Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Cách sống có ý thức Từ bi : Việc nở hoa tối thượng của tình yêu
 
 
Cách sống có ý thức

Từ bi : Việc nở hoa tối thượng của tình yêu - (1)

Chỉ mục bài viết

Từ bi, năng lượng và ham muốn

Phật sống bốn mươi năm sau khi ông ấy trở nên chứng ngộ. Sau khi tất cả các ham muốn của ông ấy đã được kết thúc, bản ngã biến mất, ông ấy đã sống thêm bốn mươi năm nữa. Nhiều lần người ta hỏi, "Sao thầy vẫn còn trong thân thể?" Khi công việc được hoàn thành bạn phải biến mất. Điều đó có vẻ phi logic: Sao Phật phải tồn tại trong thân thể ngay cả một khoảnh khắc lâu hơn? Khi không có ham muốn, làm sao thân thể có thể tiếp tục được?

Có điều gì đó rất sâu sắc cần được hiểu. Khi ham muốn biến mất, năng lượng, cái đã đi vào trong ham muốn, vẫn còn lại; nó không thể biến mất được. Ham muốn chỉ là một dạng của năng lượng; đó là lí do tại sao bạn có thể biến ham muốn này thành ham muốn khác. Giận dữ có thể trở thành dục, dục có thể trở thành giận dữ. Dục có thể trở thành tham lam, cho nên bất kì khi nào bạn thấy một người rất tham người đó sẽ kém dục. Nếu người đó thực sự tham lam hoàn hảo người đó sẽ không mang tính dục chút nào, người đó sẽ vô dục - bởi vì toàn thể năng lượng chuyển vào trong tham lam. Và nếu bạn thấy một người rất dục bạn bao giờ cũng thẩy rằng người đó không tham lam, bởi vì chẳng cái gì còn lại dành cho tham lam. Nếu bạn thấy một người đã đè nén dục tính của mình, người đó sẽ giận dữ; giận dữ bao giờ cũng sẵn sàng trồi lên bề mặt. Bạn có thể thấy trong mắt người đó, trên mặt người đó, rằng người đó đang giận; tất cả năng lượng dục đã trở thành giận dữ.

Đó là lí do tại sao cái gọi là các sư và sadhu bao giờ cũng giận dữ. Cách họ bước đi họ biểu lộ giận dữ của họ; cách họ nhìn bạn họ biểu lộ giận dữ của họ. Im lặng của họ chỉ sâu như làn da - chạm vào họ và họ sẽ trở thành giận dữ. Dục trở thành giận dữ. Đây là các dạng; cuộc sống là năng lượng.

Điều gì xảy ra khi tất cả các ham muốn biến mất? Năng lượng không thể biến mất, năng lượng không thể bị phá huỷ. Hỏi các nhà vật lí mà xem; ngay cả họ cũng nói rằng năng lượng không thể bị phá huỷ. Năng lượng nào đó tồn tại trong Phật Gautam khi ông ấy trở nên chứng ngộ. Năng lượng đó đã từng đi vào trong dục, giận dữ, tham lam, theo cả triệu cách. Thế rồi tất cả những dạng đó biến mất - cho nên cái gì trở thành năng lượng đó? Năng lượng không thể đi ra khỏi sự tồn tại được, và khi ham muốn không có đó, nó trở thành vô hình dạng nhưng nó vẫn tồn tại. Bây giờ chức năng của nó là gì? Năng lượng đó trở thành từ bi.

Bạn không thể ở trong từ bi được bởi vì bạn không có năng lượng. Tất cả năng lượng của bạn đều bị phân chia và lan toả vào các dạng khác nhau - lúc thì dục, lúc thì giận dữ, lúc thì tham lam. Từ bi không phải là một dạng. Chỉ khi tất cả các ham muốn của bạn biến mất thì năng lượng của bạn mới trở thành từ bi.

Bạn không thể trau dồi từ bi được. Khi bạn vô ham muốn, từ bi xảy ra; toàn thể năng lượng của bạn đi vào trong từ bi. Và chuyển động này là rất khác. Ham muốn có động cơ trong nó, có mục đích; từ bi là không có động cơ; không có mục đích cho nó. Nó đơn giản là năng lượng tràn ngập.

Từ bi là tình yêu đến tuổi lớn

Nhấn mạnh của Phật Gautam vào từ bi là hiện tượng mới khi có liên quan tới các nhà huyền môn thời xưa. Phật Gautam tạo ra đường phân chia lịch sử với quá khứ. Trước ông ấy, thiền là đủ; không ai đã nhấn mạnh vào từ bi cùng với thiền. Và lí do là ở chỗ thiền đem tới chứng ngộ, việc nở hoa của bạn, cách diễn đạt tối thượng của bản thể bạn - bạn còn cần gì hơn nữa? Khi có liên quan tới cá nhân, thiền là đủ. Vĩ đại của Phật chính là đưa vào từ bi thậm chí trước khi bạn bắt đầu thiền. Bạn phải đằm thắm hơn, tốt bụng hơn, từ bi hơn.

Có khoa học ẩn kín đằng sau nó. Trước khi bạn trở nên chứng ngộ, nếu bạn có trái tim đầy từ bi thì có khả năng là sau thiền bạn sẽ giúp đỡ người khác đạt tới cùng cái đẹp, cùng chiều cao, cùng lễ hội như bạn đã đạt tới. Phật Gautam làm chứng ngộ thành có khả năng tiêm nhiễm.

Nhưng nếu người này cảm thấy rằng mình đã về nhà, sao còn bận tâm về bất kì ai khác? Phật lần đầu tiên làm chứng ngộ thành không ích kỉ; ông ấy làm nó thành trách nhiệm xã hội. Đó là thay đổi lớn về cảnh quan. Nhưng từ bi nên được biết trước khi chứng ngộ xảy ra. Nếu nó không được biết trước, thế thì sau khi chứng ngộ chẳng có gì để học cả. Khi người ta trở nên cực lạc thế trong bản thân mình, thế thì ngay cả từ bi cũng dường như là việc ngăn cản niềm vui riêng của người ta, một loại quấy rối cho cực lạc của người ta. Đó là lí do tại sao đã có hàng trăm người chứng ngộ, nhưng rất ít thầy.

Được chứng ngộ không có nghĩa là nhất thiết bạn sẽ trở thành thầy. Trở thành thầy nghĩa là bạn có từ bi mênh mông, và bạn cảm thấy xấu hổ khi đi một mình vào những nơi đẹp đẽ đó mà chứng ngộ làm thành có sẵn. Bạn muốn giúp đỡ những người còn mù, trong bóng tối, dò dẫm theo cách của họ. Giúp đỡ họ trở thành niềm vui, không phải là sự quấy rối. Thực tế, nó trở thành niềm cực lạc giầu có hơn khi bạn thấy nhiều người thế đang nở hoa quanh bạn; bạn không phải là cái cây đơn độc đã nở hoa trong rừng thẳm nơi không cây nào khác nở hoa. Khi toàn thể khu rừng nở hoa cùng bạn, niềm vui tăng lên nghìn lần; bạn đã dùng chứng ngộ của mình để đem tới cuộc cách mạng trong thế giới này.

Phật Gautam không chỉ được chứng ngộ, mà còn là nhà cách mạng được chứng ngộ. Mối quan tâm của ông ấy với thế giới, với mọi người, là mênh mông. Ông ấy dạy cho các đệ tử của mình rằng khi bạn thiền và bạn cảm thấy im lặng, chân thành, niềm vui sâu sắc sôi sục bên trong bản thể bạn, đừng giữ nó lại; đem nó cho toàn thể thế giới. Và đừng lo, bởi vì bạn càng cho nó nhiều, bạn sẽ càng có khả năng được nó nhiều hơn. Cử chỉ cho có tầm quan trọng mênh mông một khi bạn biết rằng việc cho không lấy đi cái gì từ bạn; ngược lại nó nhân kinh nghiệm của bạn lên. Nhưng người chưa bao giờ từ bi không biết bí mật của việc cho, không biết bí mật của việc chia sẻ.

Chuyện xảy ra là một trong các đệ tử của Phật, một thường dân - anh ta không phải là sannyasin nhưng anh ta rất sùng kính Phật Gautam - nói, "Tôi sẽ làm điều đó... nhưng tôi chỉ muốn đưa ra một ngoại lệ. Tôi sẽ cho tất cả mọi niềm vui của tôi và tất cả việc thiền của tôi và tất cả kho báu bên trong của tôi cho toàn thế giới - ngoại trừ ông hàng xóm nhà tôi, bởi vì thằng cha này thực sự khó chịu."

Hàng xóm bao giờ cũng là kẻ thù. Phật Gautam nói với anh ta, "Thế thì quên thế giới đi, ông đơn giản đem cho ông hàng xóm của ông đi đã."

Người này lúng túng: "Thầy nói gì vậy?"

Phật nói, "Nếu ông có thể cho hàng xóm của ông, chỉ thế thì ông mới được thoát khỏi thái độ đối kháng này đối với con người."

Từ bi về căn bản nghĩa là chấp nhận nhược điểm của mọi người, những yếu đuối của họ, không mong đợi họ phải cư xử như các thượng đế. Mong đợi đó là độc ác, bởi vì họ sẽ không có khả năng cư xử như thượng đế và thế thì họ sẽ bị lọt vào ước lượng của bạn và cũng sẽ lọt vào tự trọng của riêng họ. Bạn đã làm họ què quặt một cách nguy hiểm, bạn đã phá hỏng chân giá trị của họ.

Một trong những nền tảng của từ bi là đề cao mọi người, làm cho mọi người nhận biết rằng điều đã xảy ra cho bạn cũng có thể xảy ra cho họ; rằng không ai là trường hợp vô vọng, không ai là không xứng đáng, rằng chứng ngộ không phải là cái gì đó phải được xứng đáng, nó là chính tự tính của bạn.

Nhưng những lời này nên tới từ người chứng ngộ, chỉ thế thì chúng mới có thể tạo ra tin cậy được. Nếu chúng tới từ học giả chưa chứng ngộ, những lời này không thể tạo ra tin cậy được. Lời được người chứng ngộ nói ra, bắt đầu việc thở, bắt đầu có nhịp tim đập của riêng nó. Nó trở thành sống động, nó đi thẳng vào tim bạn - nó không phải là thể dục trí tuệ. Nhưng với học giả nó là điều khác. Bản thân ông ấy không chắc chắn về điều mình nói, điều mình viết. Người đó có cũng không chắc chắn như bạn vậy.

Phật Gautam là một trong những bước ngoặt trong tiến hoá của tâm thức; đóng góp của ông ấy là vĩ đại, không đo được. Và trong đóng góp của ông ấy ý tưởng về từ bi là tinh tuý nhất. Nhưng bạn phải nhớ rằng trong việc là từ bi bạn không trở nên cao hơn; bằng không bạn làm hỏng toàn bộ sự việc. Nó trở thành trò bản ngã. Nhớ đừng làm bẽ mặt người khác bởi việc là từ bi; bằng không bạn không từ bi đâu - đằng sau lời nói bạn đang thích thú việc bị bẽ mặt của họ.

Từ bi phải được hiểu, bởi vì nó là tình yêu đến tuổi lớn. Tình yêu thông thường rất trẻ con, nó là trò chơi hay cho thiếu niên. Bạn càng lớn nhanh thoát ra khỏi nó càng tốt, bởi vì tình yêu của bạn là lực sinh học mù quáng. Nó chẳng liên quan gì tới trưởng thành tâm linh của bạn; đó là lí do tại sao mọi chuyện tình đều biến đi theo cách kì lạ, trở thành rất cay đắng. Cái đã từng say mê, kích động, thách thức tới mức vì nó bạn có thể đã chết... bây giờ bạn có thể vẫn chết đấy, nhưng không vì nó, bạn có thể chết để gạt bỏ nó đi!

Tình yêu là lực mù quáng. Những người yêu thành công duy nhất đã từng là những người chưa bao giờ thành công trong việc lấy được người họ yêu. Tất cả những câu chuyện lớn lao của những người yêu... Laila và Majnu, Shiri và Farhad, Soni và Mahival, đây là ba câu chuyện phương Đông về tình yêu lớn lao, sánh ngang với Romeo và Juliet. Nhưng tất cả những người yêu lớn lao này không thể ở với nhau được. Xã hội, cha mẹ, mọi thứ trở thành rào chắn. Và tôi nghĩ có lẽ điều đó là tốt. Một khi những người yêu lấy nhau, thế thì không câu chuyện tình nào còn lại.

Majnu may mắn là anh ta chưa bao giờ nắm giữ Laila. Điều gì xảy ra khi hai lực mù quáng tới với nhau? Bởi vì cả hai đều mù và vô ý thức, kết quả không thể là hài hoà lớn lao được. Kết quả chỉ có thể là chiến trường của chi phối, của làm bẽ mặt, đủ mọi loại xung đột.

Nhưng khi đam mê trở thành tỉnh táo và nhận biết, toàn thể năng lượng của tình yêu được tinh lọc; nó trở thành từ bi. Tình yêu bao giờ cũng hướng vào một người, và ham muốn sâu sắc nhất của nó là sở hữu người đó. Cùng điều đó cũng là trường hợp của phía bên kia - và điều đó tạo ra địa ngục cho cả hai người.

Từ bi không hướng tới bất kì ai. Nó không phải là mối quan hệ, nó đơn giản chính là bản thể bạn. Bạn tận hưởng từ bi với cây cối, với chim chóc, với con vật, với con người, với mọi người - một cách vô điều kiện, không đòi hỏi cái gì đáp lại. Từ bi là tự do khỏi sinh học mù quáng.

Trước khi bạn trở nên chứng ngộ, bạn phải giữ tỉnh táo rằng năng lượng yêu của bạn không bị kìm nén. Đó là điều các tôn giáo cổ đã từng làm: họ dạy bạn kết án cách diễn đạt sinh học của tình yêu của bạn. Cho nên bạn kìm nén năng lượng yêu của mình... và đó là năng lượng có thể được biến đổi thành từ bi!

Với kết án, không có khả năng của biến đổi. Cho nên các thánh nhân tuyệt đối không có từ bi nào; trong mắt họ bạn sẽ không thấy từ bi nào. Họ tuyệt đối là những bộ xương khô, không tinh tuý gì cả. Sống với thánh nhân trong hai mươi bốn giờ là đủ kinh nghiệm địa ngục giống cái gì. Có lẽ mọi người đều nhận biết về sự kiện này, cho nên họ chạm chân thánh nhân và bỏ chạy ngay lập tức.

Một trong những triết gia vĩ đại của thời đại chúng ta, Bertrand Russell, đã tuyên bố hùng hồn, "Nếu như có địa ngục và cõi trời, tôi muốn xuống địa ngục." Tại sao? Chỉ để tránh thánh nhân, bởi vì cõi trời sẽ đầy tất cả những người này đã chết, đờ đẫn, vô vị, các thánh nhân. Và Bertrand Russell nghĩ, "Tôi không thể nào chịu được toán người này dù chỉ một phút. Và tưởng tượng bị bao quanh vĩnh hằng, mãi mãi bởi những cái xác này, người không biết tình yêu nào, người không biết tình bạn nào, người chưa bao giờ đi nghỉ...!?

Thánh nhân vẫn còn phải là thánh nhân bẩy ngày một tuần. Ông ấy không được phép có ít nhất một ngày nghỉ, chủ nhật, để ông ấy có thể tận hưởng là con người. Không, ông ấy vẫn còn cứng nhắc, và cứng nhắc này cứ lớn lên khi thời gian trôi qua.

Tôi đánh giá rất cao chọn lựa của Bertrand Russell để ở trong địa ngục, bởi vì tôi có thể hiểu điều ông ấy ngụ ý bởi nó. Ông ấy đang nói rằng trong địa ngục bạn sẽ thấy tất cả những người vui tươi của thế giới - nhà thơ, hoạ sĩ, những linh hồn nổi dậy, nhà khoa học, những người sáng tạo, vũ công, diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ. Địa ngục phải thực sự là cõi trời, bởi vì cõi trời không là gì ngoài địa ngục!

Mọi sự đã đi sai thế, và lí do căn bản cho việc đi sai của họ là ở chỗ năng lượng yêu đã bị kìm nén. Đóng góp của Phật Gautam là, "Đừng kìm nén năng lượng yêu của bạn. Tinh luyện nó, và dùng thiền để tinh luyện nó." Cho nên, bên cạnh, khi việc thiền phát triển, nó cứ làm tinh tế thêm năng lượng yêu của bạn và làm nó thành từ bi. Thế rồi, trước khi việc thiền của bạn đạt tới cực đỉnh cao nhất và bùng nổ thành kinh nghiệm đẹp của chứng ngộ, từ bi sẽ ở rất gần. Người chứng ngộ có thể để năng lượng của mình tuôn chảy - và bây giờ người đó có mọi năng lượng của thế giới - qua gốc rễ của từ bi, đi tới bất kì ai thực sự sẵn sàng đón nhận. Chỉ kiểu người này mới trở thành thầy.

Trở nên được chứng ngộ là đơn giản, nhưng trở thành thầy là hiện tượng rất phức tạp, bởi vì nó cần thiền cộng với từ bi. Chỉ thiền là dễ, chỉ từ bi là dễ; nhưng cả hai cùng nhau, đồng thời phát triển, trở thành chuyện phức tạp.

Nhưng những người trở nên chứng ngộ và chưa bao giờ chia sẻ kinh nghiệm của họ bởi vì họ không cảm thấy từ bi nào thì không giúp cho tiến hoá của tâm thức trên thế gian. Họ không nâng tầm mức của nhân loại. Chỉ các bậc thầy mới có khả năng nâng tâm thức lên. Bạn có tâm thức dù nhỏ thế nào, toàn thể công lao đều thuộc vào vài bậc thầy, người đã xoay xở để vẫn còn từ bi, thậm chí sau chứng ngộ của họ.

Sẽ khó cho bạn hiểu... nhưng chứng ngộ cuốn hút tới mức người ta có xu hướng quên đi toàn thế giới. Người ta hoàn toàn được thoả mãn tới mức người ta không có không gian nào để nghĩ về tất cả hàng triệu người đang dò dẫm tìm cùng kinh nghiệm đó, có chủ ý hay không chủ ý, đúng hay sai. Khi từ bi vẫn còn hiện diện, thế thì không thể nào quên được những người đó. Thực tế, đây là khoảnh khắc bạn có cái gì đó để cho, cái gì đó để chia sẻ. Và chia sẻ là niềm vui thế. Bạn đã biết qua từ bi, dần dần, rằng bạn càng chia sẻ nhiều bạn càng có nhiều. Nếu bạn có thể chia sẻ chứng ngộ của mình nữa, chứng ngộ của bạn sẽ có nhiều phong phú hơn, nhiều sống động hơn, nhiều lễ hội hơn, nhiều chiều hơn.

Chứng ngộ có thể là một chiều - đó là điều xảy ra cho nhiều người. Nó thoả mãn họ, và họ biến mất vào trong cội nguồn vũ trụ. Nhưng chứng ngộ có thể đa chiều, nó có thể đem nhiều hoa thế cho thế giới. Và bạn mang nợ thế giới cái gì đó bởi vì bạn là con trai và con gái của trái đất này.

Tôi nhớ tới câu nói của Zarathustra: "Đừng bao giờ phản bội đất. Ngay cả trong vinh quang cao nhất của bạn, đừng quên đất; nó là mẹ bạn. Và đừng quên mọi người. Họ có thể đã là cản trở, họ có thể đã là kẻ thù của bạn. Họ có thể đã cố gắng theo đủ mọi cách để phá huỷ bạn; họ có thể đã đóng đinh bạn, ném đá bạn cho tới chết, hay đầu độc bạn - nhưng đừng quên họ. Bất kì điều gì họ đã làm, họ đã làm trong trạng thái vô ý thức. Nếu bạn không thể tha thứ được cho họ, ai sẽ tha thứ cho họ? Và việc tha thứ họ sẽ làm giầu có vô cùng cho bạn."

Quan sát rằng bạn không ủng hộ bất kì cái gì đi ngược lại từ bi. Ghen tị, cạnh tranh, và nỗ lực chi phối - tất cả những cái đó đi ngược lại từ bi. Và bạn sẽ biết ngay lập tức bởi vì từ bi của bạn sẽ bắt đầu do dự. Khoảnh khắc bạn cảm thấy từ bi của mình lung lay, bạn phải làm cái gì đó đi ngược lại nó. Bạn có thể đầu độc từ bi của mình bằng những điều ngu xuẩn, điều chẳng cho bạn cái gì ngoại trừ lo âu, phiền não, tranh đấu, và việc phí hoài cực kì cuộc sống vô cùng quí giá.

Một câu chuyện hay cho bạn:

Paddy về nhà sớm hơn một giờ so với thường lệ và thấy vợ mình hoàn toàn trần truồng nằm trên giường. Khi anh ta hỏi tại sao, cô ấy giải thích, "Em đang phản đối bởi vì em không có quần áo đẹp để mặc."

Paddy mở tủ ra. "Điều đó thật nực cười," anh ta nói, "Nhìn vào đây này. Có bộ quần áo vàng, bộ đỏ, bộ có chữ, bộ quần... Chào Bill" Và anh ta tiếp tục, "Bộ xanh lá cây..."

Đây là từ bi! Đó là từ bi với vợ anh ta, đó là từ bi với Bill. Không ghen tuông, không đánh nhau, chỉ đơn giản, "Chào Bill! Anh khoẻ chứ?" và anh ta tiếp tục. Anh ta thậm chí chẳng bao giờ truy vấn, "Anh làm gì trong tủ quần áo thế?"

Từ bi là rất hiểu biết. Nó là hiểu biết tinh tế nhất có thể có cho con người.

Con người của từ bi không bị rối loạn bởi những điều nhỏ bé trong cuộc sống, điều đang xảy ra mọi khoảnh khắc. Chỉ thế thì, theo một cách gián tiếp, bạn đang giúp cho năng lượng từ bi của mình tích luỹ lại, kết tinh lại, trở nên mạnh hơn, và cứ vươn lên cùng với thiền của bạn. Cho nên cái ngày khoảnh khắc phúc lạc tới, khi bạn đầy ánh sáng, sẽ có ít nhất một bạn đồng hành - từ bi. Và ngay lập tức một phong cách sống mới... bởi vì bây giờ bạn có nhiều tới mức bạn có thể ban phúc lành cho toàn thế giới.

Mặc dầu Phật Gautam thường xuyên khăng khăng, chung cuộc ông ấy cũng phải làm việc phân chia, phân loại trong các đệ tử của ông ấy. Một loại ông ấy gọi là a la hán; họ là những người chứng ngộ, nhưng không có từ bi. Họ đã đặt toàn thể năng lượng của mình vào thiền, nhưng họ đã không nghe điều Phật đã nói về từ bi. Và loại kia ông ấy gọi là bồ tát; họ đã nghe thông điệp của ông ấy về từ bi. Họ đã chứng ngộ cùng từ bi, cho nên họ không vội vã đi sang bờ bên kia; họ muốn nấn ná trên bờ bên này, với đủ mọi loại khó khăn, để giúp đỡ mọi người. Con thuyền của họ đã tới nơi, và có lẽ thuyền trưởng đang nói. "Đừng phí thời gian, tiếng gọi đã tới từ bờ bên kia, điều ông đã tìm kiếm cả đời mình." Nhưng họ thuyết phục thuyền trưởng đợi thêm một chút, để cho họ có thể chia sẻ niềm vui của họ, trí huệ của họ, ánh sáng của họ, tình yêu của họ với tất cả những người cũng đang tìm kiếm cùng điều đó. Điều này sẽ trở thành cảm giác tin cậy vào họ: "Vâng, có bờ bên kia, và khi người ta chín chắn, một con thuyền tới để đưa bạn sang bờ bên kia. Có bờ của bất tử, có bờ mà khổ không tồn tại, nơi cuộc sống đơn giản là bài ca và điệu vũ từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Nhưng ít nhất để tôi cho những người này chút ít hương vị trước khi tôi rời bỏ thế giới này."

Và các thầy đã cố gắng theo đủ mọi cách có thể để bám lấy cái gì đó để cho họ không bị quét sang bờ bên kia. Theo Phật, từ bi là điều tốt nhất, bởi vì từ bi cũng là ham muốn, trong phân tích chung cuộc. Ý tưởng giúp đỡ ai đó cũng là ham muốn, và chừng nào bạn vẫn còn giữ ham muốn, bạn không thể bị đưa sang bờ bên kia được. Nó là sợi chỉ rất mảnh giữ bạn được gắn với thế giới. Mọi thứ đều đã vỡ rời, tất cả xiềng xích đều đã vỡ rời - ngoại trừ sợi chỉ mảnh mai của tình yêu. Nhưng nhấn mạnh của Phật là, giữ lấy sợi chỉ mảnh mai đó lâu nhất có thể được; khi nhiều người có thể được giúp đỡ, để giúp họ.

Chứng ngộ của bạn không nên có động cơ ích kỉ, nó không nên chỉ là của bạn; bạn nên làm nó được chia sẻ rộng rãi, cho nhiều người nhất có thể được. Đó là cách duy nhất để nâng tâm thức trên trái đất lên - cái đã cho bạn cuộc sống, cái đã cho bạn cơ hội trở nên chứng ngộ.

Đây là khoảnh khắc để đáp lại cái gì đó, mặc dầu bạn không thể đáp lại được mọi thứ mà cuộc sống đã cho bạn. Nhưng đáp lại cái gì đó - chỉ hai bông hoa - với lòng biết ơn.


Thiền - hoa và từ bi - hương thơm

Thiền là hoa và từ bi là hương thơm của nó.

Đích xác như thế điều đó xảy ra đấy. Hoa nở và hương thơm lan toả theo gió đi đủ mọi hướng, được mang tới chính tận cùng của trái đất. Nhưng điều căn bản là việc nở của hoa.

Con người cũng mang tiềm năng của việc nở hoa bên trong mình. Chừng nào và trừ phi bản thể bên trong của con người còn chưa nở hoa, hương thơm của từ bi là không thể có được. Từ bi không thể được thực hành. Nó không phải là kỉ luật. Bạn không thể điều khiển được nó. Nó ở bên ngoài bạn. Nếu bạn thiền, một ngày nào đó, bỗng nhiên, bạn trở nên nhận biết về một hiện tượng mới, tuyệt đối kì lạ - từ bản thể bạn, từ bi tuôn chảy tới toàn thể sự tồn tại. Không định hướng, không địa chỉ, nó đi tới chính tận cùng của sự tồn tại.

Không có thiền, năng lượng vẫn còn là đam mê; có thiền, cùng năng lượng đó trở thành từ bi. Đam mê và từ bi không phải là hai năng lượng, chúng là một và cùng một năng lượng. Một khi nó đi qua thiền, nó được biến đổi, được tôn lên; nó trở thành khác về chất. Đam mê đi xuống, từ bi đi lên; đam mê đi qua ham muốn, từ bi đi qua vô ham muốn; đam mê là bận bịu để quên đi nỗi khổ bạn đang sống qua, từ bi là lễ hội, nó là điệu vũ của việc đạt tới, của sự hoàn thành... bạn được hoàn thành tới mức bạn có thể chia sẻ. Bây giờ không cái gì còn lại; bạn đã đạt tới định mệnh mà bạn đã mang hàng nghìn năm bên trong mình như tiềm năng còn chưa nở hoa, chỉ là nụ. Bây giờ nó đã nở hoa và nó đang nhảy múa. Bạn đã đạt tới, bạn đã được hoàn thành, không còn gì hơn để đạt tới, không đâu mà đi, không cái gì để làm.

Bây giờ điều gì sẽ xảy ra cho năng lượng này? Bạn bắt đầu chia sẻ. Cùng năng lượng đã đi qua các tầng tăm tối của đam mê bây giờ đi lên cùng tia sáng, không bị ô nhiễm bởi bất kì ham muốn nào, không bị ô nhiễm bởi bất kì ước định nào. Nó không bị biến chất bởi bất kì động cơ nào - do đó tôi gọi nó là hương thơm. Hoa bị giới hạn nhưng hương thơm không bị giới hạn. Hoa có những giới hạn nó bị bắt rễ vào đâu đó trong tù túng. Nhưng hương thơm không bị tù túng. Nó đơn giản đi, cưỡi lên gió; nó không cắm neo vào đất.

Thiền là hoa. Nó có rễ. Nó tồn tại trong bạn. Một khi từ bi xảy ra, nó không bị bắt rễ; nó đơn giản ra đi và cứ đi mãi. Phật đã biến mất nhưng từ bi của ông ấy không mất. Hoa chẳng chóng thì chầy sẽ tàn - nó là một phần của đất và cát bụi sẽ trở về với cát bụi - nhưng hương thơm đã toát ra sẽ còn mãi mãi. Phật đã qua rồi, Jesus đã qua rồi, nhưng hương thơm của họ không mất. Từ bi của họ vẫn tiếp tục và bất kì ai cởi mở với từ bi của họ đều lập tức cảm thấy tác động của nó, sẽ bị xúc động bởi nó, sẽ lấy cuộc hành trình mới, cuộc hành hương mới.

Từ bi không bị giới hạn vào hoa - nó tới từ hoa nhưng nó không phải là của hoa. Nó tới qua hoa, hoa chỉ là bước chuyển. Nhưng nó tới thực sự từ cõi bên kia. Nó không thể tới mà không có hoa được - hoa là giai đoạn cần thiết - nhưng nó không thuộc vào hoa. Một khi hoa đã nở ra, từ bi được thoát ra.

Sự khăng khăng này, sự nhấn mạnh này, phải được hiểu sâu sắc, bởi vì nếu bạn bỏ lỡ vấn đề bạn có thể bắt đầu thực hành từ bi nhưng thế thì nó không phải là hương thơm thực. Từ bi được thực hành chỉ là cùng đam mê đó nhưng với cái tên mới. Nó là cùng năng lượng bị ô uế bởi ham muốn, bị biến chất bởi động cơ và nó có thể trở thành rất nguy hiểm cho người khác - bởi vì nhân danh từ bi bạn có thể phá huỷ, nhân danh từ bi bạn có thể tạo ra tù túng. Nó không phải là từ bi, và nếu bạn thực hành nó bạn là giả tạo, hình thức - thực tế là kẻ đạo đức giả.

Điều đầu tiên cần được ghi nhớ là ở chỗ từ bi không thể được thực hành. Nó là điểm mà tất cả các tín đồ của tất cả các thầy giáo tôn giáo vĩ đại đã bỏ lỡ. Phật đã đạt tới từ bi qua thiền - bây giờ các Phật tử cứ thực hành từ bi. Jesus đạt tới từ bi qua thiền - bây giờ người Ki tô giáo, các nhà truyền giáo Ki tô giáo, cứ thực hành tình yêu, từ bi, phục vụ nhân loại, nhưng từ bi của họ đã chứng tỏ là lực rất huỷ diệt trên thế giới. Từ bi của họ đã chỉ tạo ra các cuộc chiến tranh; từ bi của họ đã tiêu diệt hàng triệu người. Họ chấm dứt trong cầm tù sâu sắc.

Từ bi giải phóng bạn, cho bạn tự do, nhưng từ bi đó phải tới chỉ qua thiền, không có cách khác cho nó. Phật đã nói rằng từ bi là sản phẩm phụ, là hậu quả. Bạn không thể bắt giữ hậu quả một cách trực tiếp được, bạn phải di chuyển; bạn phải tạo ra nguyên nhân, và hậu quả theo sau. Cho nên nếu bạn thực sự muốn hiểu từ bi là gì bạn phải hiểu thiền là gì. Quên tất cả về từ bi đi, nó tới theo cách riêng của nó.

Cố hiểu thiền là gì đi. Từ bi có thể trở thành tiêu chuẩn cho việc liệu thiền là đúng hay không. Nếu thiền mà đúng, từ bi nhất định tới - điều đó là tự nhiên; nó theo sau như cái bóng. Nếu thiền mà sai thế thì từ bi sẽ không theo sau. Cho nên từ bi có thể có tác dụng như tiêu chuẩn cho việc liệu thiền có thực sự đúng hay không. Và thiền có thể sai. Mọi người có khái niệm sai rằng mọi thiền đều đúng. Nó không phải vậy. Thiền có thể sai. Chẳng hạn, bất kì thiền nào dẫn bạn vào sâu trong tập trung đều sai - nó sẽ không làm nảy sinh từ bi. Bạn sẽ trở nên ngày một đóng hơn là trở nên mở. Nếu bạn làm hẹp tâm thức của mình lại, tập trung vào cái gì đó, và bạn loại trừ phần còn lại của sự tồn tại và trở thành một điểm, điều đó sẽ tạo ra ngày một nhiều căng thẳng trong bạn. Do đó mới có từ "attention - chú ý". Nó có nghĩa là "at-tension - vào căng thẳng". Tập trung, chính âm của từ này, cho bạn cảm giác về căng thẳng.

Tập trung có cái dụng của nó nhưng nó không phải là thiền. Trong công trình khoa học, trong nghiên cứu khoa học, trong phòng thí nghiệm khoa học, bạn cần tập trung. Bạn phải tập trung vào một vấn đề và loại trừ mọi thứ khác - nhiều tới mức bạn gần như trở thành không chú ý gì tới thế giới còn lại. Thế giới của bạn chỉ là vấn đề bạn đang tập trung vào. Đó là lí do tại sao các nhà khoa học trở thành người đãng trí. Những người tập trung quá nhiều bao giờ cũng trở thành đãng trí bởi vì họ không biết cách vẫn còn mở với toàn thế giới.

Tôi mới đọc một giai thoại:

"Tôi đã đem tới một con ếch," giáo viên động vật học nói, tươi cười với cả lớp, "ếch tươi mới bắt từ ao, để chúng ta có thể nghiên cứu dáng vẻ bên ngoài của nó và sau đó mổ nó."

Ông ấy cẩn thận mở cái gói đem theo ra, và bên trong là một chiếc bánh mì kẹp thịt làm sẵn gọn gàng. Thầy giáo nhìn nó với vẻ sững sờ.

"Kì quái thật!", ông ấy nói, "Tôi nhớ rõ ràng đã ăn trưa rồi mà."

Điều đó cứ xảy ra mãi cho nhà khoa học. Họ trở thành tập trung vào một điểm và toàn thể tâm trí họ trở thành hẹp. Tất nhiên, tâm trí hẹp có cái dụng của nó: Nó trở nên xuyên thấu hơn, nó trở nên giống như chiếc kim nhọn, nó đâm đích xác đúng điểm, nhưng nó bỏ lỡ cuộc sống vĩ đại bao quanh nó.

Vị Phật không phải là con người của tập trung, ông ấy là con người của nhận biết. Ông ấy đã không cố gắng làm hẹp tâm thức của mình; trái lại, ông ấy đã cố gắng vứt bỏ mọi rào chắn để cho ông ấy trở nên hoàn toàn sẵn có cho sự tồn tại. Quan sát... sự tồn tại là đồng thời. Tôi đang nói ở đây và tiếng ồn giao thông cũng xảy ra đồng thời. Tầu hoả, chim chóc, gió thổi qua cây cối - trong khoảnh khắc này cái toàn thể của sự tồn tại qui tụ lại. Bạn nghe tôi, tôi nói với bạn, và cả triệu thứ vẫn tiếp diễn - nó cực kì giầu có.

Tập trung làm cho bạn thành một điểm với giá rất lớn: Chín mươi chín phần trăm cuộc sống bị gạt ra. Nếu bạn đang giải bài toán toán học, bạn không thể nghe được chim chóc - chúng sẽ là sự phân tán. Trẻ con chơi quanh, chó sủa trên phố - chúng sẽ là sự phân tán. Vì tập trung, mọi người đã cố gắng thoát khỏi cuộc sống - đi lên Himalaya, đi vào hang động, vẫn còn sống cô lập để cho họ có thể tập trung vào Thượng đế. Nhưng Thượng đế lại không phải là vật. Thượng đế là tính toàn thể này của sự tồn tại, là khoảnh khắc này; Thượng đế là tính toàn bộ. Đó là lí do tại sao khoa học sẽ không bao giờ có khả năng biết được tính thượng đế. Chính phương pháp của khoa học là tập trung và bởi vì phương pháp đó, khoa học không bao giờ có thể biết tới điều thiêng liêng.

Nó có thể biết ngày càng nhiều các chi tiết tỉ mỉ. Đầu tiên phân tử được coi là hạt nhỏ nhất, thế rồi nó bị phân chia ra. Thế rồi một phần thậm chí còn tí hon hơn, nguyên tử, được biết tới. Thế rồi các phương pháp tập trung này đã phân chia cũng cái đó. Bây giờ có các điện tử, proton, nơ tron - chẳng chóng thì chầy chúng cũng sẽ được phân chia. Khoa học cứ đi từ cái nhỏ hơn này tới cái nhỏ hơn khác, còn cái lớn hơn, cái bao la, hoàn toàn bị quên mất. Cái toàn thể hoàn toàn bị quên lãng để chỉ biết cái bộ phận. Khoa học không bao giờ có thể biết tới tính thượng đế bởi vì việc tập trung. Cho nên khi mọi người tới tôi và họ nói, "Osho ơi, dạy chúng tôi cách tập trung đi, chúng tôi muốn biết điều thiêng liêng," tôi đơn giản phân vân. Họ đã không hiểu điều căn bản của việc tìm kiếm.

Khoa học mang tính một điểm; việc tìm kiếm mang tích mục đích. Tính tôn giáo là tính đồng thời; đối tượng là cái toàn thể, cái toàn bộ. Để biết cái toàn bộ, bạn sẽ phải có tâm thức cởi mở về mọi phía - không bị giới hạn, không đứng trong cửa sổ; bằng không khung cửa sổ sẽ trở thành khung của sự tồn tại. Chỉ đứng dưới mặt trời trong bầu trời mở - đó là điều thiền là gì. Thiền không có khung; nó không phải là cửa sổ, nó không phải là cửa ra vào. Thiền không phải là tập trung, nó không phải là chú ý - thiền là nhận biết.

Vậy phải làm gì? Nhẩm mật chú, thực hiện thiền siêu việt, sẽ chẳng ích gì. Thiền siêu việt đã trở thành rất quan trọng ở Mĩ bởi vì cách tiếp cận hướng đích, bởi vì tâm trí khoa học. Và nó đã là cách thiền duy nhất trên đó nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện. Nó là tập trung và không phải là thiền, cho nên nó là hiểu được cho tâm trí khoa học. Trong các đại học, trong các phòng thí nghiệm, trong công trình nghiên cứu tâm lí, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trên TM bởi vì nó không phải là thiền. Nó là tập trung, phương pháp tập trung; nó rơi vào cùng loại như tập trung khoa học; có mối nối giữa hai điều này. Nhưng nó chẳng liên quan gì tới thiền cả. Thiền là bao la, vô hạn vô cùng, tới mức không nghiên cứu khoa học nào là có thể được. Chỉ từ bi mới biểu lộ liệu người này đã đạt tới nó hay chưa. Sóng alpha sẽ chẳng ích gì mấy, bởi vì chúng vẫn là của tâm trí còn thiền không phải là của tâm trí - nó là cái gì đó ở bên ngoài.

Cho nên để tôi nói cho bạn vài điều cơ bản. Một, thiền không phải là tập trung mà là thảnh thơi - người ta đơn giản thảnh thơi trong bản thân mình. Bạn càng thảnh thơi, bạn càng cảm thấy bản thân mình cởi mở, mong manh. Bạn ít cứng nhắc, bạn linh động hơn - và bỗng nhiên sự tồn tại bắt đầu thấm vào bạn. Bạn không còn giống như tảng đá, bạn có khe hở. Thảnh thơi nghĩa là cho phép bản thân bạn rơi vào trong trạng thái bạn không làm gì cả, bởi vì nếu bạn làm cái gì đó, căng thẳng sẽ tiếp tục. Nó là trạng thái không làm. Bạn đơn giản thảnh thơi và bạn tận hưởng cảm giác của việc thảnh thơi. Thảnh thơi trong bản thân bạn, chỉ nhắm mắt lại và lắng nghe tất cả những điều đang xảy ra khắp xung quanh. Không cần cảm thấy cái gì như sự sao lãng. Khoảnh khắc bạn cảm thấy nó là sự sao lãng, bạn đang phủ nhận điều thiêng liêng đấy. Khoảnh khắc này nó tới với bạn như con chim. Đừng đuổi nó đi! Điều thiêng liêng đã gõ cửa nhà bạn như con chim. Khoảnh khắc tiếp nó tới như con chó sủa, hay như đứa trẻ kêu khóc, hay như người điên cười. Đừng phủ nhận nó; đừng bác bỏ nó.

Chấp nhận - bởi vì nếu bạn phủ nhận bất kì cái gì bạn sẽ trở nên căng thẳng. Mọi phủ nhận đều tạo ra căng thẳng. Chấp nhận. Nếu bạn muốn thảnh thơi, chấp nhận là cách thức. Chấp nhận bất kì cái gì đang xảy ra khắp xung quanh; để nó trở thành một toàn thể hữu cơ. Nó đấy - bạn có thể biết nó hay bạn có thể không biết nó, nhưng mọi thứ đều có liên quan lẫn nhau. Những con chim này, những cây này, bầu trời này, mặt trời này, trái đất này, bạn, tôi - tất cả đều có liên quan. Nó là một đơn vị hữu cơ. Nếu mặt trời biến mất, cây sẽ biến mất; nếu cây biến mất, chim sẽ biến mất, nếu chim và cây biến mất, bạn không thể ở đây được, bạn sẽ biến mất. Nó là một sinh thái. Mọi thứ đều có liên quan sâu sắc với mọi thứ khác. Cho nên đừng phủ nhận cái gì, bởi vì khoảnh khắc bạn phủ nhận, bạn đang phủ nhận cái gì đó trong bạn. Nếu bạn phủ nhận những con chim đang hót này thế thì cái gì đó trong bạn bị phủ nhận đấy.

Nếu bạn phủ nhận, bác bỏ, nếu bạn cảm thấy bị phân tán, nếu bạn cảm thấy giận, bạn đang bác bỏ cái gì đó bên trong bạn. Lắng nghe lại tiếng chim này mà không cảm thấy phân tán, giận dữ, và bỗng nhiên bạn sẽ thấy rằng con chim bên trong bạn đáp ứng. Thế thì những con chim kia không có đó như kẻ lạ, kẻ xâm nhập - bỗng nhiên toàn thể sự tồn tại trở thành gia đình. Nó hiện hữu, và tôi gọi một người là tôn giáo nếu người đó đã đi tới hiểu ra rằng toàn thể sự tồn tại là gia đình. Người đó có thể không đi tới nhà thờ nào, người đó có thể không tôn thờ trong bất kì đền chùa nào, người đó có thể không cầu nguyện tại bất kì giáo đường hay gurudwara nào - điều đó không thành vấn đề, nó không liên quan. Nếu bạn làm, tốt, thế là được; nếu bạn không làm điều đó thậm chí còn tốt hơn. Nhưng người đã hiểu đơn vị hữu cơ này của sự tồn tại thì thường xuyên ở trong đền chùa, thường xuyên đối diện với điều linh thiêng và điều thiêng liêng.

Nhưng nếu bạn đang đọc những câu mật chú ngu xuẩn, bạn sẽ nghĩ chim là ngu xuẩn. Nếu bạn đang lẩm nhẩm cái vô nghĩa gì đó bên trong mình, hay nghĩ điều tầm thường nào đó - bạn có thể gọi nó là triết học, tôn giáo - thế thì chim chóc trở thành sự phân tán. Âm thanh của chúng đơn giản là Thiêng liêng. Chúng không nói gì, chúng đơn giản buột ra cùng vui thích. Tiếng hót của chúng không có nghĩa nào ngoài sự tràn ngập của năng lượng. Chúng muốn chia sẻ với sự tồn tại, với cây cối, với hoa, với bạn. Chúng chẳng có gì để nói; chúng chỉ hiện hữu ở đó, bản thân chúng.

Nếu bạn thảnh thơi, bạn chấp nhận; chấp nhận sự tồn tại là cách duy nhất để thảnh thơi. Nếu những điều nhỏ bé quấy rối bạn, thế thì chính thái độ của bạn mới đang quấy rối bạn đấy. Ngồi im lặng; lắng nghe tất cả mọi điều đang xảy ra khắp xung quanh, và thảnh thơi. Chấp nhận, thảnh thơi - và bỗng nhiên bạn sẽ cảm thấy năng lượng mênh mông đang nảy sinh trong bạn. Năng lượng đó sẽ được cảm thấy trước nhất như việc làm sâu thêm hơi thở của bạn. Bình thường hơi thở của bạn rất nông và thỉnh thoảng nếu bạn cố gắng lấy hơi thở sâu, nếu bạn bắt đầu luyện bài tập yoga qua việc thở của mình, bắt đầu áp đặt cái gì đó, bạn làm nỗ lực. Nỗ lực đó là không cần thiết. Bạn đơn giản chấp nhận cuộc sống, thảnh thơi, và bỗng nhiên bạn sẽ thấy rằng hơi thở của mình đi sâu hơn. Thảnh thơi hơn và hơi thở đi sâu hơn trong bạn. Nó trở thành chậm rãi, nhịp điệu, và bạn gần như có thể tận hưởng nó; nó cho vui thích nào đó. Thế thì bạn sẽ trở nên nhận biết rằng hơi thở là cây cầu giữa bạn và cái toàn thể.

Quan sát. Đừng làm gì cả. Và khi tôi nói quan sát, đừng cố gắng quan sát, bằng không bạn sẽ trở nên căng thẳng và bạn sẽ bắt đầu tập trung vào hơi thở. Đơn giản thảnh thơi, vẫn còn được thảnh thơi, chùng lỏng, và nhìn... bởi vì bạn có thể làm gì khác được? Bạn ở đó, chẳng phải làm gì cả, mọi thứ đều được chấp nhận, không cái gì bị phủ nhận, bị bác bỏ, không vật lộn, không tranh đấu, không xung đột, việc thở đi sâu - bạn có thể làm gì? Bạn đơn giản quan sát. Nhớ lấy, đơn giản quan sát. Đừng làm nỗ lực quan sát. Đây là điều Phật đã gọi là vipassana - quan sát hơi thở, nhận biết về hơi thở. Hay satipattana - nhớ lại, tỉnh táo với sinh lực đang di chuyển trong hơi thở. Đừng cố gắng lấy hơi thở sâu, đừng cố gắng hít vào hay thở ra, đừng làm gì cả. Bạn đơn giản thảnh thơi và để cho việc thở là tự nhiên - đi theo cách của nó, đến theo cách của nó - và nhiều điều sẽ thành sẵn có cho bạn.

Điều thứ nhất sẽ là việc thở có thể được lấy theo hai cách bởi vì nó là cây cầu. Một phần của nó được nối với bạn, phần kia được nối với sự tồn tại. Cho nên nó có thể được hiểu theo hai cách. Bạn có thể lấy nó như điều cố ý. Nếu bạn muốn hít vào sâu, bạn có thể hít vào sâu; nếu bạn muốn thở ra sâu, bạn có thể thở ra sâu. Bạn có thể làm cái gì đó về nó. Một phần được nối với bạn. Nhưng nếu bạn không làm gì cả, thế nữa nó vẫn tiếp tục. Không cần bạn làm gì cả và nó tiếp tục. Nó cũng là việc không cố ý.

Phần kia được nối với bản thân sự tồn tại. Bạn có thể nghĩ về nó dường như bạn đang lấy nó vào, bạn đang thở nó, hay bạn có thể nghĩ theo cách đối lập - rằng nó đang thở bạn. Và cách kia phải được hiểu bởi vì điều đó sẽ đưa bạn vào trong thảnh thơi sâu sắc. Không phải là bạn đang thở, mà sự tồn tại đang thở bạn. Đó là việc thay đổi động thái, và nó xảy ra theo cách riêng của nó. Nếu bạn cứ thảnh thơi, chấp nhận mọi thứ, thảnh thơi trong bản thân mình, dần dần, bỗng nhiên bạn trở nên nhận biết rằng bạn không lấy những hơi thở này - chúng tới và đi theo cách riêng của chúng. Và duyên dáng thế. Với sự chân thực thế. Với nhịp điệu thế. Với nhịp điệu hài hoà thế. Ai đang làm nó? Sự tồn tại đang thở bạn. Nó đi vào trong bạn, đi ra khỏi bạn. Từng khoảnh khắc nó là sảng khoái bạn, từng khoảnh khắc nó làm cho bạn sống động lặp đi lặp lại mãi.

Bỗng nhiên bạn thấy việc thở như việc xảy ra... và đây là cách thiền phải phát triển tới. Và điều này bạn có thể làm ở bất kì đâu; cả trong bãi chợ, bởi vì tiếng ồn đó cũng thiêng liêng. Và nếu bạn lắng nghe một cách im lặng, ngay cả ở bãi chợ bạn sẽ thấy sự hài hoà nào đó trong tiếng ồn. Nó không còn là phân tán nữa. Bạn có thể thấy nhiều điều nếu bạn im lặng - những con sóng năng lượng vô cùng di chuyển khắp xung quanh. Một khi bạn chấp nhận, bất kì chỗ nào bạn tới bạn cũng đều sẽ cảm thấy nó.

Con chim không quan trọng nhưng bạn sẽ cảm thấy cái gì đó cực kì lớn lao, bạn sẽ cảm thấy cái gì đó linh thiêng, cái gì đó chói sáng, cái gì đó huyền bí. Phép màu thường xuyên xảy ra khắp xung quanh bạn nhưng bạn cứ bỏ lỡ nó.

Một khi thiền lắng đọng trong bạn và bạn rơi vào trong nhịp điệu cùng sự tồn tại, từ bi là hậu quả. Bỗng nhiên bạn cảm thấy mình đang trong tình yêu với cái toàn thể và người khác không còn là người khác nữa - bạn cũng sống trong người khác. Và cây không còn chỉ là "cây kia", bằng cách nào đó nó có liên quan với bạn. Mọi thứ đều trở thành liên quan với nhau. Bạn chạm vào nhành cỏ và bạn đã chạm vào tất cả các vì sao bởi vì mọi thứ đều có quan hệ. Nó không thể khác được. Sự tồn tại là hữu cơ. Nó là một. Nó là một đơn vị.

Bởi vì chúng ta không nhận biết chúng ta không thấy điều chúng ta cứ làm cho bản thân mình. Một điều xảy ra và cái gì đó mà bạn chưa bao giờ nghĩ rằng nó có liên quan lại bắt đầu xảy ra.

Mới đêm hôm nọ tôi đã đọc cái gì đó về ngửi. Cảm giác này, khả năng ngửi này, đã gần như biến mất khỏi nhân loại. Con vật rất sắc bén về ngửi. Ngựa có thể ngửi được mùi từ xa nhiều dặm đường. Chó có thể ngửi giỏi hơn con người. Chỉ bằng việc ngửi chó biết rằng chủ nó đang tới, và sau nhiều năm chó sẽ lại nhận ra mùi của chủ nó. Con người đã hoàn toàn quên mất ngửi.

Điều gì đã xảy ra cho khứu giác của mọi người? Thảm hoạ nào đã xảy ra cho nó? Dường như không có lí do tại sao khứu giác đã bị áp chế đến thế. Không nền văn hoá nào ở bất kì đâu đã áp chế nó một cách có ý thức, nhưng nó đã trở nên bị áp chế. Nó đã trở nên bị áp chế bởi vì dục. Bây giờ, toàn thể nhân loại sống với dục bị áp chế sâu sắc - và ngửi được nối với dục. Trước khi làm tình, chó sẽ ngửi bạn tình của nó và chừng nào nó còn chưa ngửi thấy sự hài hoà sâu bên dưới giữa hai thân thể, nó sẽ không làm tình. Một khi mùi khớp nhau thế thì nó biết rằng bây giờ các thân thể là hài hoà và chúng có thể khớp nhau và chúng có thể trở thành bài ca - cho dù chỉ một khoảnh khắc, sự thống nhất là có thể.

Bởi vì dục đã bị áp chế trên khắp thế giới, khứu giác đã trở nên bị áp chế. Chính từ này đã trở nên mang tính kết án chút ít. Nếu tôi nói với bạn, "Bạn có nghe không?" hay "Bạn có thấy không?" bạn không cảm thấy bị xúc phạm. Cho nên nếu tôi nói, "Bạn có ngửi mùi không?" người ta cũng không nên thấy bị xúc phạm, nó là cùng ngôn ngữ. Ngửi là một năng lực; cũng giống như nhìn và nghe, ngửi là một năng lực. Khi tôi hỏi, "Bạn có ngửi mùi không?" người ta cảm thấy bị xúc phạm bởi vì người ta đã hoàn toàn quên mất rằng đó là một năng lực chứ không phải là lời kết án.

Có giai thoại nổi tiếng về nhà tư tưởng người Anh, Ts. Johnson. Ông ấy đang ngồi trong xe ngựa tuyến và một bà bước vào. Bà ấy nói với Ts. Johnson, "Thưa ông, ông ngửi mùi!"

Nhưng ông ấy là con người của ngôn ngữ, văn chương, văn phạm. Ông ấy nói, "Không, thưa bà. Bà ngửi. Tôi bốc mùi!"

Ngửi là một năng lực. "Bà ngửi. Tôi bốc mùi." Về mặt ngôn ngữ ông ấy là đúng. Đó là cách nó phải vậy nếu bạn tuân theo văn phạm. Nhưng chính từ này đã trở nên bị kết án. Điều gì đã xảy ra cho ngửi? Một khi bạn áp chế dục, khứu giác bị áp chế. Một giác quan hoàn toàn bị tê liệt - và nếu bạn làm tê liệt một giác quan thì một phần của tâm trí cũng bị tê liệt. Nếu bạn có năm giác quan, thế thì não bạn có năm phần tương ứng. Một phần năm bộ não bị tê liệt và người ta chẳng bao giờ biết điều đó. Điều đó nghĩa là một phần năm cuộc sống bị tê liệt. Hậu quả là lớn vô cùng. Nếu bạn chạm vào một vật nhỏ ở đâu đó nó dội lại khắp nơi.

Bởi việc kìm nén dục, ngửi đã bị kìm nén, và bởi việc kìm nén dục việc thở của bạn đã trở thành nông - bởi vì nếu bạn thở sâu, việc thở của bạn cọ sát vào trung tâm dục bên trong. Mọi người tới tôi và nói, "Nếu chúng tôi thở thực sự, chúng tôi cảm thấy nhiều dục hơn." Nếu bạn làm tình với bạn tình, việc thở của bạn sẽ trở nên rất sâu. Nếu bạn giữ việc thở nông, bạn sẽ không có khả năng đạt tới cực thích. Việc thở đập mạnh, sâu bên dưới trong trung tâm dục; từ bên trong nó cọ sát vào trung tâm dục. Bởi vì dục đã từng bị kìm nén, và bởi vì thở bị kìm nén, mọi người đã trở nên không có khả năng thiền. Bây giờ nhìn vào toàn thể vấn đề - chúng ta đã làm điều vô nghĩa làm sao! Kìm nén dục, chúng ta đã kìm nén việc thở - và việc thở là cây cầu duy nhất giữa bạn và cái toàn thể.

Gurdjieff là đúng khi ông ấy nói rằng hầu hết các tôn giáo đã cư xử theo cách họ dường như chống lại Thượng đế. Họ nói về Thượng đế nhưng họ dường như về căn bản chống lại tính thượng đế. Cách thức họ đã cư xử là chống lại nó. Bởi vì việc thở bị kìm nén, cây cầu bị phá vỡ. Bạn chỉ có thể thở nông - bạn chưa bao giờ đi sâu, và nếu bạn không thể đi sâu vào trong bản thân mình, bạn không thể đi sâu vào trong sự tồn tại được.

Phật làm cho việc thở thành rất nền tảng. Việc thở sâu, thảnh thơi, nhận biết về nó, cho bạn im lặng mênh mông thế, sự thảnh thơi, dần dần bạn đơn giản hội nhập, tan chảy, biến mất. Bạn không còn là hòn đảo tách rời, bạn bắt đầu rung động cùng cái toàn thể. Thế thì bạn không là một nốt nhạc tách rời mà là một phần của toàn thể bản giao hưởng này. Thế thì từ bi nảy sinh.

Từ bi nảy sinh chỉ khi bạn có thể thấy rằng mọi người đều có quan hệ với bạn. Từ bi nảy sinh chỉ khi bạn thấy rằng mình là thành viên của mọi người và mọi người là thành viên của mình. Không ai tách rời cả. Khi ảo tưởng về tách rời rơi rụng đi, từ bi nảy sinh. Từ bi không phải là kỉ luật.

Trong kinh nghiệm con người, mối quan hệ giữa mẹ và con là gần với từ bi nhất. Mọi người gọi nó là tình yêu nhưng nó không nên được gọi là tình yêu. Nó giống từ bi hơn tình yêu, bởi vì nó không có đam mê trong nó. Tình yêu của mẹ với con là gần từ bi nhất. Tại sao? Bởi vì người mẹ đã biết đứa con trong bản thân mình; đứa con là thành viên của con người cô ấy. Cô ấy đã biết đứa con như một phần của bản thân mình và cho dù đứa con được sinh ra và lớn lên, người mẹ vẫn cứ cảm thấy sự nhịp nhàng tinh tế với đứa con. Nếu đứa con bị ốm, từ xa nghìn dặm người mẹ lập tức cảm thấy điều đó. Cô ấy có thể không nhận biết về điều đã xảy ra nhưng cô ấy sẽ trở nên buồn phiền; cô ấy có thể không nhận biết rằng con mình đang khổ nhưng cô ấy sẽ bắt đầu khổ. Cô ấy sẽ tạo ra cách hợp lí hoá nào đó về tại sao cô ấy khổ - dạ dầy không ổn, cô ấy bị đau đầu, hay cái gì đó này khác - nhưng bây giờ, tâm lí học chiều sâu nói rằng người mẹ và đứa con bao giờ cũng được gắn với nhau bằng sóng năng lượng tinh tế, bởi vì họ cứ rung động theo cùng chiều dài sóng.

Viễn cảm là dễ dàng giữa mẹ và con hơn là giữa bất kì nhóm người nào khác. Cùng điều đó cũng là trường hợp cho anh chị em sinh đôi - giữa những người sinh đôi, viễn cảm là rất dễ dàng. Nhiều thực nghiệm về viễn cảm đã được thực hiện ở nước Nga xô viết - tất nhiên không phải là thám hiểm tôn giáo mà bởi vì họ đã cố gắng tìm ra liệu viễn cảm có thể được dùng như một kĩ thuật trong chiến tranh hay không. Họ thấy rằng anh chị em sinh đôi rất có tính viễn cảm. Nếu một trong các anh chị em sinh đôi bị cảm, từ cách xa cả nghìn dặm người kia cũng bị cảm. Họ rung động trên cùng chiều dài sóng, họ bị ảnh hưởng bởi cùng điều. Đó là vì họ cả hai đã sống trong cùng bụng mẹ như một phần của nhau; họ đã tồn tại trong bụng mẹ cùng nhau.

Cảm giác của người mẹ với đứa con giống như từ bi bởi vì cô ấy cảm thấy đứa con là của riêng mình.

Tôi đã đọc một giai thoại:

Trong cuộc thanh tra sơ bộ trại Hướng đạo sinh, viên giám đốc thấy một chiếc ô lớn giấu trong túi ngủ của một anh chàng hướng đạo sinh tí hon, hiển nhiên không phải là một trong các mục trang thiết bị đã được liệt kê. Viên giám đốc yêu cầu chú bé giải thích. Hướng đạo viên mới giải thích gọn gàng bằng việc hỏi, "Thưa ngài, ngài đã bao giờ có mẹ chưa?"

Mẹ nghĩa là từ bi, mẹ nghĩa là cảm thấy người khác như người ta cảm thấy bản thân mình. Khi một người đi sâu vào trong thiền và trở nên chứng ngộ, người đó trở thành người mẹ. Phật giống người mẹ hơn là người bố. Liên kết Ki tô giáo với từ "cha" không có nghĩa, không hay mấy. Gọi điều thiêng liêng là "cha" có vẻ có chút ít hướng tới đàn ông. Nếu có Thượng đế thì đó chỉ có thể là người mẹ, không phải người cha. "Cha" mang tính thể chế. Cha là một thể chế. Trong tự nhiên, cha không tồn tại đến thế. Nếu bạn hỏi nhà ngôn ngữ ông ấy sẽ nói rằng từ "bác" là cổ hơn từ "cha". Bác tới sự tồn tại đầu tiên bởi vì không ai biết ai là cha cả. Một khi tài sản riêng được ấn định, một khi hôn nhân trở thành một dạng của sở hữu tư, thể chế về người cha đi vào cuộc sống con người. Nó rất ẻo lả, nó có thể biến mất bất kì ngày nào. Nếu xã hội thay đổi, thể chế này có thể biến mất như nhiều thể chế khác đã từng biến mất. Nhưng người mẹ sẽ vẫn còn. Người mẹ là tự nhiên.

Ở phương Đông, nhiều người, nhiều tín ngưỡng, đã gọi Thượng đế là mẹ. Cách tiếp cận của họ dường như có liên quan nhiều hơn. Quan sát Phật - khuôn mặt ông ấy dường như giống khuôn mặt đàn bà hơn khuôn mặt đàn ông. Thực tế, bởi vì điều đó chúng ta đã không vẽ ông ấy có râu mép hay râu cằm. Mahavira, Phật, Krishna, Ram - bạn chưa bao giờ thấy râu mép hay râu cằm trên khuôn mặt họ. Không phải là họ thiếu hoóc môn nào đó - họ phải có râu chứ - nhưng chúng ta đã không vẽ họ có râu bởi vì điều đó sẽ cho khuôn mặt họ mang dáng vẻ đàn ông nhiều hơn.

Ở phương Đông chúng ta không bận tâm nhiều về sự kiện nhưng chúng ta bận tâm nhiều về mối liên quan, ý nghĩa. Tất nhiên, tượng của Phật mà bạn đã thấy tất cả đều là giả, nhưng ở phương Đông chúng ta không lo nghĩ về điều đó. Ý nghĩa là ở chỗ Phật đã trở nên mang tính đàn bà nhiều hơn, nữ tính nhiều hơn. Đó là dịch chuyển từ bán cầu não trái sang bán cầu não phải, từ nam tính sang nữ tính, dịch chuyển từ năng nổ sang thụ động, dịch chuyển từ dương sang âm, dịch chuyển từ nỗ lực sang vô nỗ lực. Phật mang nữ tính nhiều hơn, mang tính người mẹ nhiều hơn. Nếu bạn thực sự trở thành thiền nhân, dần dần bạn sẽ thấy nhiều thay đổi trong con người mình và bạn sẽ cảm thấy giống đàn bà hơn là đàn ông - duyên dáng hơn, tiếp nhận hơn, không bạo hành, đằm thắm. Và từ bi sẽ nảy sinh liên tục từ bản thể bạn; nó sẽ là hương thơm tự nhiên.

Thông thường điều bạn gọi là từ bi cứ che giấu đam mê của bạn trong nó. Cho dù đôi khi bạn cảm thấy thông cảm với mọi người, quan sát, mổ xẻ điều đó, đi sâu hơn vào trong cảm giác của mình và ở đâu đó bạn sẽ thấy động cơ nào đó. Trong hành động điều đó có vẻ rất từ bi, sâu bên dưới bạn bao giờ cũng sẽ thấy động cơ nào đó.

Tôi đã nghe:

Louie về nhà. Anh ta choáng váng thấy vợ mình đang trong vòng tay của người đàn ông khác. Anh ta chạy xô ra khỏi phòng khóc, "Tôi đi kiếm súng săn đây."

Vợ anh ta nhảy bổ theo anh ta trên mình không mảnh vải, túm lấy anh ta và kêu lên, "Anh ngu lắm, anh kích động về điều gì vậy? Đó là người yêu của em, người đã trả tiền cho những đồ đạc mới mà chúng ta vừa có đó thôi, quần áo mới của em. Tiền phụ thêm mà anh nghĩ em đã kiếm được bằng may vá, chút ít xa hoa mà chúng ta đã có khả năng mua - chúng tất cả đều tới từ anh ấy đấy!"

Nhưng Louie vùng ra khỏi cô ấy và tiếp tục lên cầu thang.

"Đừng dùng súng săn, anh Louie!" vợ anh ta kêu la.

"Súng săn nào?" Louie nói lại. "Anh đi kiếm cái chăn. Anh chàng đáng thương kia sẽ bị cảm lạnh, nằm đó trần truồng như thế."

Ngay cả bạn cảm thấy - hay bạn nghĩ bạn cảm thấy, hay bạn giả vờ rằng bạn cảm thấy - từ bi, đi sâu và phân tích nó và bạn bao giờ cũng thấy động cơ khác nào đó trong nó. Nó không thể là từ bi thuần khiết được. Và nếu nó không thuần khiết, nó không phải là từ bi. Thuần khiết là chất liệu cơ bản trong từ bi, bằng không nó là cái gì đó khác - nó ít nhiều là hình thức. Chúng ta đã học cách hình thức - cách cư xử với vợ bạn, với chồng bạn, cách cư xử với con bạn, với bạn của bạn, với gia đình bạn. Chúng ta đã học mọi thứ. Từ bi không phải là cái gì đó có thể được học. Khi bạn đã dỡ bỏ tất cả mọi thứ hình thức, mọi thứ xã giao và phong tục tập quán, nó nảy sinh trong bạn. Từ bi là hoang sơ; nó không mang mùi vị của xã giao, của hình thức; chúng tất cả là những thứ chết nếu so với nó. Nó rất sống động, nó là ngọn lửa của tình yêu.

Ở lỗ thứ mười hai trong trận đấu sôi động, bãi đất che khuất đường cái và khi Smith và Jones tiến tới thảm cỏ xanh, họ thấy một đám ma đi thành hàng trên đường.

Vào lúc này, Smith dừng lại, cởi mũ ra, đưa nó lên tim mình, và cúi đầu cho tới khi đám ma biến mất sau chỗ rẽ.

Jones kinh ngạc và sau khi Smith đã đội lại chiếc mũ và trở lại trò chơi, anh ta nói, "Anh thực tinh tế và tôn kính, Smith ạ."

"À, vâng," Smith nói, "Tôi không thể làm ít hơn được. Sau rốt tôi đã cưới người đàn bà đó trong hai mươi năm."

Cuộc sống đã trở thành giả, giả tạo, hình thức, bởi vì bạn phải làm điều gì đó mà bạn làm. Bạn tất nhiên ngần ngại tuân theo bổn phận, nhưng nếu bạn bỏ lỡ nhiều cuộc sống thì điều đó là tự nhiên, bởi vì cuộc sống là có thể chỉ nếu bạn sống động, sống mãnh liệt. Nếu ngọn lửa riêng của bạn đã trở nên bị che phủ bởi hình thức, bổn phận, qui tắc, điều bạn phải hoàn thành một cách miễn cưỡng, bạn chỉ có thể kéo lê. Bạn có thể kéo lê một cách dễ chịu, cuộc sống của bạn có thể là cuộc sống của tiện lợi, nhưng nó không thể là sống động thực sự được.

Cuộc sống sống động thực sự, theo một cách nào đó, là hỗn độn. Theo một cách nào đó, tôi nói thế, bởi vì hỗn độn đó có kỉ luật riêng của nó. Nó không có qui tắc nào bởi vì nó không cần có qui tắc nào cả. Nó có qui tắc căn bản nhất ở sẵn trong nó - nó không cần có bất kì qui tắc bên ngoài nào.

Bây giờ là câu chuyện Thiền.

Một ngày mùa đông, một võ sĩ đạo tới ngôi đền của Eisai và cầu xin: "Tôi nghèo và ốm," ông ấy nói, "và gia đình tôi sắp chết đói. Xin giúp chúng tôi, thưa thầy."

Là người phụ thuộc vì ông ấy sống dựa vào lòng thảo của người nghèo, cuộc sống của Eisai rất khổ hạnh, và ông ấy chẳng có gì để cho cả. Ông ấy vừa định bảo võ sĩ đạo đi thì ông ấy chợt nhớ tới ảnh Phật Yakushi trong phòng. Trèo lên nó ông ấy gỡ vầng hào quang và đưa nó cho võ sĩ đạo. "Bán cái này đi," Eisai nói, "Nó sẽ giúp ông khắc phục khó khăn." Bối rối nhưng tuyệt vọng, võ sĩ đạo nhận vầng hào quang và ra đi.

"Thưa thầy!" một trong các đệ tử của Eisai kêu lên, "đó là báng bổ! Làm sao thầy có thể làm điều như vậy được?"

"Báng bổ sao? Ô hay! Ta đơn thuần đem tâm của Phật, cái tràn đầy tình yêu và lòng nhân từ, ra dùng, nói vậy đấy. Quả thực, nếu bản thân ông ấy mà biết võ sĩ đạo nghèo đó, ông ấy đã chặt một chi cho ông này rồi."

 Một câu chuyện rất đơn giản, nhưng rất có ý nghĩa. Thứ nhất, ngay cả khi bạn không có gì để cho, cứ nhìn lại. Bạn bao giờ cũng thấy cái gì đó để cho. Ngay cả khi bạn không có gì để cho, bạn bao giờ cũng có thể tìm thấy cái gì đó để cho. Đó là vấn đề về thái độ. Nếu bạn không thể cho cái gì, ít nhất bạn cũng có thể mỉm cười; nếu bạn không thể cho cái gì, ít nhất bạn cũng có thể ngồi cùng người này và cầm tay họ. Vấn đề không phải là cho cái gì đó, vấn đề là việc cho.

Eisai này là một sư nghèo như các sư Phật giáo đều nghèo. Cuộc sống của ông ấy rất khổ hạnh và ông ấy chẳng có gì để cho cả. Bình thường, lấy vầng hào quang của tượng Phật và cho nó đi là tuyệt đối báng bổ. Không cái gọi là người tôn giáo nào có thể nghĩ được về điều đó. Chỉ ai đó là người tôn giáo thực sự mới làm điều đó - đó là lí do tại sao tôi nói từ bi không biết tới qui tắc, từ bi ở bên ngoài các qui tắc. Nó là hoang sơ. Nó không tuân theo thủ tục nào.

Thế rồi bỗng nhiên Eisai nhớ tới bức ảnh Phật trong phòng.Ở Nhật Bản, ở Trung Quốc, họ để vầng hào quang bằng vàng quanh đầu Phật, chỉ để chỉ ra hào quang quanh đầu ông ấy. Bỗng nhiên Eisai nhớ tới nó - mọi ngày ông ấy phải đã tôn thờ bức tượng này.

Trèo lên nó ông ấy gỡ vầng hào quang và đưa nó cho võ sĩ đạo. "Bán cái này đi," Eisai nói, "Nó sẽ giúp ông khắc phục khó khăn." Bối rối nhưng tuyệt vọng, võ sĩ đạo nhận vầng hào quang và ra đi.

Ngay cả võ sĩ đạo này cũng lúng túng. Ông ấy đã không mong đợi điều này. Ngay cả ông ấy phải đã nghĩ rằng điều này là báng bổ. Đây là kiểu người gì thế này? Ông ấy là tín đồ của Phật, và ông ấy đã phá huỷ bức tượng! Ngay cả chạm vào bức tượng cũng là báng bổ, mà ông ấy gỡ vầng hào quang ra.

Đây là khác biệt giữa người tôn giáo thực và cái gọi là người tôn giáo. Cái gọi là người tôn giáo bao giờ cũng nhìn vào qui tắc; người đó bao giờ cũng nghĩ về cái gì là đúng và cái gì không đúng. Nhưng người thực sự tôn giáo sống nó. Không có cái gì đúng và không đúng với người đó. Từ bi là đúng vô hạn tới mức bất kì cái gì bạn làm qua từ bi cũng đều trở thành tự động đúng.

"Thưa thầy!" một trong các đệ tử của Eisai kêu lên, "đó là báng bổ! Làm sao thầy có thể làm điều như vậy được?"

Ngay cả đệ tử cũng hiểu rằng điều này là không đúng. Cái gì đó không đúng đã được làm.

"Báng bổ sao? Ô hay! Ta đơn thuần đem tâm của Phật, cái tràn đầy tình yêu và lòng nhân từ, ra dùng, nói vậy đấy. Quả thực, nếu bản thân ông ấy mà biết võ sĩ đạo nghèo đó, ông ấy đã chặt một chi cho ông này rồi."

Hiểu biết là cái gì đó khác hơn chỉ tuân theo. Khi bạn tuân theo, bạn trở thành gần như mù quáng; thế thì có các qui tắc phải được gìn giữ. Nếu bạn hiểu, thế nữa bạn tuân theo nhưng bạn không mù quáng. Từng khoảnh khắc quyết định, từng khoảnh khắc tâm thức bạn đáp ứng, và bất kì cái gì bạn làm cũng đều đúng.

Một trong những câu chuyện hay nhất là về một Thiền sư, trong một đêm mùa đông, đã yêu cầu được phép ở lại trong đền. Ông ấy rét run người bởi vì đêm thì lạnh và tuyết rơi khắp bên ngoài. Tất nhiên, tu sĩ giữ đền đã thông cảm với ông ấy và bảo ông ấy, "Ông có thể ở lại, nhưng chỉ đêm nay thôi, bởi vì đền này không phải là khách sạn. Đến sáng ông sẽ phải đi."

Vào nửa đêm tu sĩ bỗng nhiên nghe thấy tiếng động. Ông ta chạy ra và không thể nào tin nổi vào mắt mình. Sư này đang ngồi quanh ngọn lửa mà ông ấy đã nhóm lên bên trong đền. Và một tượng Phật bị mất. Ở Nhật Bản họ làm Phật gỗ.

Tu sĩ hỏi, "Tượng đâu rồi?"

Bậc thầy chỉ cho ông ta đám lửa và nói, "Trời rất lạnh còn ta rét run."

Tu sĩ nói, "Ông hình như điên! Ông không thấy điều mình đã làm sao? Đó là tượng Phật. Ông đã đốt Phật!"

Bậc thầy nhìn vào đám lửa, đang lụi dần đi, và cời đám lửa bằng chiếc gậy.

Tu sĩ hỏi, "Ông làm gì thế?"

Ông ấy nói, "Ta đang cố tìm xương Phật."

Tu sĩ nói, "Ông chắc chắn điên rồi. Nó là Phật gỗ. Làm gì có xương trong nó."

Thế rồi bậc thầy nói, "Đêm vẫn còn dài và trời thậm chí còn lạnh hơn. Sao không đem nốt hai Phật kia ra?"

Tất nhiên, ông ấy bị tống ra khỏi ngôi đền ngay lập tức. Con người này là nguy hiểm! Khi ông ấy bị tống ra ngoài ông ấy nói, "Các ông làm gì khi tống Phật sống ra ngoài? Chỉ vì giữ Phật gỗ sao? Phật sống đang khổ sở nhiều tới mức ta phải biểu lộ từ bi chứ. Nếu Phật mà sống ông ấy đã làm cùng điều đó rồi. Bản thân ông ấy sẽ cho ta tất cả ba bức tượng kia. Ta biết điều đó! Ta biết từ đáy lòng ta rằng ông ấy sẽ làm cùng điều đó."

Nhưng ai có đó mà nghe ông ấy? Ông ấy bị tống vào trong tuyết và cửa bị đóng lại. Đến sáng, khi tu sĩ này đi ra, ông ta thấy bậc thầy đang ngồi gần cột cây số với vài bông hoa để trên nó, đang tôn thờ nó. Tu sĩ lại tới và nói, "Bây giờ ông làm gì vậy? Tôn thờ cột cây số sao?"

Bậc thầy nói, "Bất kì khi nào đến lúc cầu nguyện, ta đều tạo ra chư Phật của ta ở bất kì đâu, bởi vì họ bao giờ cũng có khắp xung quanh. Cột cây số này cũng tốt như Phật gỗ của ông bên trong."

Đó là vấn đề về thái độ. Khi bạn nhìn bằng con mắt tôn thờ, thế thì bất kì cái gì cũng đều trở thành thiêng liêng.

Và nhớ lấy - câu chuyện về Eisai là dễ hiểu bởi vì từ bi được biểu lộ hướng tới ai đó khác. Câu chuyện này thậm chí còn khó hiểu và phức tạp hơn, bởi vì từ bi được biểu lộ hướng tới bản thân mình. Con người thực của hiểu biết không khắt khe với người khác cũng không khắt khe với bản thân mình, bởi vì nó là một và cùng một năng lượng. Con người thực của hiểu biết không phải là kẻ tự bạo. Người đó không phải là kẻ tàn bạo cũng không tự bạo. Con người thực của hiểu biết đơn giản hiểu rằng không có phân tách - tất cả kể cả bản thân người đó đều thiêng liêng. Và người đó sống từ hiểu biết này.

Sống từ hiểu biết là từ bi. Đừng bao giờ cố gắng thực hành nó; đơn giản thảnh thơi sâu sắc trong thiền. Ở trong trạng thái của buông bỏ trong thiền, và bỗng nhiên bạn sẽ có khả năng ngửi thấy hương thơm đang tới từ chiều sâu bên trong nhất của riêng bạn. Thế thì hoa nở và từ bi lan toả. Thiền là hoa và từ bi là hương thơm của nó.

Ham muốn là ham muốn là ham muốn - đáp lại câu hỏi

Xin Thầy nói về ham muốn giúp đỡ mọi người, sự khác biệt và tương đồng của nó với các dạng khác của ham muốn?

Ham muốn là ham muốn; không có khác biệt chút nào. Dù bạn muốn giúp mọi người hay bạn muốn hại mọi người, bản chất của ham muốn vẫn còn là một.

Vị phật không ham muốn giúp đỡ mọi người. Ông ấy giúp mọi người, nhưng không có ham muốn trong nó; việc đó là tự phát. Nó cũng như hương thơm của bông hoa đã nở ra. Hoa không ham muốn rằng hương thơm phải được thoảng ra theo gió tới mọi người. Dù nó có đạt tới mọi người hay không thì cũng không phải là bận tâm của hoa chút nào. Nếu nó đạt tới, điều đó là ngẫu nhiên; nếu nó không đạt tới, điều đó nữa cũng là ngẫu nhiên. Hoa tự phát toả ra hương thơm của nó. Mặt trời mọc - không có ham muốn đánh thức mọi người, không có ham muốn mở bông hoa ra, không có ham muốn giúp chim chóc hót. Tất cả những điều đó xảy ra theo cách riêng của nó.

Vị phật giúp đỡ không phải bởi vì ông ấy muốn giúp đỡ nhưng bởi vì từ bi là bản tính của ông ấy. Mọi thiền nhân đều trở thành từ bi, nhưng không phải là "đầy tớ của nhân dân". Đầy tớ của nhân dân là kẻ gây hại; thế giới đã chịu khổ quá nhiều từ những đầy tớ này phục vụ của họ là là ham muốn đeo mặt nạ như từ bi, và ham muốn không bao giờ có thể mang tính từ bi được.

Ham muốn bao giờ cũng khai thác. Bạn có thể khai thác nhân danh từ bi; bạn có thể khai thác bằng những cái tên mĩ miều. Bạn có thể nói về phục vụ nhân loại và về tình huynh đệ, hay về tôn giáo và Thượng đế và chân lí. Và tất cả những bài nói hay ho của bạn sẽ chỉ mang tới ngày một nhiều chiến tranh, ngày một nhiều đổ máu - ngày một nhiều người sẽ bị đóng đinh, bị thiêu sống. Đó là điều đã từng xảy ra cho tới nay. Và nếu bạn không mang hiểu biết mới tới thế giới này, nó sẽ tiếp tục theo cùng cách cũ.

Cho nên điều đầu tiên cần được ghi nhớ là ở chỗ ham muốn là như nhau, dù bạn ham muốn giúp đỡ hay làm hại. Vấn đề không phải là đối tượng của ham muốn; vấn đề là bản chất của bản thân ham muốn. Bản chất của ham muốn dẫn bạn vào trong tương lai; nó đem ngày mai vào. Và với ngày mai mọi căng thẳng kéo tới, mọi lo lắng về liệu bạn có nên làm nó hay không, liệu bạn có thành công hay không. Nỗi sợ thất bại và tham vọng thành công sẽ có đó - dù bạn ham muốn tiền hay bạn ham muốn chiến thắng trong thế giới này, hay bạn ham muốn từ bi với mọi người hay bạn ham muốn đem cứu rỗi tới cho họ, nó tất cả là cùng một trò chơi. Chỉ cái tên thay đổi. Đây là nền tảng để hiểu.

Một người hỏi Phật, "Tôi muốn giúp đỡ mọi người. Xin chỉ dẫn cho tôi." Phật nhìn người đó và trở nên rất buồn. Người đó đâm ra phân vân, lẫn lộn. Người đó nói, "Sao thầy trở nên buồn vậy? Tôi đã nói điều gì sai chăng?"

Phật nói, "Làm sao ông có thể giúp được mọi người? Ông thậm chí còn không giúp được bản thân mình! Ông sẽ chỉ làm hại họ nhân danh giúp đỡ."

Trước hết đem ánh sáng vào bên trong bản thể bạn. Để cho ngọn lửa được nhen nhóm trong tâm thức của bạn... và thế rồi bạn sẽ không bao giờ hỏi câu hỏi này. Thế thì, một cách tự nhiên, chính sự hiện diện của bạn và bất kì cái gì bạn làm cũng sẽ là sự giúp đỡ lớn lao.

Ham muốn là ham muốn. Không có ham muốn vật chất không có ham muốn tâm linh. Nó là trò bản ngã, giúp đỡ mọi người, và bạn trở nên thánh thiện hơn người khác. Bạn trở nên khôn hơn người khác - bạn biết và họ không biết. Bạn muốn giúp đỡ bởi vì bạn đã đạt tới còn họ tất cả là những người dốt nát loạng choạng trong bóng tối, và bạn muốn trở thành ánh sáng cho họ. Bạn muốn trở thành thầy và bạn muốn thu họ thành đệ tử. Nếu ham muốn này có đó, thế thì ham muốn này sẽ không giúp họ đâu - và nó sẽ không giúp cho bạn nữa. Nó sẽ làm hại gấp đôi; nó là con dao hai lưỡi. Nó sẽ chém người khác và nó sẽ chém bạn nữa. Nó mang tính phá huỷ, nó không thể mang tính sáng tạo được.

Thế rồi có một loại giúp đỡ khác không tới từ ham muốn, không phát triển từ bất kì phóng chiếu bản ngã nào. Loại giúp đỡ đó, loại từ bi đó, chỉ xảy ra tại đỉnh tối thượng của thiền, chưa bao giờ trước đó. Khi mùa xuân đã tới cho tâm thức bạn, khi bạn tất cả đều là hoa bên trong, hương thơm bắt đầu đạt tới người khác. Bạn không cần ham muốn nó - thực tế bạn không thể đừng được nó. Cho dù bạn muốn ngăn cản nó bạn cũng không thể ngăn cản nó được. Điều không tránh khỏi là nó sẽ đạt tới người khác. Nó sẽ trở thành ánh sáng trong cuộc sống của họ, nó sẽ trở thành sứ giả của sự bắt đầu mới, không phải bởi vì bạn đang ham muốn nó mà bởi vì bạn được biến đổi.

Có một cách thiền Phật giáo tên là Maitri Bhavana. Nó bắt đầu bằng việc nói với bản thân mình, "Cầu cho mình khoẻ mạnh, cầu cho mình hạnh phúc, cầu cho mình thoát khỏi kẻ thù, cầu cho mình thoát khỏi ốm đau giáng vào bản thân mình." Sau khi được thấm nhuần bởi việc cảm thấy những ý nghĩ này sinh ra, pha tiếp của thiền bao gồm việc mở rộng nó sang người khác - bắt đầu bằng việc quán tưởng về những người mình yêu mến và đem những cảm giác tốt lành này cho họ; thế rồi làm cùng điều đó với người mình ít yêu hơn, cho tới khi mình thậm chí cảm thấy từ bi với những người mình ghét. Tôi thường cảm thấy cách thiền này bằng cách nào đó mở tôi hướng tới người khác. Nhưng tôi đã vứt bỏ nó bởi vì tôi thấy trong nó có nguy hiểm của việc là một loại tự thôi miên nào đó. Tôi vẫn cảm thấy bị hấp dẫn tới cách thiền này nhưng tôi bị lẫn lộn liệu tôi có nên dùng lại nó không, có thể với thái độ khác, hay chỉ vứt bỏ nó đi. Xin thầy nói về cách thiền này? Tôi rất biết ơn.

Maitri Bhavana là một trong những cách thiền xuyên thấu nhất. Bạn không cần phải sợ bị vào một loại tự thôi miên nào đó; nó không phải vậy. Thực tế, nó là một loại giải thôi miên. Nó có vẻ giống thôi miên bởi vì nó là quá trình đảo ngược. Cứ dường như bạn đã đi tới gặp tôi từ nhà bạn, bạn bước đi dọc con đường, và bây giờ khi quay về bạn sẽ bước đi theo cùng cách. Sự khác biệt duy nhất sẽ là ở chỗ bây giờ lưng bạn sẽ hướng vào nhà tôi. Con đường vẫn như cũ, bạn vẫn như cũ, nhưng mặt bạn đã hướng về nhà tôi khi bạn tới; bây giờ lưng bạn sẽ hướng vào nhà tôi.

Con người đã bị thôi miên rồi. Vấn đề bây giờ không phải là bị thôi miên hay không bị thôi miên - bạn đã bị thôi miên rồi. Toàn thể quá trình của xã hội là một loại thôi miên. Ai đó được bảo rằng mình là người Ki tô giáo, và điều đó được liên tục lặp lại tới mức tâm trí người đó bị ước định và người đó nghĩ bản thân mình là người Ki tô giáo. Ai đó là người Hindu, ai đó là người Mô ha mét giáo - đây tất cả đều là thôi miên. Bạn đã bị thôi miên rồi. Nếu bạn nghĩ bạn khổ, đây là thôi miên. Nếu bạn nghĩ bạn có quá nhiều vấn đề, đây là thôi miên. Bất kì cái gì bạn đang là cũng đều là một loại thôi miên. Xã hội đã trao cho bạn những ý tưởng đó, và bây giờ bạn đầy những ý tưởng và ước định đó.

Maitri Bhavana là cách giải thôi miên: nó là nỗ lực đem lại tâm trí tự nhiên của bạn; nó là nỗ lực cho lại bạn khuôn mặt nguyên thuỷ của mình; nó là nỗ lực đem bạn tới điểm mà bạn đã ở khi bạn được sinh ra và xã hội còn chưa làm biến chất bạn. Khi đứa trẻ được sinh ra nó là trong Maitri Bhavana. Maitri Bhavana nghĩa là cảm giác lớn lao về tình bạn, tình yêu, từ bi. Khi đứa trẻ được sinh ra nó không biết tới hận thù, nó chỉ biết tình yêu. Tình yêu là bản năng; hận thù nó sẽ học về sau. Tình yêu là bản năng; giận dữ nó sẽ học về sau. Ghen tị, sở hữu, đố kị, nó sẽ học về sau. Đây sẽ là những điều xã hội sẽ dạy cho đứa trẻ: cách ghen tị, cách đầy hận thù, cách đầy giận dữ hay bạo hành. Những điều này sẽ được xã hội dạy.

Khi đứa trẻ được sinh ra nó là tình yêu đơn thuần. Nó phải vậy, bởi vì nó đã không biết cái gì khác. Trong bụng mẹ nó không bắt gặp kẻ thù nào. Nó đã sống trong tình yêu sâu sắc trong chín tháng, được bao quanh bởi tình yêu, được nuôi dưỡng bởi tình yêu. Nó không biết ai thù địch với mình. Nó chỉ biết người mẹ và tình yêu của người mẹ. Khi nó được sinh ra toàn thể kinh nghiệm của nó là về tình yêu, cho nên làm sao bạn có thể mong đợi nó biết cái gì về hận thù? Tình yêu này nó mang cùng bản thân nó; đây là khuôn mặt nguyên thuỷ. Thế rồi sẽ có rắc rối, thế rồi sẽ có nhiều kinh nghiệm khác. Nó sẽ bắt đầu không tin vào mọi người. Đứa trẻ mới sinh đơn giản được sinh ra cùng tin cậy.

Tôi đã nghe:

Một người đàn ông và đứa trẻ nhỏ cùng đi vào hiệu cắt tóc. Sau khi người này đã được phục vụ xong xuôi - cạo râu, gội đầu, cắt móng tay, cắt tóc vân vân người đó đặt đứa bé vào ghế.

"Tôi phải đi mua chiếc cà vạt," người này nói với thợ cắt tóc, "Tôi sẽ quay lại trong vài phút."

Khi việc cắt tóc cho cậu bé đã xong mà người này vẫn chưa trở lại, thợ cắt tóc nói, "Có vẻ như bố cháu đã quên tất cả về chúng ta rồi."

"Đấy không phải là bố cháu đâu," đứa bé nói. "Bác ấy bước tới, cầm tay cháu và nói, "Lại đây, con, chúng ta sẽ được cắt tóc miễn phí!"

Trẻ con tin cậy, nhưng dần dần sẽ có những kinh nghiệm trong đó chúng sẽ bị lừa, trong đó chúng sẽ lâm vào rắc rối, trong đó chúng sẽ bị chống đối, trong đó chúng sẽ trở nên sợ hãi. Dần dần chúng học tất cả các thủ đoạn của thế giới. Đó là điều đã xảy ra cho mọi người, ít hay nhiều.

Bây giờ, Maitri Bhavana lại đang tạo ra cùng tình huống: nó là việc giải thôi miên. Nó là nỗ lực vứt bỏ hận thù, giận dữ, ghen tị, đố kị, và quay về với thế giới như bạn đã tới ngay chỗ đầu tiên. Nếu bạn cứ làm việc thiền này, ban đầu bạn bắt đầu yêu bản thân mình - bởi vì bạn ở gần với mình hơn bất kì ai khác. Thế rồi bạn lan toả tình yêu của mình, tình bạn của mình, từ bi của mình, cảm giác của mình, ước muốn tốt lành của mình, phúc lành của mình, ân huệ của mình - bạn lan toả những cái này cho những người bạn yêu mến, bạn bè, người yêu. Thế rồi, dần dần, bạn lan toả những điều này cho nhiều người mà bạn không có tình yêu nhiều, thế rồi cho những người bạn dửng dưng - bạn không yêu không ghét - thế rồi dần dần cho những người bạn ghét. Từ từ bạn giải thôi miên cho bản thân mình. Dần dần bạn lại tạo ra bụng mẹ của tình yêu xung quanh bản thân mình.

Khi vị Phật ngồi, ông ấy ngồi trong sự tồn tại dường như toàn thể sự tồn tại đã lại trở thành bụng mẹ của ông ấy. Không có thù địch. Ông ấy đã đạt tới bản tính nguyên thuỷ của mình. Ông ấy đã đi tới biết điều bản chất trong bản thân mình. Bây giờ bạn thậm chí có thể giết ông ấy nhưng bạn không thể phá huỷ được từ bi của ông ấy. Ngay cả đang chết, ông ấy vẫn còn tràn đầy từ bi với bạn. Bạn có thể giết ông ấy nhưng bạn không thể phá huỷ được tin cậy của ông ấy. Bây giờ ông ấy biết rằng tin cậy là cái gì đó cơ bản tới mức một khi bạn đánh mất tin cậy bạn mất tất cả. Và nếu bạn không mất tin cậy và mọi thứ khác bị mất, chẳng cái gì mất cả. Bạn có thể lấy mọi thứ khỏi ông ấy nhưng bạn không thể lấy được tin cậy của ông ấy. Maitri Bhavana là hay; không cần vứt bỏ nó. Nó sẽ cực kì có ích. Nó là việc giải cấu trúc.

Bản ngã được tạo ra bằng ghét bỏ, thù địch, tranh đấu. Nếu bạn muốn vứt bỏ bản ngã, bạn sẽ phải tạo ra nhiều cảm giác yêu. Khi bạn yêu, bản ngã biến mất. Nếu bạn yêu mênh mông và bạn yêu vô điều kiện và bạn yêu tất cả, thế thì bản ngã không thể tồn tại được. Bản ngã là thứ ngu xuẩn nhất có thể xảy ra cho đàn ông hay đàn bà. Một khi nó xảy ra sẽ rất khó ngay cả để thấy nó bởi vì nó che mờ mắt bạn.

Tôi đã nghe:

Mulla Nasruddin và hai người bạn đang nói chuyện về sự giống nhau của họ. Người bạn thứ nhất nói, "Khuôn mặt tôi giống khuôn mặt của Winston Churchill. Người ta thường lầm tôi với ông ấy."

Người thứ hai nói, "Trong trường hợp của tôi, mọi người nghĩ tôi là Richard Nixon và xin tôi chữ kí."

Mulla nói, "Thế chưa là gì cả. Thế này, trong trường hợp của tôi, người ta đã lầm tôi với đích thân Trời."

Người thứ nhất và thứ hai hỏi, "Lầm thế nào?"

Mulla Nasruddin nói, "Thế này, khi tôi bị kết tội và bị tống vào tù lần thứ tư, khi gặp tôi viên coi tù kêu lên, "Ôi Trời, ông lại tới rồi!?

Một khi bản ngã đã xảy ra nó cứ thu thập từ mọi nơi - có nghĩa, vô nghĩa - nhưng nó cứ cảm thấy bản thân nó là quan trọng. Trong tình yêu bạn nói, "Em cũng quan trọng, không chỉ anh." Khi bạn yêu ai đó, bạn nói gì? Bạn có thể nói hay không nói, nhưng cái gì thực sự ở sâu trong tim bạn? Bạn đang nói, dù bằng lời hay trong im lặng, "Em cũng quan trọng như anh." Nếu tình yêu phát triển sâu sắc hơn, bạn sẽ nói, "Em thậm chí còn quan trọng hơn anh. Nếu nảy sinh tình huống chỉ một người có thể tồn tại, anh sẽ chết cho em, và anh muốn em tồn tại." Người kia đã trở nên quan trọng hơn; bạn thậm chí sẵn sàng hi sinh bản thân mình cho người bạn yêu. Và nếu điều này cứ lan toả, như nó cứ lan toả trong Maitri Bhavana, thế thì dần dần bạn bắt đầu biến mất. Nhiều khoảnh khắc sẽ tới khi bạn không có đó - tuyệt đối im lặng, không có bản ngã chút nào, không trung tâm, chỉ không gian thuần khiết. Phật nói, "Khi điều này được đạt tới thường hằng, và ông đã trở nên được hoà hợp vào không gian thuần khiết này, thế thì ông được chứng ngộ."

Khi bản ngã bị mất hoàn toàn bạn được chứng ngộ; khi bạn đã trở nên vô ngã tới mức bạn thậm chí không thể nói được "tôi đây," bạn thậm chí không thể nói được rằng "tôi là cái ngã." Từ Phật dùng cho trạng thái đó là anata: vô hiện hữu, không hiện hữu, vô ngã. Bạn thậm chí không thể thốt ra lời "tôi", chính lời này trở thành báng bổ. Trong tình yêu sâu sắc, "tôi" biến mất. Bạn được hoá giải cấu trúc.

Khi đứa trẻ được sinh ra nó tới mà không có cái "tôi" nào. Nó đơn giản hiện hữu - tờ giấy trắng, không cái gì được viết lên nó. Bây giờ xã hội sẽ bắt đầu viết, và sẽ bắt đầu làm hẹp tâm thức của nó. Dần dần xã hội sẽ ấn định vai trò cho nó - "Đây là vai trò của bạn; đây là bạn" - và người đó sẽ dính vào vai trò đó. Vai trò đó sẽ không bao giờ cho phép người đó hạnh phúc bởi vì hạnh phúc là có thể chỉ khi bạn là vô hạn. Khi bạn hạn hẹp, bạn không thể hạnh phúc được. Hạnh phúc không phải là chức năng của hạn hẹp; hạnh phúc là chức năng của không gian vô hạn. Khi bạn thoáng đãng tới mức cái toàn thể có thể đi vào trong bạn, chỉ thế thì bạn mới có thể hạnh phúc.

Maitri Bhavana có thể là sự giúp đỡ lớn lao.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập