho cái chết của bạn. Chúng tôi sẽ giúp đỡ. Nhưng nếu trong một tháng này bạn thay đổi ý kiến, điều đó là tuỳ bạn. Bạn có thể đứng dậy và đi ra! Không ai ép buộc bạn."

Và nhớ, không xúc động nào còn lại quá vài phút. Bất kì ai tự tử, nếu người đó đợi thêm một phút nữa thôi, có thể đã không làm điều đó. Đó là vấn đề nhất thời. Nhưng nếu ai đó trong cả một tháng liên tục tận hưởng, hạnh phúc, sẵn sàng nhìn tới cái chết như cuộc phiêu lưu, thế thì nghĩa vụ của chúng ta là cho phép những người này được vứt bỏ thân thể một cách duyên dáng nhất có thể được.

Khi đáp lại câu hỏi này, tôi phải cho bạn ngần ấy giới thiệu để cho bạn có thể hiểu rằng cái chết không phải là cái gì đó ác độc, rằng nó là cái gì đó tự nhiên. Nhưng câu hỏi này không phải về người già. Câu hỏi này là về người em trẻ hơn, người không thể đi được, người không thể nhìn được, người không thể nghe được, người không thể nói được. Tất cả các giác quan của cô ấy đều thiếu vắng. Bây giờ, bạn gọi điều đó là sống sao? Đây đơn giản là sống thực vật. Và cô ấy phải trong khổ cực không thể tả được. Điều đó chúng ta không thể thấy được, bởi vì cô ấy không thể nói được gì cả. Cô ấy không có cánh cửa nào để trao đổi. Cô ấy tuyệt đối một mình, bị cắt khỏi mọi cuộc sống. Phỏng có ích gì cho việc sống thực vật của cô ấy trong bẩy mươi, tám mươi hay chín mươi năm - hay có thể còn hơn nữa? Cô ấy sẽ là gánh nặng lên gia đình. Cô ấy sẽ là nguồn buồn khổ cho gia đình và bản thân cô ấy sẽ tuyệt đối trong địa ngục, bởi vì cô ấy hoàn toàn bị cầm tù.

Nghĩ về bản thân bạn đi. Không thể nào có trại tập trung nào lớn hơn: mắt bạn bị lấy đi, tai bạn bịt bít lại, bạn không thể nói được. Bạn sẽ trong cơn mê. Có nhiều người trong tình huống như vậy. Bản thân tôi đã thấy một người đàn bà, người trong cơn mê trong chín tháng. Và các bác sĩ đều nói rằng cô ấy không bao giờ có thể trở lại ý thức được bởi vì cô ấy đã vô ý thức quá lâu tới mức hệ thống thần kinh tinh tế vẫn giữ cho người ta có ý thức đã gần như chết. Họ chỉ cho tôi xem việc chụp quét não cô ấy, và họ nói rằng tất cả các điểm làm cho người ta tự ý thức đều đã chết. Cô ấy sẽ vẫn còn vô ý thức. Và có lẽ trong năm mươi năm, bởi vì cô ấy chưa tới ba mươi khi tôi thấy cô ấy. Bây giờ cô ấy là điều nặng nề thường xuyên cho cả gia đình, cho chồng, cho con. Họ không thể làm gì được cả, họ đơn giản bất lực. Các bác sĩ không thể làm gì được, họ bất lực. Nhưng luật pháp ngăn cản giúp cho bất kì ai chết, bằng không các bác sĩ sẽ là tội phạm. Họ sẽ bị coi là kẻ giết người.

Luật pháp mang tính nguyên thuỷ. Luật pháp không hiểu từ bi. Người đàn bà đó cần cái chết nhân từ. Cô ấy thậm chí không thể yêu cầu được cái chết cho mình.

Em gái của người hỏi này không thể đòi hỏi ngay cả cái chết. Nhưng những người yêu cô ấy nên đòi hỏi chính phủ của bất kì nước nào họ thuộc vào. Bạn nên đưa trường hợp của cô ấy ra toà và nhấn mạnh rằng giữ cô ấy sống là không từ bi. Đó không phải là tình yêu; đó là ý tưởng tuyệt đối nguyên thuỷ, không có sự hỗ trợ đương đại nào. Để họ biết rằng toàn thể gia đình đều sẵn sàng, rằng cô ấy nên được kết thúc khỏi nhà tù này để cho cô ấy có thể lấy việc sinh thành mới, thân thể mới - có mắt, có tai, cô ấy có thể nói và cô ấy có thể bước. Cái chết của cô ấy sẽ không phải là thảm hoạ. Cái chết của cô ấy sẽ là ân huệ cho cô ấy.

Tôi đơn giản bảo bạn cách tiếp cận của tôi. Tôi không bảo bạn hành động tương ứng, bởi vì điều đó có thể là bất hợp pháp ở nước bạn. Bạn phải tiếp cận qua luật pháp tới chính phủ, và làm cho điều đó thành vấn đề thảo luận quốc gia, bởi vì điều đó có thể không phải chỉ là cho em bạn. Có thể có nhiều đứa trẻ khác và thanh niên khác cũng đang chịu đựng cùng cách đó - chẳng bởi lí do nào ngoại trừ rằng luật pháp không cho phép bất kì người làm nghề y nào giúp cho ai đó vứt bỏ thân thể mình.

Đây là lúc chúng ta nên hiểu, và nghề y nên hiểu - lời thề Hippoctates không nên là lời thề cho sinh viên y nữa. Họ nên được cho lời thề giúp cho người sống nếu người đó có thể sống dư dật, đẹp hơn - nhưng nếu người này không thể sống được và bạn đơn giản cứ giúp người đó chỉ thở... Thở không phải là sống. Thế thì tốt hơn cả là giúp cho người đó chết. Trong cả hai trường hợp, bạn đều từ bi. Hoặc bạn phục vụ cuộc sống hoặc bạn phục vụ cái chết - không thành vấn đề. Từ bi của bạn nên thấy rằng người này được vào không gian tốt hơn, vào cuộc sống tốt hơn.

Và mọi nước đều phải đi tới thông qua một luật, cũng như luật của nhiều nước bây giờ chấp nhận kiểm soát sinh đẻ. Đó là một đầu của cuộc sống; bạn đang ngăn cản trẻ con không được sinh ra. Nếu bạn đã chấp nhận điều đó, thế thì ở đầu kia bạn cũng nên cho phép người già, người muốn rời bỏ thế giới này, để họ rời bỏ một cách trịnh trọng. Họ có thể mời tất cả bạn bè mình, toàn thể gia đình mình. Họ có thể sống cùng cả gia đình trong một tháng, bởi vì bây giờ họ sẽ ở đây chỉ một tháng nữa.

Việc sinh không trong tay bạn, nhưng ít nhất bạn có thể tự do chọn cái chết của mình. Vài chính phủ nữa trên thế giới cũng đang sắp chấp nhận rằng ở đầu kia của cuộc sống chúng ta nên cho phép mọi người được đi nhanh hơn. Thế giới này quá đông đúc rồi. Một mặt chúng ta ngăn cản mọi người tới, và mặt khác chúng ta nên để cho họ đi tiếp, để cho thế giới trở nên ít đông hơn và ít nghèo nàn hơn.

Và vấn đề không chỉ là thế giới đang trở nên ít nghèo nàn và ít đông đúc, nó cũng là vấn đề của những người đó. Trong hầu hết tất cả các nước phương tây, đặc biệt ở Mĩ, hàng trăm nghìn người đang đơn giản sống trong bệnh viện. Họ đều chín mươi hay một trăm tuổi. Họ không thể sống trong nhà mình được, bởi vì họ thậm chí không thể thở được theo cách riêng của mình. Và dầu vậy chúng ta vẫn giữ họ sống - để làm gì? Thở nhân tạo đang được làm cho họ. Tôi không nghĩ đó sẽ là vui thú cho những người đó. Họ sẽ chẳng bao giờ quay về nhà. Họ sẽ chết trong bệnh viện. Và tôi không thấy có logic nào trong việc giữ cho họ thở nhân tạo. Khi thân thể họ không sẵn sàng thở, xin cho phép họ không thở! Đó là chuyện cá nhân của họ.

Bạn đang can thiệp quá nhiều. Bạn không để họ chết. Họ đã chết và bạn đang buộc họ tiếp tục sống cho dù bạn không nhận biết về bất kì mục đích nào cho nó. Và khi bạn đang giữ cho hàng nghìn người sống, những người đáng ra đang nghỉ ngơi trong nấm mồ của họ - chiếm chỗ không cần thiết trong các bệnh viện, chiếm thời gian của các bác sĩ, của nhiều máy móc thế và nhiều sự chăm sóc thế - mục đích là gì? Sau hai hay ba năm họ thậm chí dừng thở nhân tạo. Họ sẽ từ chối và bác bỏ điều đó. Chẳng cái gì khác sẽ xảy ra. Nhưng với những người đó ba năm bạn sẽ giữ họ sống một cách không cần thiết trong sự hành hạ. Và điều này được coi là phục vụ, điều này được coi là từ bi. Điều này được coi là mang tính Ki tô giáo. Điều này đơn giản là độc ác!

Để những người đáng thương đó được chết. Và có hàng nghìn người trên khắp thế giới sẵn sàng rời khỏi thân thể bởi vì thân thể chỉ là đau đớn cho họ. Với nhiều bệnh tật thế, với nhiều ốm yếu thế, họ không còn có khả năng làm gì cả. Họ không còn có khả năng tận hưởng cái gì.

Nhưng đó là thế giới rất kì lạ. Nó cứ đi theo các luật cũ của nó, cái đã mất mọi thực tại, cái đã trở thành chỉ là cái bóng của quá khứ và bây giờ chúng đang hành hạ nhân loại một cách không cần thiết.

Gợi ý của tôi là ở chỗ em của bạn nên được giải thoát khỏi thân thể này, bởi vì thân thể này không là gì ngoài nhà tù cho cô ấy. Nếu bạn yêu cô ấy, bạn phải nói lời tạm biệt cô ấy. Với nước mắt, với nỗi buồn, nhưng dầu vậy bạn phải nói lời tạm biệt cô ấy và bạn phải thiền và cầu nguyện rằng cô ấy sẽ đi vào một thân thể tốt hơn. Nhưng yêu cầu chính phủ, tạo ra phong trào quanh nó, để cho không chỉ em bạn được giúp. Có thể có nhiều người khác trong tình cảnh của cô ấy. Và làm thật nhiều náo động nhất có thể được về điều đó, chỉ thế thì bạn mới được phép, để cho em của bạn có thể có cái chết an bình. Và đừng lo nghĩ - bởi vì bản thể bên trong nhất của bạn không bao giờ chết.

Điều mạnh mẽ nhất trong quyền tập ấn Ki tô giáo của tôi là không ích kỉ, không nghĩ tới bản thân mình. Bây giờ, bằng việc nhớ tới bản thân mình và đi theo thôi thúc quay vào trong, tôi dường như phải đẩy qua một tầng không thoải mái, mặc cảm và lẫn lộn. Xin thầy nói về điều đó?

Tất cả các tôn giáo đều là làm hại nhiều lắm cho sự trưởng thành của con người, nhưng Ki tô giáo là trên chóp khi có liên quan tới việc làm hại nhân loại. Họ đã dùng những lời mĩ miều để che giấu hành động xấu xa chống lại bạn. Chẳng hạn, không ích kỉ - bảo một người không biết tới bản thân mình là không ích kỉ chính là ngu xuẩn kì quặc tới mức người ta không thể tin được Ki tô giáo đã từng làm điều đó trong hai nghìn năm.

Socrates nói, "Biết bản thân ông; mọi thứ khác đều là phụ." Biết tới bản thân mình, bạn có thể không ích kỉ. Thực tế bạn sẽ không ích kỉ; nó sẽ không phải là nỗ lực về phần bạn. Biết tới bản thân mình, bạn sẽ biết không chỉ bản thân mình mà còn biết cái ta của mọi người. Nó là một; nó là một tâm thức, một lục địa. Mọi người không phải là những hòn đảo. Nhưng không dạy mọi người cách biết tới bản thể riêng của mình, Ki tô giáo đã chơi trò chơi nguy hiểm, và trò chơi đó đã hấp dẫn mọi người bởi vì họ đã dùng một từ mĩ miều, "không ích kỉ." Nó có vẻ tôn giáo, nó có vẻ tâm linh. Khi tôi nói, "Trước hết hãy ích kỉ," điều đó không có vẻ tâm linh.

Ích kỉ sao?

Tâm trí bạn bị ước định rằng không ích kỉ là tâm linh. Tôi biết nó là vậy, nhưng chừng nào bạn còn chưa đủ ích kỉ để biết tới bản thân mình, không ích kỉ là không thể được. Không ích kỉ sẽ tới như hệ quả của việc biết tới bản thân mình, của việc là bản thân mình. Thế thì không ích kỉ sẽ không là hành động của đức hạnh, không được làm để thu được phần thưởng trên cõi trời. Thế thì không ích kỉ sẽ đơn giản là bản tính của bạn, và từng hành động của không ích kỉ sẽ là phần thưởng lên bản thân nó.

Nhưng Ki tô giáo đã đặt con ngựa đằng sau chiếc xe - chẳng cái gì chuyển động, mọi thứ mắc kẹt. Ngựa bị mắc kẹt bởi vì chiếc xe ở trước nó, và chiếc xe không thể chuyển động được bởi vì không xe nào có thể chuyển động chừng nào ngựa còn chưa ở trước nó, kéo nó.

Chuyện xảy ra với hầu hết người Ki tô giáo là khi người đó bắt đầu thiền, nó đem tới cảm giác phạm tội - khi toàn thể thế giới đang rối loạn thế, khi mọi người đang nghèo thế, khi mọi người đang chết đói, khi mọi người đang bị AIDS, bạn thiền sao? Bạn phải hoàn toàn ích kỉ! Trước hết giúp người nghèo, trước hết giúp những người đang bị AIDS, trước hết giúp mọi người khác.

Nhưng cuộc sống của bạn rất ngắn ngủi. Trong bẩy mươi hay tám mươi năm, bạn có thể xoay xở được bao nhiêu hành động không ích kỉ? Và khi nào bạn sẽ tìm ra thời gian cho thiền - bởi vì bất kì khi nào bạn bắt đầu đi tới thiền, những người nghèo kia lại có đó, bệnh tật mới lại bùng phát, trẻ em mồ côi có đó, người ăn xin có đó.

Một bà mẹ bảo đứa con trai nhỏ của mình, "Không ích kỉ là nền tảng của tôn giáo chúng ta. Đừng bao giờ ích kỉ, hãy giúp người khác."

Cậu bé này - và mọi cậu bé đều nhạy cảm và rõ ràng hơn cái gọi là cậu già của bạn - cậu bé này nói, "Điều này dường như là điều rất kì lạ, rằng con phải giúp người khác và họ phải giúp con. Sao không làm điều đó đơn giản đi? Con giúp con, họ giúp họ." Nền tảng này của tôn giáo dường như rất phức tạp - và phức tạp không cần thiết.

Thực tế, Ki tô giáo đã kết án các tôn giáo phương Đông vì lẽ đơn giản là chúng có vẻ ích kỉ. Mahavira, nhà huyền môn Jaina, thiền trong mười hai năm... ông ấy đáng phải dạy trong trường học, hay làm việc trong bệnh viện chứ. Ông ấy đáng phải chăm sóc trẻ mồ côi, là Mẹ Teresa và được giải thưởng Nobel.

Điều rõ ràng là không thiền nhân nào đã từng nhận giải thưởng Nobel. Để làm gì? - bạn đã không làm cái gì không ích kỉ cả. Bạn là người ích kỉ nhất trên thế giới, chỉ thiền và tận hưởng im lặng và an bình và phúc lạc của bạn, tìm thấy chân lí, tìm thấy tính thượng đế, trở nên hoàn toàn tự do với mọi nhà tù. Đây toàn là ích kỉ. Cho nên tâm trí Ki tô giáo thấy hơi khó chấp nhận ý tưởng về thiền. Trong Ki tô giáo không có thiền, chỉ có lời cầu nguyện.

Họ không thể gọi Phật Gautam là người tôn giáo thực sự được, bởi vì ông ấy đã làm gì cho người nghèo? Ông ấy đã làm gì cho người ốm? Ông ấy đã làm gì cho người già? Ông ấy đã trở nên chứng ngộ - đó là điều tối thượng trong tính ích kỉ! Nhưng phương Đông có cái nhìn hoàn toàn khác - và còn logic hơn, hợp lí hơn, hiểu được hơn nhiều lắm. Phương Đông bao giờ cũng nghĩ chừng nào bạn còn chưa có an bình, im lặng trong tim bạn, bài ca trong bản thể bạn, ánh sáng toả ra chứng ngộ của bạn, bạn không thể phục vụ gì được cho bất kì ai. Bản thân bạn ốm yếu; bản thân bạn là con côi bởi vì bạn chưa tìm thấy an ninh tối thượng của sự tồn tại, an toàn vĩnh hằng của cuộc sống. Bản thân bạn nghèo tới mức bên trong không có gì ngoài bóng tối. Làm sao bạn có thể giúp được cho người khác? Bản thân bạn đang chìm, sẽ là nguy hiểm để giúp người khác; nhiều nhất bạn sẽ làm người khác chìm theo. Trước hết bạn phải học bơi đã. Chỉ thế thì bạn mới có thể có ích để giúp đỡ người đang chìm.

Cách tiếp cận của tôi là tuyệt đối rõ ràng. Trước hết hãy ích kỉ, và khám phá ra tất cả những điều được chứa trong bản thân bạn - tất cả mọi niềm vui và mọi phúc lạc và mọi cực lạc. Và thế thì không ích kỉ sẽ tới như cái bóng của bạn đi theo bạn - bởi vì có trái tim nhảy múa, có tính thượng đế trong bản thể bạn, bạn phải chia sẻ nó. Bạn không thể cứ giữ nó như kẻ keo kiệt, bởi vì tính keo kiệt trong sự trưởng thành bên trong của bạn là cái chết.

Kinh tế của trưởng thành bên trong là khác với kinh tế bên ngoài. Kinh tế thông thường là ở chỗ nếu bạn cứ cho đi, bạn sẽ có ngày một ít dần và ít dần. Nhưng kinh tế tâm linh là ở chỗ nếu bạn không cho, bạn sẽ có ngày một ít dần và ít dần; nếu bạn cho, bạn sẽ có ngày một nhiều hơn và nhiều hơn. Luật của thế giới bên ngoài và thế giới bên trong là đối lập hẳn nhau.

Trước hết trở nên giầu có bên trong, trước hết trở thành hoàng đế. Thế thì bạn có nhiều thế để chia sẻ, bạn thậm chí sẽ không gọi nó là không ích kỉ. Và bạn sẽ không có ham muốn rằng phần thưởng nào đó phải trao cho bạn, ở đây hay ở sau đây. Bạn thậm chí sẽ không yêu cầu sự biết ơn từ người bạn đã cho cái gì đó; ngược lại, bạn sẽ biết ơn rằng người đó đã không bác bỏ tình yêu của bạn, phúc lạc của bạn, cực lạc của bạn. Người đó đã tiếp nhận, đã cho phép bạn trút từ trái tim mình bài ca của mình và âm nhạc của mình vào bản thể người đó.

Ý tưởng Ki tô giáo về không ích kỉ là cực kì ngu xuẩn. Phương Đông chưa bao giờ nghĩ theo cùng cách đó. Toàn thể lịch sử của phương Đông và việc tìm kiếm của nó về chân lí là rất dài và nó đã tìm thấy một sự kiện đơn giản - rằng trước hết bạn phải chăm sóc bản thân mình, và chỉ thế bạn mới có thể chăm sóc người khác.

Người hỏi cảm thấy mặc cảm nào đó. Cô ấy nói, "Tôi dường như phải đẩy qua một tầng không thoải mái, mặc cảm và lẫn lộn. Xin thầy nói về điều đó."

Đó là hiện tượng đơn giản. Ki tô giáo đã lừa hàng triệu người qua con đường sai. Và người Ki tô giáo chính thống là người cuồng tín nhất, người tin mù quáng nhất mà bạn có thể tìm thấy. Thời buổi này phương Đông đã quên mất những đỉnh cao vinh quang của nó rồi - những ngày của Phật Gautam và Mahavira. Bây giờ ngay cả những người không phải là Ki tô giáo cũng bị ảnh hưởng bởi ý thức hệ Ki tô giáo. Thời buổi này hiến pháp Ấn Độ nói rằng từ thiện bao gồm việc giúp người nghèo, mở rộng giáo dục cho người nghèo, và làm bệnh viện cho người nghèo. Không điều nào trong ba điều này được tìm thấy trong giáo huấn của Phật Gautam. Không phải là ông ấy chống lại việc giúp người nghèo, nhưng bởi vì ông ấy biết rằng nếu bạn là thiền nhân, bạn sẽ giúp đỡ, nhưng bạn sẽ không ba hoa về điều đó. Nó sẽ là điều đơn giản, tự nhiên.

Nhưng dạy thiền không phải là việc từ thiện, mở bệnh viện mới là từ thiện. Mở trường học và dạy địa lí và lịch sử là từ thiện. Và bạn định dạy gì trong địa lí? - Timbuktu ở đâu, Constantinople ở đâu. Trong lịch sử, bạn định dạy gì? - về Genghis Khan, Tamerlane, Nadirshah, Alexander Đại đế, Ivan Khủng khiếp. Đây là từ thiện sao? Nhưng dạy mọi người im lặng, an bình, đằm thắm, vui vẻ, mãn nguyện, hoàn thành thì không phải là từ thiện. Ngay cả những người không phải là người Ki tô giáo cũng đã trở nên bị tiêm nhiễm bởi bệnh này.

Mahatma Gandhi, ít nhất ba lần trong đời mình, đã suýt trở thành người Ki tô giáo. Thực tế, ông ấy là người Ki tô giáo, chín mươi phần trăm. Ts. Ambedkar, người đã viết ra hiến pháp Ấn Độ, đã từng nghĩ trong nhiều năm rằng ông ấy và tín đồ của ông ấy, những tiện dân, phải là người Ki tô giáo. Cuối cùng ông ấy đã quyết định rằng họ phải trở thành Phật tử. Nhưng trong toàn thể hiến pháp Ấn Độ bạn có thể thấy ảnh hưởng của Ki tô giáo. Trong toàn thể hiến pháp Ấn Độ thậm chí không nhắc gì tới từ "thiền" - điều đã từng là đóng góp của phương Đông cho thế giới, và là đóng góp quí giá nhất của nó. Thay vì thế, hiến pháp này phản ánh nhiều về điều các nhà truyền giáo Ki tô giáo cứ thuyết giảng. Nó không phản ánh Phật Gautam, nó không phản ánh Kabir, nó không phản ánh Nanak.

Tôi thấy rằng không thể có từ thiện mà không có thiền.

Cho nên mặc cảm của bạn chỉ là ước định sai. Vứt nó đi, thậm chí không cho nó một giây suy nghĩ. Bạn sẽ trở thành không ích kỉ bởi việc tuyệt đối ích kỉ. Trước hết bạn phải trở nên giầu có bên trong - giầu có, giầu tràn ngập tới mức bạn phải chia sẻ, cũng như đám mây mưa phải chia sẻ nước mưa của nó với đất khát. Nhưng trước hết mây phải đầy nước mưa. Việc nói với đám mây trống rỗng, "Bạn phải không ích kỉ," chỉ là phi lí.

Mọi người tới gặp tôi, những người có ước muốn tốt, với ý định tốt, và họ nói, "Đây là chỗ kì lạ thầy có quanh thầy. Thầy phải mở bệnh viện cho người nghèo; thầy phải thu nhận con côi; thầy phải phân phát quần áo cho người ăn xin; thầy phải giúp những người cần sự giúp đỡ chứ." Cách tiếp cận của tôi là hoàn toàn khác. Tôi có thể phân phát phương pháp kiểm soát sinh đẻ cho người nghèo để cho không có con côi. Tôi có thể phân phát thuốc cho người nghèo để cho không có bùng nổ dân số bởi vì tôi thấy chẳng có vấn đề gì - trước hết cứ tạo ra con côi rồi tạo ra trại mồ côi và rồi phục vụ chúng và phí hoài cuộc sống của bạn sao?

Khi tôi bắt đầu nói vào những năm 1960, Ấn Độ có dân số bốn trăm triệu người. Tôi đã nói kể từ đó rằng kiểm soát sinh đẻ là tuyệt đối cần thiết. Nhưng người Ki tô giáo chống lại kiểm soát sinh đẻ, và chỉ trong vòng ba mươi nhăm năm, Ấn Độ đã hơn gấp đôi dân số của mình. Từ bốn trăm triệu nó lên tới chín trăm triệu. Năm trăm triệu người có thể đã được ngăn cản, và đáng ra đã không cần tới Mẹ Teresa, không cần giáo hoàng tới Ấn Độ và dạy về không ích kỉ.

Nhưng mọi người đều kì lạ - trước hết để họ trở nên ốm yếu, thế rồi cho thuốc. Và họ đã tìm ra cách thức hay. Trong mọi câu lạc bộ Lions và Rotary, họ để các cái hộp cho các thành viên của mình - nếu bạn mua một chai thuốc nào đó và bạn được chữa khỏi, và nửa chai thuốc vẫn còn, bạn cúng dường nó cho câu lạc bộ Lions. Theo cách này họ thu thập thuốc men, và rồi họ là những người cao thượng, người không ích kỉ nên họ phân phát thuốc này. Phục vụ là khẩu hiệu của họ. Nhưng đấy là phục vụ rất tinh ranh. Những thuốc đó sẽ bị đem vứt đi - nếu bạn được chữa khỏi, bạn sẽ làm gì với số thuốc còn lại? Chính ý tưởng lớn là thu thập tất cả những thuốc đó và phân phối chúng cho người nghèo - và có cảm giác lớn lao của việc là người phục vụ công chúng.

Theo tầm nhìn của tôi, điều con người cần trước hết và cao nhất là tâm thức thiền. Và sau khi bạn có tâm thức thiền, bất kì điều gì bạn làm đều sẽ có ích cho mọi người; bạn không thể làm hại gì được, bạn có thể làm chỉ hành động từ bi và đáng yêu.

Cho nên tôi nhắc lại: trước hết hãy ích kỉ. Biết tới bản thân mình, là bản thân mình và thế rồi chính cuộc sống của bạn sẽ không là gì ngoài việc chia sẻ, việc chia sẻ không ích kỉ, và không đòi hỏi bất kì ban thưởng nào trong thế giới này hay trong thế giới kia.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập