Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Cách sống có ý thức Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong
 
 
Cách sống có ý thức

Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong - (4)

Bốn câu hỏi

***

Bạn có bài ca trong trái tim mình để được hát lên và bạn có điệu vũ để được nhảy múa, nhưng điệu vũ là vô hình, và bài ca - thậm chí bạn cũng chưa từng nghe thấy nó. Nó nằm sâu ẩn trong cốt lõi bên trong nhất của bản thể bạn; nó phải được đem lên bề mặt, nó phải được diễn đạt. Đó là điều được ngụ ý bởi 'thể hiện đầy đủ tiềm năng'.

1. Kí ức và tưởng tượng

Thầy thường xuyên khẩn nài chúng tôi từ bỏ kí ức, để sống trong ở đây bây giờ. Nhưng trong khi từ bỏ kí ức tôi cũng phải từ bỏ cả tưởng tượng sáng tạo của mình, vì tôi là nhà văn và mọi điều tôi viết ra đều có gốc rễ trong điều tôi ghi nhớ.

Tôi tự hỏi - thế giới sẽ ra sao nếu không có nghệ thuật và tưởng tượng sáng tạo, điều làm cho nghệ thuật thành có thể? Một Tolstoy không bao giờ có thể trở thành vị Phật được, nhưng thế thì vị Phật có thể viết ra Chiến tranh và Hoà bình không?

Bạn đã không hiểu tôi rồi, nhưng điều đó là tự nhiên. Không thể nào hiểu được tôi, bởi vì để hiểu tôi bạn sẽ phải vứt bỏ kí ức của bạn. Kí ức của bạn gây can nhiễu vào. Bạn nghe lời tôi, và thế rồi bạn cứ diễn giải những lời đó theo kí ức của bạn, theo quá khứ của bạn. Bạn không thể hiểu được tôi nếu bạn không ở đây bây giờ... chỉ thế thì mới có gặp gỡ. Chỉ trong khoảnh khắc đó bạn mới ở cùng tôi; bằng không, bạn có mặt vật lí ở đây, vắng mặt về tâm lí.

Tôi không bảo bạn vứt bỏ kí ức sự kiện của bạn. Điều đó sẽ là ngu ngốc! Kí ức sự kiện của bạn là cái cần phải có. Bạn phải biết tên mình, bố bạn là ai và mẹ bạn là ai và vợ bạn là ai và con bạn là ai và địa chỉ của bạn; bạn sẽ phải đi về khách sạn, bạn sẽ phải tìm ra căn phòng của mình. Kí ức sự kiện không được ngụ ý tới - kí ức tâm lí mới được ngụ ý tới. Kí ức sự kiện không phải là vấn đề, nó là việc hồi tưởng lại thuần tuý. Khi bạn trở nên bị ảnh hưởng về tâm lí, thế thì vấn đề nảy sinh. Cố hiểu khác biệt này.

Hôm qua ai đó xúc phạm bạn. Lần nữa người đó bắt gặp bạn hôm nay. Kí ức sự kiện là ở chỗ "người này đã xúc phạm mình hôm qua." Kí ức tâm lí là ở chỗ thấy người đó bạn trở nên giận dữ; thấy người đó, bạn bắt đầu sôi lên. Và người đó có thể tới chỉ để xin lỗi bạn; người đó có thể tới để tạ lỗi, để xin được tha thứ. Người đó có thể đã hiểu ra sai lầm của mình; người đó có thể đã hiểu ra hành vi vô ý thức của mình. Người đó có thể lại trở nên thân thiện với bạn, nhưng bạn lại trở nên sôi sùng sục. Bạn giận dữ, bạn bắt đầu mắng mỏ. Bạn không thấy khuôn mặt người đó ở đây bây giờ; bạn bị ảnh hưởng bởi khuôn mặt ngày hôm qua. Nhưng hôm qua là hôm qua! Bao nhiêu nước đã chảy xuôi qua sông Hằng rồi? Người này không phải là cùng người đó nữa. Hai mươi bốn giờ đã đem tới nhiều thay đổi - và bạn không là cùng con người trước nữa.

Kí ức sự kiện nói, "Người này đã xúc phạm mình hôm qua," nhưng mà 'mình' đã thay đổi rồi. Người này đã thay đổi rồi. Cho nên cứ dường như là sự vụ đã xảy ra giữa hai người mà với họ bạn chẳng có liên quan gì nữa - thế thì bạn được tự do về tâm lí. Bạn không nói, "Tôi vẫn thấy giận." Không có cơn giận đeo bám. Kí ức có đó, nhưng không có mầu sắc tâm lí. Bạn lại gặp người này như người đó bây giờ, và bạn gặp người đó như bạn bây giờ.

Một người tới và nhổ vào mặt Phật. Người đó rất giận dữ. Người đó là một Brahmin còn Phật lại đang nói những điều mà các tu sĩ rất giận điều đó. Phật chùi mặt và hỏi người này, "Ông còn gì nữa để nói không?"

Đệ tử của ông ấy, Ananda, trở nên rất giận. Ông ấy giận tới mức ông ấy hỏi Phật, "Xin hãy cho phép tôi làm cho người này biết lễ độ là gì. Thế này thì quá thể! Tôi không thể dung thứ điều đó được."

Phật nói, "Nhưng ông ta có nhổ vào mặt ông đâu. Đây là mặt ta. Thứ nữa, nhìn người đó mà xem! Ông ta đang trong rối loạn lớn thế nào - cứ nhìn ông ta mà xem! Thấy từ bi với ông ta đi. Ông ta muốn nói điều gì đó với ta, nhưng lời lại không thích hợp. Đó cũng là vấn đề của ta nữa, vấn đề dài cả đời ta - và ta thấy người này trong cùng tình huống đó! Ta muốn kể lại mọi sự cho các ông rằng ta đã đi tới biết, nhưng ta không thể kể được cho họ bởi vì lời là không thích hợp. Người này đang trên cùng con thuyền đó: người này giận dữ tới mức không lời nào có thể diễn đạt được cơn giận của mình - cũng như ta đang yêu nhiều tới mức không lời nào, không hành động nào, có thể diễn đạt được nó. Ta thấy khó khăn của người này - nhìn xem!"

Phật thấy, Ananda cũng thấy. Phật đơn giản thu thập kí ức sự kiện; Ananda đang tạo ra kí ức tâm lí.

Người này không thể nào tin được vào tai mình, điều Phật vừa nói. Người này rất choáng váng. Người này sẽ không choáng váng nếu Phật đánh người này, hay Ananda đã nhảy lên người này. Thế thì sẽ không có choáng váng; điều đó đã được trông đợi, điều đó đáng là tự nhiên. Đó là cách con người phản ứng. Nhưng Phật cảm được người này, thấy cái khó khăn của người này... Người này đi, không thể ngủ được cả đêm, suy nghĩ mãi về điều đó, thiền về điều đó. Bắt đầu cảm thấy tổn thương lớn, bắt đầu cảm thấy điều mình đã làm. Một vết thương hé ra trong tim người này.

Sáng sớm hôm sau, người này chạy xô tới chân Phật, khuỵu xuống chân Phật, hôn chân Phật. Và Phật nói với Ananda, "Trông này, lại cùng vấn đề rồi! Bây giờ người này đang cảm thấy quá nhiều với ta, người này không thể nói được thành lời. Người này chạm chân ta. Con người bất lực thế. Bất kì cái gì quá nhiều cũng đều không thể diễn đạt được, không thể truyền đạt được, không thể trao đổi được. Phải tìm ra cử chỉ nào đó để tượng trưng cho nó. Trông xem!"

Và người này bắt đầu khóc và người này nói, "Tôi xin lỗi, thưa thầy. Tôi cực kì xin lỗi. Nhổ vào thầy, một con người như thầy, là ngu xuẩn tuyệt đối về phần tôi."

Phật nói, "Quên điều đó đi! Người mà ông đã nhổ vào không còn nữa, và người đã nhổ cũng không còn nữa rồi. Ông mới, ta mới! Trông đấy - mặt trời này đang mọc lên là mới. Mọi thứ đều mới. Ngày hôm qua không còn nữa. Được kết thúc với nó đi! Và làm sao ta có thể tha thứ được? bởi vì ông chưa bao giờ nhổ vào ta. Ông nhổ vào ai đó đã đi rồi."

Tâm thức là dòng sông liên tục.

Khi tôi nói vứt bỏ kí ức của bạn, tôi ngụ ý kí ức tâm lí; tôi không ngụ ý kí ức sự kiện. Phật nhớ hoàn hảo rằng hôm qua người này đã nhổ vào mình, nhưng ông ấy cũng nhớ rằng người này không là cùng con người cũ cũng như ông ấy không là cùng con người cũ. Chương đó đã khép lại rồi; chẳng đáng mang nó trong cả đời bạn. Nhưng bạn cứ mang. Ai đó đã nói điều gì đó với bạn từ mười năm trước và bạn vẫn còn mang nó. Mẹ bạn đã giận dữ khi bạn còn là đứa trẻ và bạn vẫn còn mang nó. Bố bạn đã tát bạn khi bạn chỉ là đứa bé và bạn vẫn còn mang nó, và bạn có thể bẩy mươi tuổi.

Những kí ức tâm lí này cứ đè nặng bạn. Chúng phá huỷ tự do của bạn, chúng phá huỷ sự sống động của bạn, chúng giam cầm bạn. Kí ức sự kiện là hoàn toàn tốt.

Và một điều nữa cần được hiểu: khi không có kí ức tâm lí, kí ức sự kiện là rất chính xác - bởi vì kí ức tâm lí là rối loạn. Khi bạn rất bị náo động về tâm lí, làm sao bạn có thể nhớ được chính xác? Điều đó là không thể được! Bạn đang run rẩy, bạn đang rung lên, bạn đang trong một loại động đất - làm sao bạn có thể nhớ được đích xác? Bạn sẽ cường điệu lên; bạn sẽ thêm cái gì đó, bạn sẽ xoá đi cái gì đó, bạn sẽ làm ra cái gì đó mới từ nó. Bạn không thể tin cậy được.

Người không có kí ức tâm lí thì có thể tin cậy được. Đó là lí do tại sao máy tính lại tin cậy hơn con người, bởi vì chúng không có kí ức tâm lí. Chỉ sự kiện - sự kiện trần trụi, sự kiện trần. Khi bạn nói về sự kiện, thì thế nữa nó cũng không phải là sự kiện: nhiều hư cấu đã đi vào nó rồi. Bạn đã tạo khuôn nó, bạn đã thay đổi nó, bạn đã tô vẽ nó, bạn đã cho nó mầu sắc của riêng mình, nó không còn là sự kiện nữa! Chỉ vị Phật, một Như Lai, người chứng ngộ, mới biết sự kiện là gì; bạn chưa bao giờ bắt gặp sự kiện cả, bởi vì bạn mang biết bao nhiêu hư cấu trong tâm trí mình. Bất kì khi nào bạn tìm thấy một sự kiện, bạn lập tức áp hư cấu của mình vào nó. Bạn chưa bao giờ thấy cái đang đó, bạn cứ bóp méo thực tại.

Phật nói Như Lai, người đã thức tỉnh, bao giờ cũng đúng bởi vì ông ấy nói tương ứng với thực tại. Như Lai nói ra chân lí, không bao giờ nói khác đi. Như Lai là đồng nghĩa với như vậy. Dù nó là bất kì cái gì, Như Lai đơn giản phản xạ; đó là tấm gương. Đó là điều tôi ngụ ý - vứt bỏ kí ức tâm lí và bạn sẽ trở thành tấm gương.

Bạn đã hỏi, " Thầy thường xuyên khẩn nài chúng tôi từ bỏ kí ức, để sống trong ở đây bây giờ..." Điều đó không có nghĩa rằng quá khứ của bạn không thể được nhớ lại. Quá khứ là một phần của hiện tại; bất kì cái gì bạn đã là trong quá khứ, đều là một phần của hiện tại của bạn, nó là ở đây. Đứa trẻ của bạn là trong bạn, thanh niên của bạn là trong bạn... tất cả mọi điều bạn đã làm đều ở bên trong bạn. Thức ăn mà bạn đã ăn - nó là quá khứ, nhưng nó đã trở thành máu bạn; nó tuần hoàn ở đây bây giờ, nó đã trở thành xương bạn, nó đã trở thành tuỷ bạn. Tình yêu mà bạn đã trải qua có thể là quá khứ nhưng nó đã biến đổi bạn. Nó đã cho bạn một tầm nhìn mới về cuộc sống, nó đã mở mắt bạn. Hôm qua bạn đã ở cùng tôi - nó là quá khứ, nhưng nó có thực là quá khứ toàn bộ không? Làm sao nó có thể là quá khứ toàn bộ được? Bạn đã bị thay đổi bởi nó; bạn đã được cho tia lửa mới, ngọn lửa mới - cái đó đã trở thành một phần của bạn.

Khoảnh khắc hiện tại của bạn chứa đựng toàn thể quá khứ của bạn. Và nếu bạn có thể hiểu được tôi, thì khoảnh khắc hiện tại của bạn cũng chứa toàn thể tương lai của bạn - bởi vì quá khứ như nó đã xảy ra đã làm thay đổi bạn, nó đã chuẩn bị bạn. Và tương lai đang sắp xảy ra sẽ xảy ra từ cách bạn sống trong hiện tại. Cách bạn sống ở đây bây giờ sẽ có tác động lớn lao lên tương lai của bạn.

Trong khoảnh khắc hiện tại tất cả quá khứ đều được hàm chứa, và trong khoảnh khắc hiện tại tất cả tương lai đều là tiềm năng - nhưng bạn cần không lo nghĩ tới nó về mặt tâm lí. Nó đã ở đó rồi! Bạn không cần mang nó về mặt tâm lí, bạn không cần bị nặng gánh bởi nó. Nếu bạn hiểu tôi, rằng nó đã được hàm chứa trong hiện tại rồi... cây không nghĩ về nước mà nó hút ngày hôm qua, nhưng nước vẫn có đấy! suy nghĩ hay không suy nghĩ. Và tia nắng mặt trời chiếu lên nó hôm qua - nó không nghĩ về chúng. Cây không ngu thế, không ngu như người.

Sao lại bận tâm tới tia nắng của hôm qua? Chúng đã được hấp thu, được tiêu hoá rồi; chúng đã trở thành một phần của mầu lục, mầu đỏ và thành vàng. Cây đang tận hưởng mặt trời buổi sáng này, không có kí ức tâm lí về hôm qua. Mặc dầu hôm qua được chứa đựng trong lá, trong hoa, trong cành, trong rễ, trong nhựa. Nó có đó! Và tương lai cũng đang tới; nụ mới, cái sẽ trở thành hoa ngày mai, có đó. Và những chiếc lá mới nhỏ bé sẽ trở thành tán lá ngày mai cũng có đó, đang trên đường.

Khoảnh khắc hiện tại chứa đựng hết thảy. Bây giờ là vĩnh hằng.

Cho nên tôi không nói quên quá khứ sự kiện; tôi đơn giản nói đừng bị xáo động bởi nó thêm nữa. Nó không nên là sự đầu tư tâm lí. Nó là sự kiện vật lí - cứ để nó như vậy. Và tôi không nói hãy trở nên không có khả năng nhớ nó - nó có thể được cần đấy! Khi nó được cần tới, nhu cầu là trong hiện tại, nhớ lấy, và bạn phải đáp ứng với nhu cầu này. Ai đó hỏi bạn số điện thoại của bạn - nhu cầu này là hiện tại bởi vì ai đó đang hỏi bây giờ, và bạn nói, "Làm sao tôi có thể nói cho bạn số điện thoại của tôi được? bởi vì tôi đã vứt bỏ quá khứ của mình." Thế thì bạn sẽ lâm vào rắc rối không cần thiết. Cuộc sống của bạn, thay vì trở nên tự do, thay vì trở thành niềm vui và lễ hội lớn lao, sẽ bị cản trở tại mọi bước; bạn sẽ thấy cả nghìn lẻ một vấn đề không cần thiết đang do chính bạn tạo ra. Không có nhu cầu.

Cố hiểu tôi đi.

Và bạn nói, "Nhưng trong khi từ bỏ kí ức tôi cũng phải từ bỏ cả tưởng tượng sáng tạo của mình..." Kí ức có liên quan gì tới tưởng tượng sáng tạo? Thực tế, bạn càng có nhiều kí ức bạn sẽ càng ít tính sáng tạo - bởi vì bạn sẽ cứ lặp lại kí ức, và tính sáng tạo có nghĩa là cho phép cái mới xảy ra. Cho phép cái mới xảy ra nghĩa là gạt sang bên kí ức để cho quá khứ không can thiệp vào.

Để cái mới thấm nhuần vào bạn. Để cái mới tới và làm xúc động trái tim bạn. Quá khứ sẽ được cần tới, nhưng không phải bây giờ; quá khứ sẽ được cần tới khi bạn bắt đầu diễn đạt kinh nghiệm mới này. Thế thì quá khứ sẽ được cần tới bởi vì ngôn ngữ sẽ được cần tới - ngôn ngữ tới từ quá khứ. Bạn không thể phát minh ra được ngôn ngữ ngay bây giờ - hay bạn phát minh nó, nó sẽ thành trò nói lảm nhảm; nó sẽ không có nghĩa gì cả. Và nó sẽ không phải là trao đổi, nó sẽ là chuyện nói líu lưỡi, nó sẽ là việc nói của đứa trẻ nít. Chẳng mấy tính sáng tạo sẽ bắt nguồn từ nó. Bạn sẽ nói điều vô nghĩa.

Nói ra ngôn ngữ có nghĩa là cần thiết; ngôn ngữ tới từ quá khứ. Nhưng ngôn ngữ chỉ nên tới khi kinh nghiệm đã xảy ra! Thế thì hãy dùng nó như công cụ. Nó không nên cản trở bạn.

Khi bạn thấy hoa hồng nở trong mặt trời buổi sang sớm, thấy nó thôi. Để nó có tác động, cho phép nó đi sâu vào trong bạn. Để cho mầu hồng của nó làm mê mẩn bạn, tràn ngập bạn. Đừng nói điều gì, đợi đấy. Kiên nhẫn, cởi mở. Hấp thu. Để hoa hồng đạt tới bạn, và bạn đạt tới hoa hồng. Để có gặp gỡ, giao cảm của hai sinh linh - hoa hồng và bạn. Để có xuyên thấu, xuyên thấu lẫn nhau.

Và nhớ: hoa hồng càng đi sâu hơn vào trong bạn, bạn càng có thể đi sâu hơn vào hoa hồng; nó bao giờ cũng cùng tỉ lệ. Một khoảnh khắc tới khi bạn không biết ai là hoa hồng và ai là khán giả. Một khoảnh khắc tới khi bạn trở thành hoa hồng và hoa hồng trở thành bạn, khi người quan sát là vật được quan sát, khi tất cả mọi nhị nguyên biến mất. Trong khoảnh khắc đó bạn sẽ biết thực tại, tính như vậy của hoa hồng. Thế rồi nắm lấy ngôn ngữ của bạn, nắm lấy nghệ thuật của bạn. Nếu bạn là hoạ sĩ, thế thì lấy chổi vẽ và mầu sắc và vải vẽ của bạn ra, và vẽ nó. Nếu bạn là nhà thơ, xô vào trong kí ức sự kiện của mình để tìm từ đúng sao cho bạn có thể diễn tả được kinh nghiệm này.

Nhưng trong khi kinh nghiệm đang xảy ra, đừng nói bên trong mình. Việc nói bên trong sẽ là can nhiễu. Bạn sẽ không bao giờ biết được hoa hồng trong sự mãnh liệt và chiều sâu của nó. Bạn sẽ chỉ biết vẻ bề ngoài, cái nông cạn. Và nếu bạn biết cái nông cạn, cái nông cạn sẽ là cách diễn đạt của bạn; nghệ thuật của bạn sẽ không mấy giá trị đâu.

Bạn nói, "Nhưng trong khi từ bỏ kí ức tôi cũng phải từ bỏ cả tưởng tượng sáng tạo của mình..." Bạn không hiểu ý nghĩa của 'sáng tạo'. Sáng tạo nghĩa là cái mới, cái mới lạ, cái nguyên bản. Sáng tạo nghĩa là cái tươi tắn, cái không biết. Bạn phải cởi mở vì nó, mong manh vì nó.

Gạt kí ức sang bên. Tính hữu dụng của nó là về sau. Ngay bây giờ nó sẽ là can nhiễu.

Ngay bây giờ, chẳng hạn, bạn đang nghe tôi - gạt kí ức bạn sang bên. Khi bạn nghe tôi, bạn có lặp lại bên trong mình tất cả những toán học mà bạn biết không? Bạn có đếm các hình bên trong không? Bạn có lặp lại bài địa bạn biết không? Bạn có lặp lại bài sử bạn biết không? Gạt chúng sang bên đi. Làm cùng điều đó với ngôn ngữ nữa, như bạn làm với sử và toán và địa. Làm cùng điều đó với ngôn ngữ - làm cùng điều đó với kí ức của bạn, gạt nó sang bên! Nó sẽ được cần tới - nhưng khi nó được cần tới, chỉ thế thì dùng nó. Gạt toàn thể tâm trí sang bên!

Bạn không phá huỷ tâm trí đâu, bạn đơn giản cho nó nghỉ thôi. Nó không được cần tới, bạn có thể cho nó ngày nghỉ. Bạn có thể nói với tâm trí, "Nghỉ một giờ đi và để tôi nghe. Và khi tôi đã nghe, khi tôi đã hấp thu rồi, khi tôi đã ăn và uống rồi thì tôi sẽ gọi lại bạn, thế thì giúp đỡ của bạn sẽ được cần tới - ngôn ngữ của bạn, tri thức của bạn, thông tin của bạn sẽ được cần tới. Thế rồi tôi sẽ vẽ bức tranh hay viết bài thơ, hay viết sách, nhưng ngay bây giờ bạn có thể nghỉ." Và tâm trí sẽ tươi mới hơn sau khi nghỉ. Bạn không cho phép tâm trí nghỉ; đó là lí do tại sao tâm trí bạn vẫn còn xoàng xĩnh.

Nghĩ về người muốn tham gia cuộc đua Olympic và người đó liên tục chạy, hai mươi bốn tiếng một ngày, chuẩn bị cho cuộc đua Olympic. Vào lúc cuộc đua xảy ra người đó sẽ không thể nào chuyển động được, người đó sẽ mệt đến chết. Trước cuộc đua bạn sẽ phải nghỉ, bạn sẽ phải lấy việc nghỉ sâu nhất có thể được để cho thân thể được khoẻ lại.

Đích xác cùng điều này phải được thực hiện với tâm trí. Tưởng tượng sáng tạo chẳng liên quan gì tới kí ức cả - chỉ thế thì nó mới là tính sáng tạo. Nếu bạn hiểu tôi, và bạn vứt bỏ kí ức tâm lí, bạn sẽ trở nên có tính sáng tạo. Bằng không, điều bạn gọi là sáng tạo, không thực là sáng tạo đâu - nó chỉ là soạn ra. Có khác biệt lớn lao giữa sáng tạo và soạn ra. Bạn cứ soạn các thứ đã biết cũ của mình theo những cách khác nhau, nhưng chúng là cũ; chẳng cái gì mới ở đó cả. Bạn đơn giản xoay xở để thay đổi cấu trúc.

Điều đó cũng giống như xếp dọn phòng khách của bạn - đồ đạc vẫn là cái cũ, tranh ảnh trên tường vẫn là cái cũ, bức rèm vẫn là cái cũ, nhưng bạn có thể xếp đặt lại chúng. Bạn có thể đặt ghế ở kia và bàn ở đây, và bạn có thể thay đổi bức tranh từ tường này sang tường khác. Nó có thể trông mới đấy, nhưng nó lại không mới. Nó là việc soạn ra; bạn đã không tạo ra cái gì cả. Đó là điều chín mươi chín phần trăm các tác giả, nhà thơ, hoạ sĩ, cứ làm mãi. Họ xoàng xĩnh; họ không sáng tạo.

Người sáng tạo là người đem cái gì đó từ cái không biết vào thế giới của cái đã biết, người đem cái gì đó từ Thượng đế vào thế giới, người giúp Thượng đế thốt ra điều gì đó - người trở thành cây tre hổng và cho phép Thượng đế thổi qua mình. Làm sao bạn có thể trở thành cây tre hổng được? Nếu bạn quá đầy tâm trí bạn không thể trở thành cây tre hổng được. Và tính sáng tạo là từ người sáng tạo, tính sáng tạo không phải là của bạn hay từ bạn. Bạn biến mất, thế thì tính sáng tạo hiện hữu - khi đó người sáng tạo chiếm lĩnh bạn.

Người sáng tạo thực biết hoàn toàn rõ, rằng họ không phải là người sáng tạo - họ chỉ là công cụ, chỉ là trung gian. Cái gì đó xảy ra qua họ, đúng, nhưng họ không là người làm ra điều đó.

Nhớ khác biệt giữa nhà kĩ thuật và người sáng tạo. Nhà kĩ thuật chỉ biết cách làm một việc. Có thể người đó biết hoàn hảo cách làm một việc, nhưng người đó không có sáng suốt. Người sáng tạo là người có sáng suốt, người có thể thấy mọi điều mà không ai đã từng thấy trước đây - người có thể thấy những điều mà không con mắt nào đã từng có khả năng thấy - người nghe thấy những điều mà không ai đã từng nghe thấy trước đây. Thế thì có sáng tạo.

Hãy xem... Phát biểu của Jesus là sáng tạo - không ai đã nói giống như thế trước đây. Ông ấy không phải là người có giáo dục. Ông ấy không biết gì về kĩ năng nói, ông ấy không biết gì về tài hùng biện - nhưng ông ấy lại là người hùng biện xưa nay hiếm, rất ít người đã từng như vậy. Bí mật của ông ấy là gì? Ông ấy có sáng suốt. Ông ấy đã nhìn vào Thượng đế, ông ấy đã nhìn vào cái không biết. Ông ấy đã gặp cái không biết và cái không thể biết. Ông ấy đã từng ở trong không gian đó và từ không gian đó ông ấy đem tới hương thơm mới. Chỉ hương thơm mới có thể được mang đi, nhưng khi bạn đem hương thơm nào đó từ cái không thể biết, bạn biến đổi toàn bộ phẩm chất của tâm thức con người trên trái đất.

Ông ấy có tính sáng tạo. Tôi sẽ gọi ông ấy là nghệ sĩ. Hay Phật, Krishna, hay Lão Tử - đây là những nghệ sĩ thực thụ! Họ làm cho điều không thể được xảy ra. Điều không thể được là sự gặp gỡ của cái đã biết với cái không biết, sự gặp gỡ của tâm trí với vô trí - đó là điều không thể được. Họ làm cho điều đó xảy ra.

Bạn nói, "Nhưng trong khi từ bỏ kí ức tôi cũng phải từ bỏ cả tưởng tượng sáng tạo của mình..." Không. Điều đó chẳng liên quan gì tới tưởng tượng sáng tạo cả. Thực tế, nếu bạn gạt kí ức của mình sang bên, bạn sẽ có tưởng tượng sáng tạo. Bạn không thể có tưởng tượng sáng tạo nếu bạn bị quá nặng gánh với kí ức.

Bạn nói, "...vì tôi là nhà văn và mọi điều tôi viết ra đều có gốc rễ trong điều tôi ghi nhớ." Thế thì bạn chẳng phải là nhà văn gì mấy đâu. Thế thì bạn cứ viết về quá khứ, thế thì bạn cứ viết về luận văn. Bạn không đem tương lai vào, bạn cứ viết các biên bản. Bạn là người giữ hồ sơ! Bạn có thể trở thành nhà văn, nhưng thế rồi bạn sẽ phải tạo ra tiếp xúc với cái không biết - không phải là cái bạn nhớ. Cái được ghi nhớ đã chết rồi. Bạn sẽ phải tạo ra tiếp xúc với cái đang hiện hữu, không phải là cái bạn ghi nhớ. Bạn sẽ phải tạo ra tiếp xúc với cái như vậy vẫn đang bao quanh bạn. Bạn sẽ phải đi sâu vào trong hiện tại để cho cái gì đó của quá khứ cũng có thể được mắc vào trong lưới của bạn.

Tính sáng tạo thực sự không phải bắt nguồn từ hồi tưởng mà từ tâm thức. Bạn sẽ phải trở nên ý thức hơn. Bạn càng ý thức, bạn càng có cái lưới lớn hơn, và tất nhiên sẽ bắt được nhiều cá hơn.

Bạn nói, "Tôi tự hỏi - thế giới sẽ ra sao nếu không có nghệ thuật và tưởng tượng sáng tạo, điều làm cho nghệ thuật thành có thể?" Chín mươi chín phần trăm nghệ thuật không phải là nghệ thuật chút nào, nó là rác rưởi. Hiếm khi có một công trình nghệ thuật, rất hiếm. Những người khác chỉ là kẻ bắt chước, nhà kĩ thuật - người có kĩ năng, người tinh ranh, nhưng không phải là nghệ sĩ. Và chín mươi chín phần trăm nghệ thuật biến mất khỏi trái đất sẽ là phúc lành - bởi vì nó giống như việc mửa ra hơn là bất kì cái gì sáng tạo.

Bây giờ có cái gì đó rất có nghĩa quanh đây - trị liệu nghệ thuật. Nó là có nghĩa, nó đạt tới vấn đề. Khi mọi người ốm, ốm tinh thần, nghệ thuật có thể có ích. Một người ốm tinh thần có thể được đưa cho vải vẽ và mầu vẽ và chổi vẽ và được bảo hãy vẽ bất kì cái gì người đó muốn vẽ. Tất nhiên bất kì điều gì người đó vẽ cũng sẽ điên, mang tính điên. Nhưng sau khi vẽ vài thứ điên khùng, bạn sẽ ngạc nhiên rằng người đó đang trở lại lành mạnh. Việc vẽ đó đã giống như việc thanh tâm; nó là việc nôn mửa ra. Hệ thống của người đó đã tống nó ra. Điều đó đã giúp ích cho người đó, điều đó là tốt cho người đó, nhưng nó không tốt cho người khác.

Nhìn Michelangelo và bạn có thể thiền hàng giờ. Và bạn càng thiền nhiều thì bạn sẽ càng trở nên im lặng và an bình hơn. Đó không phải là nôn mửa. Ông ấy đã đem tới cái gì đó từ cái không biết. Nó không phải là điên loạn của ông ấy mà ông ấy đã tống ra ngoài hệ thống của mình qua việc vẽ hay qua điêu khắc hay qua thơ ca hay qua âm nhạc. Không phải ông ấy bị ốm và ông ấy muốn gạt bỏ cái ốm bệnh của mình, không. Chính là điều đối lập lại: ông ấy mang thai, không ốm yếu. Ông ấy mang thai - mang thai với Thượng đế. Cái gì đó đã bắt rễ vào trong bản thể ông ấy và ông ấy muốn chia sẻ nó. Đó là việc đơm hoa kết trái, sự hoàn thành. Ông ấy đã sống theo cách sáng tạo, ông ấy đã yêu cuộc sống theo cách sáng tạo. Ông ấy đã cho phép cuộc sống đi vào trong bệ thờ sâu nhất của mình, và ở đó ông ấy đã trở nên mang thai với cuộc sống, hay mang thai với Thượng đế. Và khi bạn mang thai bạn phải cho sinh thành.

Michelangelo cho sinh thành. Phật cho sinh thành. Beethoven cho sinh thành, cái gì đó có giá trị mênh mông đã choàng xuống qua ông ấy. Lắng nghe nhạc của ông ấy bạn sẽ được biến đổi, bạn sẽ được đưa sang thế giới khác. Ông ấy sẽ cho bạn vài thoáng nhìn về bờ bên kia.

Chín mươi chín phần trăm nghệ thuật hiện đại là bệnh hoạn. Nếu nó biến mất khỏi thế giới này thì điều đó sẽ là rất lành mạnh, điều đó sẽ có ích. Điều đó sẽ không hại gì. Tâm trí hiện đại là tâm trí giận dữ - giận bởi vì bạn không thể tiếp xúc được với bản thể mình, giận vì bạn đã đánh mất mọi ý nghĩa, giận vì bạn không biết ý nghĩa là gì.

Một trong những cuốn sách nổi tiếng của Jean Paul Sartre là Sự kinh tởm. Đó là trạng thái của tâm trí hiện đại; tâm trí hiện đại đang bị nôn mửa, trong sự hành hạ lớn lao. Và hành hạ là sáng tạo riêng của nó.

Friedrich Nietzsche đã tuyên bố Thượng đế chết rồi. Ngày ông ấy tuyên bố Thượng đế chết, ông ấy bắt đầu trở thành mất trí - bởi việc tuyên bố của bạn rằng Thượng đế chết... Thượng đế không thể chết chỉ bởi tuyên bố của bạn. Tuyên bố của bạn chẳng làm ra khác biệt nào. Nhưng khoảnh khắc Nietzsche bắt đầu tin vào điều này, rằng Thượng đế chết, ông ấy bắt đầu chết, ông ấy bắt đầu mất đi sự lành mạnh của mình. Một thế giới mà không có Thượng đế thì nhất định là một thế giới mất trí - bởi vì một thế giới không Thượng đế sẽ không có hoàn cảnh nào để trở thành có ý nghĩa.

Quan sát mà xem... Bạn đọc thơ; những lời trong thơ chỉ có ý nghĩa trong ngữ cảnh của bài thơ này. Nếu bạn lấy từ ra khỏi ngữ cảnh, nó không có nghĩa. Nó hay thế trong ngữ cảnh đó! Bạn cắt ra một mẩu từ bức tranh - và nó không có nghĩa nào, bởi vì nó đã mất gốc rễ của nó trong ngữ cảnh. Trong bức tranh nó đẹp thế; nó hoàn thành mục đích nào đó, nó có nghĩa nào đó. Bây giờ nó không có nghĩa.

Bạn có thể lấy đi một con mắt của tôi ra khỏi hốc mắt, và nó sẽ là con mắt chết, và sẽ không có nghĩa gì trong nó cả. Ngay bây giờ nếu bạn nhìn vào mắt tôi, có ý nghĩa lớn lao - bởi vì chúng tồn tại trong toàn bộ ngữ cảnh của tôi; chúng là một phần của bài thơ, chúng là một phần của bức tranh lớn hơn. Nghĩa bao giờ cũng tham chiếu tới cái gì đó lớn hơn bạn.

Ngày Nietzsche tuyên bố không có Thượng đế và Thượng đế chết rồi, ông ấy trượt ra ngoài ngữ cảnh. Không có Thượng đế con người không thể có ý nghĩa nào, bởi vì con người là thế giới nhỏ trong thiên sử thi vĩ đại của Thượng đế, con người là nốt nhạc nhỏ trong dàn nhạc vĩ đại của Thượng đế. Nốt nhạc nhỏ đó sẽ đơn điệu; nó sẽ làm chói tai, nó sẽ làm phát điên.

Đó là điều đã xảy ra cho Nietzsche. Ông ấy đã tin tưởng thực vào phát biểu của riêng mình. Ông ấy là người tin tưởng - người tin tưởng vào bản thân mình. Ông ấy tin rằng Thượng đế chết rồi và con người được tự do - nhưng ông ấy đơn giản trở thành điên, không tự do. Và thế kỉ này đã đi theo Friedrich Nietzsche theo cả nghìn lẻ một cách, và toàn thể thế kỉ này đã phát điên. Chưa bao giờ có thế kỉ nào khác trong lịch sử thế giới lại điên như thế kỉ này. Các nhà lịch sử tương lai sẽ viết về nó như thời đại của điên loạn. Nó điên loạn - điên bởi vì nó đã đánh mất ngữ cảnh.

Tại sao bạn lại sống? Để làm gì? Bạn nhún vai. Điều đó chẳng giúp gì nhiều. Bạn có vẻ ngẫu nhiên. Nếu như bạn không có đó, sẽ chẳng có gì khác cả. Nếu bạn có đó, đâu có gì khác biệt. Bạn chẳng tạo ra khác biệt gì! Bạn là không cần thiết. Bạn chẳng hoàn thành cái gì ở đây cả. Hiện hữu hay không hiện hữu của bạn tất cả đều như nhau thôi. Làm sao bạn có thể cảm thấy hạnh phúc được, và làm sao bạn có thể vẫn còn lành mạnh được? Ngẫu nhiên sao? chỉ ngẫu nhiên thôi à? Thế thì bất kì cái gì cũng đúng, thế thì giết người cũng đúng! Bởi vì nếu mọi thứ đều ngẫu nhiên thì điều bạn làm phỏng có thành vấn đề gì? Không hành động nào mang giá trị nào - thế thì tự tử là tốt, thế thì giết người là tốt, thế thì mọi thứ đều tốt cả!

Nhưng mọi thứ lại không tốt - bởi vì có vài điều cho bạn vui và vài điều làm cho bạn khổ, vài điều tạo ra cực lạc và vài điều chỉ tạo ra phiền não, vài điều chỉ tạo ra địa ngục và vài điều đưa bạn tới thế giới của cõi trời. Không, tất cả mọi thứ đều không như nhau. Nhưng một khi Thượng đế bị coi là đã chết, một khi bạn mất tiếp xúc với cái toàn bộ - và Thượng đế thì không là gì ngoài tính toàn bộ... Sóng là gì khi nó đã quên mất về đại dương? Thế thì nó không là gì cả. Nó là con sóng triều vĩ đại khi nó là một phần của đại dương.

Nhớ lấy: nghệ thuật thực sự nảy sinh ra từ tính tôn giáo thực, bởi vì tính tôn giáo đang tìm ra đồng cảm với thực tại. Một khi bạn đang trong đồng cảm với thực tại, thế thì nghệ thuật thực nảy sinh.

Bạn nói, "Tôi tự hỏi - thế giới sẽ ra sao nếu không có nghệ thuật và tưởng tượng sáng tạo, điều làm cho nghệ thuật thành có thể?"

Nếu chín mươi phần trăm cái gọi là nghệ thuật biến mất, thế giới sẽ giàu có hơn nhiều - bởi vì thế thì sẽ có nghệ thuật thực. Nếu những kẻ giả điên này ra đi... và tôi không nói rằng họ không nên vẽ - họ nên vẽ, nhưng như việc trị liệu thôi. Đó là việc trị liệu. Picasso cần trị liệu; ông ấy nên vẽ, nhưng những bức vẽ đó không nên đem trưng bày - hay nếu chúng có đem ra trưng bày, thì chỉ trong nhà thương điên. Chúng có thể giúp cho vài người điên có sự giảm nhẹ; chúng là việc thanh tâm.

Nghệ thuật thực ngụ ý cái gì đó giúp cho bạn mang tính thiền. Gurdjieff hay gọi nghệ thuật thực là nghệ thuật mục tiêu - điều đó giúp cho bạn thiền. Taj Mahal là nghệ thuật thực. Bạn đã tới Taj Mahal chưa? Đó là chỗ đáng đi. Vào đêm trăng tròn, chỉ ngồi đó và nhìn vào kiệt tác tuyệt vời đó bạn sẽ được rót đầy với cái không biết. Bạn sẽ bắt đầu cảm thấy cái gì đó từ cõi bên kia.

Tôi muốn kể cho bạn câu chuyện về làm sao Taj Mahal lại đi vào sự tồn tại.

Một người tới từ Shiraz, Iran. Ông ấy có tên là Shirazi bởi vì ông ấy đã tới từ Shiraz. Ông ấy là nghệ sĩ lớn, nổi tiếng nhất từ Shiraz. Và ông ấy là con người kì diệu; cả nghìn lẻ một câu chuyện đã truyền tới trước khi ông ấy tới Ấn Độ. Shah Jehan là hoàng đế; ông ấy biết về những câu chuyện này. Ông ấy đã mời nhà điêu khắc này tới triều đình. Và Shirazi là nhà huyền môn, nhà huyền môn Sufi.

Shah Jehan hỏi ông ấy, "Ta đã nghe nói rằng ông có thể tạc tượng toàn bộ thân thể đàn ông hay đàn bà chỉ bằng việc chạm vào tay người đó và không nhìn vào mặt người đó chút nào. Điều đó đúng không?"

Shirazi nói, "Cho tôi một cơ hội đi - nhưng với một điều kiện. Đưa hai mươi nhăm phụ nữ đẹp trong cung điện của bệ hạ ra sau bức màn, sau tấm rèm. Để tay của họ đơn giản sẵn có đấy cho tôi ở ngoài bức màn. Tôi sẽ chạm vào tay họ và tôi sẽ chọn ra một người - nhưng với một điều kiện. Bất kì ai được chọn ra tôi sẽ làm ra một hình ảnh: nếu hình ảnh này trở thành tuyệt đối đúng và bệ hạ thoả mãn, toàn thể triều đình bệ hạ thoả mãn, thì người đàn bà đó sẽ là người đàn bà của tôi, tôi muốn lấy cô ấy, tôi muốn một người đàn bà trong cung điện bệ hạ."

Shah Jehan đã sẵn sàng. Ông ấy nói, "Điều đó là hoàn toàn được."

Hai mươi nhăm cô gái nô lệ, những cô gái nô lệ đẹp, được đặt ở đằng sau tấm rèm. Ông ấy đi từ người thứ nhất tới người thứ hai tới người thứ hai mươi nhăm, bác bỏ tất cả. Chỉ đùa thôi, con gái của Shah Jehan, chỉ để đùa nghịch, cũng đứng đằng sau tấm màn - khi hai mươi nhăm người đã bị bác bỏ, cô ấy thò tay mình ra. Ông ấy chạm vào tay cô ta, nhắm mắt lại, cảm thấy cái gì đó, và nói, "Đây là bàn tay của tôi." Và ông ấy đeo cái vòng vào tay cô con gái để biểu lộ rằng "Nếu tôi thành công, thế thì cô ấy sẽ là vợ tôi."

Hoàng đế đi tới sau tấm màn và ông ta khiếp hãi: "Con bé này đã làm gì thế?" Nhưng ông ấy cũng không lo nghĩ mấy bởi vì gần như không thể nào làm được ra bức tượng về toàn thể người phụ nữ chỉ bởi việc chạm vào tay cô ấy.

Trong ba tháng, Shirazi biến mất trong một căn phòng; ông ấy làm việc ngày đêm. Và sau ba tháng ông ấy mời hoàng đế và cả triều đình tới - và hoàng đế không thể nào tin được vào mắt mình. Nó đích xác hệt như người thật! Ông này quả khả năng. Hoàng đế không thể nào tìm ra lỗi nào - ông ấy muốn tìm ra một lỗi, bởi vì ông ấy không sẵn lòng cho con gái mình lấy một người nghèo, nhưng bây giờ không còn cách nào. Ông ấy đã trót nói lời của mình rồi.

Ông ấy bối rối thế, và vợ ông ấy cũng bối rối tới mức bà vợ ngã bệnh. Bà ấy đang mang thai, và trong khi sinh con, bà ấy chết - do phiền não. Tên bà ấy là Mumtaj Mahal.

Và nhà vua trở nên thất vọng thế - làm sao cứu được con gái mình? Ông ấy mời nhà điêu khắc tới và ông ấy kể cho nhà điêu khắc toàn thể câu chuyện, "Đó đã là một sai lầm. Và đứa con gái này chịu trách nhiệm, nhưng xem tình huống của ta đi: vợ ta đã chết và lí do là ở chỗ bà ấy không thể đồng ý được với ý tưởng con gái mình sẽ đi với một người nghèo. Mà ta cũng không thể đồng ý được - mặc dầu ta đã nói ra lời hứa của mình."

Nhà điêu khắc, nhà nghệ sĩ này nói, "Không cần phải lo nghĩ thế. Bệ hạ đáng phải nói với tôi, tôi sẽ trở về. Không cần lo nghĩ. Tôi sẽ không yêu cầu đâu; tôi sẽ quay lại Shiraz. Quên điều đó đi!"

Nhưng nhà vua nói, "Điều đó là không thể được; ta không thể quên được. Ta đã nói lời hứa của mình, lời của ta. Ông hãy đợi. Để ta nghĩ đã."

Tể tướng đề xuất, "Bệ hạ làm điều này: hoàng hậu đã chết và đây là nghệ sĩ lớn và ông ấy đã tự chứng tỏ mình - bảo ông ấy làm một mô hình để kỉ niệm hoàng hậu. Ông ấy tạo ra một nấm mồ đẹp, đẹp nhất trên thế giới. Và ra điều kiện là nếu bệ hạ chấp nhận mô hình của ông ấy, thế thì bệ hạ sẽ phải gả con gái cho ông ấy. Nếu bệ hạ không chấp nhận, câu chuyện kết thúc."

Vấn đề này được nói lại với nhà nghệ sĩ và ông ấy sẵn lòng; ông ấy nói, "Hoàn toàn tốt."

"Bây giờ," nhà vua nghĩ, "mình sẽ không bao giờ chấp thuận."

Và Shirazi đã làm nhiều mô hình, và chúng đẹp thế, nhưng dầu vậy nhà vua vẫn cứ nhất quyết và ông ấy nói, "Không, không, không."

Tể tướng trở nên thất vọng, bởi vì những mô hình đó là hiếm hoi. Từng mô hình đều hiếm hoi, và nói không với nó là không công bằng. Ông ấy cho lan truyền tin đồn khắp nơi, đặc biệt cho nhà điêu khắc, "Cô gái mà ông đã chọn, con gái của vua, đang ốm." Trong một tuần cô ấy đã ốm, thế rồi tuần tiếp cô ấy trở nên rất ốm, và tuần thứ ba cô ấy chết - đấy là tin đồn.

Khi tin đồn lan tới nhà điêu khắc rằng cô gái đã chết, ông ấy làm ra mô hình cuối cùng. Cô gái đã chết, trái tim ông ấy tan vỡ. Và đây là sẽ là mô hình cuối cùng. Ông ấy đem nó tới cho nhà vua và nhà vua đã chấp nhận nó. Mưu mẹo là cô gái đã chết cho nên không có vấn đề cưới xin.

Mô hình đó trở thành Taj Mahal. Mô hình đó đã được nhà huyền môn Sufi tạo ra. Làm sao ông ấy có thể tạo ra hình ảnh của người đàn bà chỉ bằng việc chạm vào tay cô ấy một lần? Ông ấy phải đã trong loại không gian khác. Ông ấy phải đã trong khoảnh không có tâm trí. Khoảnh khắc đó phải đã là khoảnh khắc của thiền lớn lao. Trong khoảnh khắc đó ông ấy đã chạm tới năng lượng, và chỉ bằng việc cảm thấy năng lượng này ông ấy đã tạo ra toàn thể hình dáng.

Bây giờ điều này có thể được hiểu logic hơn nhiều bởi vì có kĩ thuật chụp ảnh Kirlian, bởi vì từng năng lượng đều có hình mẫu riêng của nó. Khuôn mặt bạn không phải là ngẫu nhiên; khuôn mặt bạn có đó bởi vì bạn có một hình mẫu năng lượng đặc biệt. Mắt bạn, tóc bạn, mầu da bạn, tất cả đều có đó bởi vì bạn có hình mẫu năng lượng đặc biệt.

Thiền nhân đã làm việc trên các hình mẫu năng lượng qua nhiều thời đại. Một khi bạn biết hình mẫu năng lượng này, bạn biết toàn thể tính cá nhân. Bạn biết những chi tiết, tất cả - bởi vì chính hình mẫu năng lượng tạo ra mọi thứ. Bạn biết quá khứ, bạn biết hiện tại, bạn biết tương lai. Một khi hình mẫu năng lượng này đã được hiểu, thì có chìa khoá, hạt nhân, của tất cả mọi cái đã xảy ra cho bạn và mọi cái đang sắp xảy ra.

Đây là nghệ thuật mục tiêu. Người này đã tạo ra Taj Mahal.

Vào đêm trăng tròn, thiền trên Taj Mahal, trái tim bạn sẽ thổn thức với tình yêu mới. Taj Mahal mang năng lượng của tĩnh lặng tình yêu. Mumtaj Mahal đã chết bởi vì tình yêu của bà ấy với con gái; Shah Jehan đau khổ bởi vì tình yêu; và Shirazi này đã tạo ra mô hình này bởi vì ông ấy đau khổ sâu sắc, ông ấy đã bị thương nặng, bởi vì tương lai của ông ấy đen tối. Người đàn bà ông ấy đã chọn không còn nữa. Từ tình yêu lớn lao và tính thiền, Taj Mahal đã đi vào sự tồn tại. Nó vẫn còn mang rung động. Nó không phải là đài kỉ niệm bình thường, nó là đặc biệt. Các kim tự tháp ở Ai Cập cũng vậy, và có nhiều, nhiều thứ trên thế giới đã được tạo ra như nghệ thuật mục tiêu - được tạo ra bởi những người biết điều họ đang làm, được tạo ra bởi các thiền nhân lớn. Upanishad cũng như vậy, các kinh Phật cũng như vậy, các phát biểu của Jesus cũng như vậy.

Nhớ lấy, với tôi, tính sáng tạo nghĩa là tính thiền, tính sáng tạo nghĩa là trạng thái của vô trí - thế thì Thượng đế giáng xuống bạn, thế thì tình yêu tuôn chảy ra từ bạn. Thế thì cái gì đó xảy ra từ sự hiện diện tốt lành của bạn, tràn ngập sự hiện diện tốt lành. Đó là phúc lành. Bằng không nó là nôn mửa.

Bạn có thể vẽ, bạn có thể viết như cách trị liệu, nhưng đốt bức vẽ của bạn đi và bài thơ của bạn đi. Bạn không cần trưng bày thứ nôn mửa của bạn cho mọi người. Và những người trở nên quan tâm tới bãi mửa của bạn, bản thân họ cũng phải ốm yếu; họ cũng cần trị liệu - bởi vì nếu bạn trở nên quan tâm vào cái gì đó, bạn đang bầy tỏ bạn là ai, bạn ở đâu.

Tôi hoàn toàn ủng hộ cho nghệ thuật mục tiêu, tôi hoàn toàn ủng hộ cho nghệ thuật mang tính thiền, tôi hoàn toàn ủng hộ cho cái gì đó từ Thượng đế giáng xuống. Bạn trở thành phương tiện.

Và bạn nói, "Một Tolstoy không bao giờ có thể trở thành vị phật." Ai đã bảo bạn điều này? Một Tolstoy có thể trở thành vị Phật chứ, sẽ trở thành vị Phật sớm hoặc muộn.

Và bạn nói, "Nhưng thế thì vị Phật có thể viết Chiến tranh và Hoà bình không"? Và vị Phật đang làm gì? Tôi đang làm gì ở đây? Bạn đã bao giờ đọc Gita của Krishna chưa? - nó là Chiến tranh và Hoà bình đấy! Tolstoy có thể viết Chiến tranh và Hoà bình, Anna Karenina và nhiều sách hay khác, không phải bởi vì ông ấy là Tolstoy mà bất chấp việc là một Tolstoy. Dostoyevsky đã viết Thằng Ngốc, Tội ác và Trừng phạt, và, một trong những cuốn sách hay nhất, Anh em nhà Karamazov - không phải bởi vì ông ấy là Dostoyevsky mà vì bất chấp việc là điều đó. Cái gì đó của ông ấy là cái của vị Phật; cái gì đó của ông ấy mang tính tôn giáo mênh mông. Dostoyevsky là người tôn giáo - không toàn bộ, nhưng một phần, một mảnh của ông ấy, mang tính tôn giáo mênh mông. Đó là lí do tại sao Anh em nhà Karamazov lại có chất hay như vậy trong nó. Điều đó không phải bắt nguồn từ người bình thường đâu; điều gì đó đã tới từ điều thiêng liêng đấy. Dostoyevsky đã từng bị Thượng đế chiếm hữu, ông ấy đã trở thành phương tiện. Tất nhiên, ông ấy không phải là phương tiện hoàn chỉnh, biết bao nhiêu điều diễn ra từ tâm trí ông ấy. Dầu vậy, Anh em nhà Karamazov vẫn hay. Nếu như không có Dostoyevsky, không kí ức, không bản ngã, không bệnh hoạn, thế thì Anh em nhà Karamazov đã là một kinh Tân Ước mới; nó đã là cùng kiểu như các phát biểu của Jesus hay như Kinh Kim Cương hay Upanishad. Ông ấy có phẩm chất này!

2. Thất vọng ở lúc sau

Khi tôi viết một cuốn sách, tôi tràn đầy năng lượng tuôn chảy và vui vẻ. Nhưng, khi tôi đã hoàn thành, tôi lại trống rỗng và chết đến mức tôi khó mà có thể chịu đựng được để sống. Bây giờ tôi vừa mới bắt đầu viết, nhưng dường như tôi có thể có được vui vẻ khi tôi làm việc, trong thiền tôi được tràn ngập với nỗi sợ cái trống rỗng mà tôi trông đợi hàng tháng từ bây giờ.

Câu hỏi này là từ một người viết tiểu thuyết. Tôi đã đọc qua tác phẩm của cô ấy và chúng hay đấy. Cô ấy có mẹo về điều đó - cách kể chuyện hay, cách thêu dệt ra câu chuyện. Và kinh nghiệm này không phải chỉ là của cô ấy, nó là kinh nghiệm của hầu hết mọi người, những người đang trong mọi cách sáng tạo. Nhưng dầu vậy, cách diễn giải này là sai, và nhiều điều phụ thuộc vào diễn giải này.

Khi người phụ nữ mang bầu, cô ấy tràn đầy. Tất nhiên, khi đứa trẻ được sinh ra, cô ấy sẽ cảm thấy trống rỗng. Cô ấy sẽ thiếu đi cuộc sống mới đã từng đập rộn và quẫy đạp trong bụng cô ấy. Đứa trẻ đã ra rồi; cô ấy sẽ cảm thấy trống rỗng trong vài ngày. Nhưng cô ấy có thể yêu đứa trẻ, và cô ấy có thể quên cái trống rỗng của mình trong việc yêu đứa trẻ và giúp đứa trẻ trưởng thành. Với người nghệ sĩ, ngay cả điều đó cũng là không thể. Bạn vẽ, hay bạn viết bài thơ hay tiểu thuyết; một khi có được kết thúc rồi bạn cảm thấy trống rỗng sâu sắc. Và bạn có thể làm gì với cuốn sách đó bây giờ? Cho nên người nghệ sĩ ở vào tình huống khó khăn hơn người mẹ. Một khi sách xong rồi, nó là hết - bây giờ nó không cần giúp đỡ, không cần tình yêu. Nó sẽ không phát triển. Nó là hoàn hảo, nó được sinh ra đã trưởng thành. Bức tranh được hoàn thành, nó hết rồi. Người nghệ sĩ cảm thấy rất trống rỗng. Nhưng người ta phải nhìn vào trong cái trống rỗng này. Đừng nói rằng bạn đã cạn kiệt rồi; thay vì thế, hãy nói rằng bạn đã được sử dụng hết. Đừng nói rằng bạn trống rỗng, bởi vì từng cái trống rỗng cũng có cái đầy đặn trong nó. Bạn đang nhìn từ đầu sai.

Bạn đi vào phòng, có đồ đạc, tranh ảnh trên tường và mọi thứ. Những thứ đó và những bức tranh bị bỏ đi và bạn đi vào phòng - bây giờ bạn sẽ nói gì? Bạn sẽ gọi nó là căn phòng trống rỗng hay bạn sẽ gọi nó là căn phòng tràn đầy? 'Phòng' nghĩa là trống rỗng; 'phòng' nghĩa là không gian. Với đồ đạc được bỏ đi, căn phòng lại đầy. Khi đồ đạc có đó căn phòng không đầy; nhiều thứ của nó bị thiếu bởi vì đồ đạc. Bây giờ căn phòng là đầy, cái trống rỗng là toàn bộ.

Bạn có thể nhìn từ hai đầu. Nếu bạn quá thiên về đồ đạc, đến mức bạn chỉ có thể nhìn vào ghế và bàn và tràng kỉ và bạn không thể thấy tính chất không gian của căn phòng, thế thì sẽ có cảm giác trống rỗng. Nhưng nếu bạn biết, và bạn có thể thấy cái trống rỗng một cách trực tiếp, bạn sẽ cảm thấy cực kì tự do, điều không có đó trước đây bởi vì căn phòng bị bỏ qua; bạn không thể đi vào trong nó. Cứ chất vào nó bằng đồ đạc và sẽ tới một lúc mà bạn không thể vào được bởi vì toàn thể căn phòng mất rồi.

Có lần tôi ở trọ trong nhà của một người rất giàu. Ông ấy rất giàu, nhưng lại không có khiếu thẩm mĩ. Nhà ông ấy đầy tới mức nó không phải là nhà chút nào. Bạn không thể di chuyển được, và bạn bao giờ cũng sợ di chuyển bởi vì ông ấy có những đồ cổ quí giá. Bản thân ông ấy cũng sợ di chuyển. Người hầu thường xuyên lo nghĩ. Ông ấy cho tôi chỗ tốt nhất, căn phòng đẹp nhất trong nhà ông ấy. Và tôi bảo ông ấy, "Đây không phải là phòng, nó là bảo tàng. Xin cho tôi cái gì đó nơi tôi có thể di chuyển được; thế thì nó mới là căn phòng. Đây không phải là căn phòng. Căn phòng gần như đã biến mất!"

Căn phòng nghĩa là tự do mà không gian cho bạn. Khi bạn làm việc, sáng tạo, tâm trí bạn đầy nhiều thứ. Tâm trí bị sử dụng. Viết một tiểu thuyết tâm trí bị bận rộn, viết bài thơ tâm trí bị bận rộn. Có quá nhiều đồ đạc trong nó, đồ đạc của tâm trí - ý nghĩ, tình cảm, nhân vật. Thế rồi cuốn sách được hoàn thành. Bỗng nhiên, đồ đạc đi đâu hết. Bạn cảm thấy trống rỗng. Nhưng không có nhu cầu trở nên buồn. Nếu bạn nhìn nó đúng - đây là điều Phật gọi là chính kiến, samyak drasthi - nếu bạn nhìn đúng bạn sẽ cảm thấy được thoát khỏi ám ảnh, bận rộn. Bạn sẽ cảm thấy rõ ràng lần nữa, nhẹ gánh. Những nhân vật đó của tiểu thuyết không còn đi lại ở đó nữa. Những vị khách đó đã đi rồi và người chủ hoàn toàn thoải mái. Tận hưởng nó đi! Diễn giải sai của bạn đang tạo ra nỗi buồn cho bạn, và nỗi sợ. Tận hưởng nó đi - bạn chưa bao giờ quan sát rằng khi một khách tới bạn cảm thấy mừng, và khi người đó đi bạn cảm thấy mừng hơn? Người đó để bạn một mình, và bây giờ bạn có không gian riêng của mình.

Viết tiểu thuyết gây bực mình vì biết bao nhiêu nhân vật trở thành khách, và từng nhân vật lại có cách thức riêng của mình. Không phải bao giờ nhân vật cũng tuân theo nhà văn đâu, không phải bao giờ cũng vậy. Đôi khi nhân vật đó có cách thức riêng của mình và nhân vật đó buộc nhà văn đi theo hướng nào đó. Nhà văn bắt đầu tiểu thuyết nhưng chẳng bao giờ kết thúc được nó. Những nhân vật đó tự mình kết thúc nó.

Điều đó cũng giống như việc cho sinh thành ra đứa con. Bạn có thể cho sinh thành ra đứa con, nhưng thế rồi đứa con bắt đầu đi theo cách riêng của nó. Người mẹ có thể đã nghĩ rằng đứa con sẽ trở thành bác sĩ, và nó lại trở thành kẻ lêu lổng - bạn có thể làm được gì? Bạn cố gắng vất vả, nhưng nó lại trở thành kẻ lêu lổng.

Cùng điều đó xảy ra khi bạn viết tiểu thuyết: bạn bắt đầu với một nhân vật - bạn định làm ra thánh nhân từ người đó và người đó trở thành tội nhân. Và tôi nói với bạn, điều đó đích xác hệt như nó đã xảy ra với đứa con: người mẹ lo nghĩ, người viết tiểu thuyết lo nghĩ. Người viết tiểu thuyết muốn nhân vật trở thành thánh nhân và nhân vật trở thành tội nhân, và không thể làm được cái gì cả. Người viết cảm thấy gần như bất lực, gần như bị các nhân vật này dùng hết rồi. Họ là những nhân vật tưởng tượng - nhưng một khi bạn hợp tác với họ, họ trở thành gần như thực. Và chừng nào bạn còn chưa gạt bỏ họ, bạn sẽ chẳng bao giờ an bình cả. Nếu bạn có cuốn sách trong tâm trí mình, nó phải được viết ra để loại bỏ nó đi. Đó là việc thanh tâm, nó làm nhẹ gánh bản thân bạn.

Đó là lí do tại sao người sáng tạo gần như bao giờ cũng phát điên. Người xoàng xĩnh chẳng bao giờ phát điên cả - họ chẳng có gì để phát điên, họ chẳng có gì làm điên loạn trong cuộc sống của mình. Người sáng tạo gần như bao giờ cũng phát điên. Một Van Gogh sẽ phát điên, một Nijinsky sẽ phát điên, một Nietzsche sẽ phát điên. Sao lại xảy ra chuyện họ phát điên? - bởi vì họ bận tâm thế, biết bao nhiêu điều đang xảy ra trong tâm trí. Họ không có không gian của riêng mình bên trong họ. Cho nên nhiều người đang ở đây, tới và đi. Gần như là họ ngồi trên đường và giao thông tiếp tục. Từng nghệ sĩ đều phải trả giá cho điều đó.

Nhớ lấy, khi cuốn sách được hoàn thành và đứa trẻ được sinh ra, cảm thấy hạnh phúc đi - tận hưởng không gian đó, bởi vì sớm hay muộn cuốn sách mới sẽ nảy sinh. Như lá mọc ra từ cây, như hoa bắt nguồn từ cây - đích xác giống như thế, bài thơ bắt nguồn từ nhà thơ, tiểu thuyết bắt nguồn từ nhà viết tiểu thuyết, bức tranh bắt nguồn từ hoạ sĩ, bài ca được sinh ra từ ca sĩ. Không cái gì có thể được làm, chúng là tự nhiên.

Cho nên đôi khi vào mùa thu khi lá vàng rơi và cây đứng trơ trọi một mình, khẳng khiu không lá trên nền trời, tận hưởng nó. Đừng gọi nó là cái trống rỗng, gọi nó là kiểu tràn đầy mới - tràn đầy với bản thân bạn. Không có ai để can thiệp vào, bạn nghỉ ngơi trong bản thân mình. Thời kì nghỉ ngơi đó là cần thiết cho mọi nghệ sĩ; nó là quá trình tự nhiên. Thân thể của từng người mẹ cần nghỉ ngơi một chút. Một đứa trẻ được sinh ra và đứa khác được thụ thai... điều đó vẫn xảy ra, nó vẫn xảy ra ở phương Đông, và ở Ấn Độ nó vẫn tiếp tục. Người phụ nữ gần như già đi vào tuổi ba mươi, liên tục cho sinh ra trẻ con mà không lỗ hổng nào để phục hồi, để làm trẻ lại con người mình, để được một mình. Cô ấy bị cạn kiệt, mệt mỏi. Tuổi trẻ của cô ấy, tươi tắn của cô ấy, cái đẹp của cô ấy, đã mất đi rồi. Một thời kì nghỉ ngơi là cần khi bạn cho sinh thành ra đứa con. Bạn cần thời kì nghỉ ngơi. Và nếu đứa con sẽ là người nổi tiếng, thế thì một thời kì nghỉ dài là cần thiết. Người nổi tiếng chỉ sinh một con, bởi vì toàn thể bản thể đều được bao gồm vào trong đó. Và thế rồi có thời kì nghỉ ngơi, thời kì nghỉ ngơi dài để phục hồi, để lấy lại năng lượng mà bạn đã trao cho đứa con - để lấy lại bản thân mình sao cho cái gì đó có thể được sinh ra từ bạn.

Khi bạn viết tiểu thuyết, nếu nó thực sự là tác phẩm nghệ thuật lớn, bạn sẽ cảm thấy trống rỗng. Nếu nó chỉ là một loại tạp chí mà bạn đã làm vì tiền bởi vì nhà xuất bản nào đó đã làm hợp đồng với bạn, thế thì nó không sâu sắc lắm. Bạn sẽ không cảm thấy trống rỗng sau nó, bạn sẽ vẫn còn như cũ. Sáng tạo của bạn càng sâu hơn, trống rỗng của bạn sau đó sẽ càng lớn hơn. Cơn bão càng lớn, im lặng tới trong náo động của nó càng lớn. Tận hưởng điều đó. Cơn bão là tốt, tận hưởng nó; và im lặng đi theo sau nó cũng tốt. Ngày là tốt, đầy hoạt động; đêm cũng rất đẹp, đầy những bất hoạt, thụ động, trống rỗng. Người ta ngủ. Vào buổi sáng bạn lại trở về với thế giới với đầy năng lượng làm việc, hành động.

Đừng sợ buổi đêm. Nhiều người sợ đêm. Có một sannyasin, tôi đã cho cô ấy cái tên "Nisha." 'Nisha' nghĩa là đêm. Cô ấy cứ tới tôi mãi, và cô ấy nói, "Xin thầy đổi tên cho tôi.'' Tại sao? Cô ấy nói, "Tôi sợ đêm lắm. Sao thầy cho tôi chính cái tên này, trong số bao nhiêu là tên? Đổi nó đi." Nhưng tôi không định thay đổi điều đó. Tôi đã cho cô ấy cái tên này với chủ ý, bởi vì nỗi sợ của cô ấy - nỗi sợ của cô ấy về bóng tối, nỗi sợ của cô ấy về sự thụ động, nỗi sợ của cô ấy về thảnh thơi, nỗi sợ của cô ấy về buông xuôi. Đó là mọi điều được chỉ ra trong từ 'đêm', nisha.

Người ta cũng phải chấp nhận ban đêm. Chỉ thế thì bạn mới trở thành đầy đủ, tràn đầy, toàn thể.

Cho nên đừng phật ý về điều đó. Cái trống rỗng đó là đẹp, còn đẹp hơn ban ngày của sáng tạo - bởi vì sáng tạo đó bắt nguồn từ cái trống rỗng, những bông hoa đó bắt nguồn từ cái trống rỗng. Tận hưởng cái trống rỗng đó, cảm thấy phúc lạc và ân huệ đi. Chấp nhận nó, đón chào nó như phúc lành và chẳng mấy chốc bạn sẽ thấy rằng bạn lại tràn đầy hoạt động và một cuốn sách lớn hơn sẽ được sinh ra. Đừng lo nghĩ về điều đó. Không có nhu cầu lo nghĩ. Đó chỉ là diễn giải sai về một hiện tượng đẹp.

Nhưng con người sống trong lời. Một khi bạn gọi một thứ bằng tên sai, bạn bắt đầu sợ điều đó. Rất, rất chính xác vào. Bao giờ cũng nhớ điều bạn nói, bởi vì việc nói không chỉ là việc nói; nó có liên hệ sâu sắc trong bản thể bạn. Một khi bạn gọi một thứ là trống rỗng, bạn trở nên sợ hãi - chính từ này.

Ở Ấn Độ, chúng ta có từ hay hơn cho trống rỗng. Chúng ta gọi nó là shunya. Chính từ này là tích cực; nó chẳng có liên quan gì tới tính phủ định trong nó. Nó là đẹp, nó đơn giản nghĩa là không gian, không có biên giới - shunya. Và chúng ta đã gọi mục đích tối thượng là shunya. Phật nói khi bạn trở thành shunya, khi bạn trở thành tuyệt đối không là gì, cái không, thì bạn đã đạt tới.

Thi sĩ, nghệ sĩ, hoạ sĩ, là người đang trên đường trở thành nhà huyền môn. Tất cả các hoạt động nghệ thuật đều đang trên đường hướng tới tính tôn giáo. Khi bạn tích cực, viết ra bài thơ, bạn đang trong tâm trí. Khi nhà thơ được sinh ra, bạn được dùng, và tâm trí nghỉ ngơi. Dùng những khoảnh khắc này để rơi vào bản thể bạn. Đừng gọi nó là cái trống rỗng, gọi nó là cái toàn thể; gọi nó là sự hiện hữu, gọi nó là chân lí, gọi nó là Thượng đế. Và thế thì bạn sẽ có khả năng cảm thấy phúc lành của nó.

3. Sáng tạo và con lai

Tôi cảm thấy thôi thúc thể hiện nghệ thuật và đã qua một lớp huấn luyện cổ điển, có kỉ luật về âm nhạc phương tây. Thường tôi cảm thấy huấn luyện này cầm tù tính sáng tạo tự phát và tôi đã thấy rất khó thực hành đều đặn về sau. Tôi không chắc biết phẩm chất của nghệ thuật đúng là gì, và bằng quá trình nào người nghệ sĩ tạo ra và chuyển giao nghệ thuật đích thực. Làm sao tôi có thể cảm thấy người nghệ sĩ trong tôi?

Ngược đời của nghệ thuật là ở chỗ bạn phải học kỉ luật của nó và thế rồi bạn phải quên nó đi toàn bộ. Nếu bạn không biết ABC của nó bạn sẽ không thể đi rất sâu vào trong nó được. Nhưng nếu bạn chỉ biết kĩ thuật của nó và bạn cứ thực hành kĩ thuật đó cả đời mình, bạn có thể trở thành rất thạo về mặt kĩ thuật, nhưng bạn sẽ vẫn còn là nhà kĩ thuật; bạn sẽ không bao giờ trở thành nghệ sĩ.

Trong Thiền họ nói nếu bạn muốn là hoạ sĩ, trong mười hai năm học cách vẽ và thế rồi trong mười hai năm quên hết về vẽ. Quên hoàn toàn - nó chẳng có liên quan gì tới bạn. Trong mười hai năm thiền, chẻ củi, gánh nước từ giếng. Làm bất kì cái gì, nhưng không vẽ.

Và thế rồi một hôm bạn sẽ có thể vẽ. Hai mươi bốn năm huấn luyện: mười hai năm huấn luyện trong việc học kĩ thuật và mười hai năm huấn luyện trong việc quên kĩ thuật. Và thế rồi bạn có thể vẽ. Bây giờ kĩ thuật đã trở thành chỉ là một phần của bạn; nó không còn là tri thức kĩ thuật nữa, nó trở thành một phần của máu bạn và xương bạn và tuỷ bạn. Bây giờ bạn có thể tự phát. Nó sẽ không ngăn cản bạn, nó sẽ không cầm tù bạn.

Điều đó đích xác là kinh nghiệm của tôi nữa.

Bây giờ đừng chỉ thực hành. Quên hết tất cả về âm nhạc cổ điển đi. Làm các loại việc khác: làm vườn, điêu khắc, vẽ, nhưng quên âm nhạc cổ điển đi, cứ dường như nó không tồn tại chút nào. Trong vài năm để nó vẫn còn ở sâu bên dưới, trong bản thể bạn để cho nó trở nên được tiêu hoá. Thế thì nó không còn là kĩ thuật nữa. Thế thì một ngày nào đó một thôi thúc bất thần sẽ xâm chiếm bạn - và thế rồi hãy bắt đầu chơi lại. Và khi bạn chơi lại, đừng bận tâm quá nhiều về kĩ thuật, bằng không bạn sẽ chẳng bao giờ tự phát được.

Đổi mới chút ít đi - đó là tính sáng tạo. Đổi mới cách thức mới, phương tiện mới. Cố gắng làm cái gì đó mới mà không ai đã từng làm. Sáng tạo lớn nhất xảy ra trong những người có việc huấn luyện ở kỉ luật khác nào đó.

Chẳng hạn, nếu nhà toán học bắt đầu chơi nhạc, người đó sẽ đem cái gì đó mới vào thế giới của âm nhạc. Nếu nhạc sĩ trở thành nhà toán học, người đó sẽ đem cái gì đó mới vào thế giới của toán học. Tất cả mọi sáng tạo lớn đều xảy ra qua những người chuyển từ môn này sang môn khác. Điều đó cũng giống như con lai. Và trẻ con bắt nguồn từ lai đều mạnh khoẻ hơn, đẹp hơn nhiều.

Đó là lí do tại sao trong mọi nước, hôn nhân giữa anh em và chị em lại đã bị cấm; có lí do trong nó. Hôn nhân là tốt hơn nếu nó là giữa những người có họ hàng rất xa hay không có họ hàng gì khi có liên quan tới dòng máu. Nó sẽ là tốt nếu mọi người từ giống nòi này lấy người giống nòi khác - và nếu một ngày nào đó chúng ta phát hiện ra người trên hành tinh khác nào đó, cách tốt nhất sẽ là lai giữa trái đất và hành tinh khác! Thế thì những loại người mới hơn sẽ đi vào trong sự tồn tại.

Điều cấm kị, điều kiêng cữ chống lại mối quan hệ anh-chị, đám cưới của họ, là có ý nghĩa - có ý nghĩa khoa học. Nhưng nó đã không được vạch ra chi tiết tới cực đoan của nó, tới cực đoan logic của nó. Cực đoan logic là ở chỗ không người Ấn Độ nào lại nên lấy người Ấn Độ khác, không người Đức nào lại nên lấy người Đức khác. Điều tốt nhất là ở chỗ người Đức lấy người Ấn Độ, người Ấn Độ lấy người Nhật Bản, người Nhật Bản lấy người châu Phi, người châu Phi lấy người Mĩ, người Do Thái lấy người Ki tô giáo, người Ki tô giáo lấy người Hindu, người Hindu lấy người Mô ha mét giáo. Đó sẽ là điều tốt nhất. Điều đó sẽ nâng tâm thức của toàn thể hành tinh này. Nó sẽ cho con cái tốt hơn, tỉnh táo hơn, sống động hơn, giầu có hơn theo mọi cách có thể.

Nhưng chúng ta ngu xuẩn tới mức chúng ta có thể làm bất kì cái gì, chúng ta có thể chấp nhận bất kì cái gì. Thế thì tôi đang nói gì...?

Chauncey, một thanh niên đẹp trai, đang nói một cách nghiêm túc với mẹ mình.

"Mẹ ơi, thời gian đã tới rồi - nó thực sự đã tới - khi chúng ta phải có việc nói chuyện chân tình về mối quan hệ của con với Myron. Để hoàn toàn vô tư về nó, mối quan hệ của chúng con đã nở hoa thành - con sẽ nói nó thế nào để không có vẻ thiếu tế nhị? - thành cái gì đó đẹp đẽ và tốt lành và thậm chí linh thiêng. Sự thực là, Mẹ yêu ơi, con yêu Myron và Myron yêu lại con. Chúng con muốn cưới nhau sớm nhất có thể được và cả hai chúng con hi vọng mẹ sẽ ban phúc lành cho chúng con."

"Nhưng Chauncey này," người mẹ phản đối, "con có hiểu điều mình vừa nói không? Con có thể thực thà trông đợi mẹ bỏ qua hôn nhân như vậy được không? Mọi người sẽ nói gì? Bạn bè và hàng xóm chúng ta sẽ nghĩ gì?"

"A, Mẹ ơi, mẹ sẽ buồn đấy - con có thể cảm thấy điều đó trong xương con. Và sau đó chúng con đã là bạn tốt với nhau nữa. Con chưa bao giờ tin vào điều đó từ mẹ - từ tất cả mọi người!"

"Nhưng con ơi, con không thể đi ngược lại tục lệ như thế này!"

"Thôi được, Mẹ, để chúng con có quyền trong chỗ công khai như những người văn minh. Đích xác và chính xác, mẹ hay bất kì ai khác có thể có phản đối nào với việc Myron và con trở thành chồng và chồng?"

"Con biết hoàn toàn rõ tại sao mẹ phản đối - nó là người Do Thái!"

Mọi người chống lại lẫn nhau nhiều thế. Họ đã bị ước định cho sự đối kháng này lâu tới mức họ đã quên mất hoàn toàn rằng chúng ta tất cả đều là con người, rằng chúng ta thuộc vào cùng trái đất, vào cùng hành tinh.

Khoảng cách càng lớn giữa vợ và chồng, sản phẩm phụ của hôn nhân càng tốt. Và cùng điều đó xảy ra trong âm nhạc, trong hội hoạ, trong toán học, trong vật lí, trong hoá học - một loại lai. Bất kì khi nào một người chuyển từ môn này sang môn khác người đó đều mang hương vị của môn của mình, mặc dù môn đó không thể được thực hành. Bạn có thể làm được gì với âm nhạc của mình khi bạn đi vào vật lí? Bạn phải quên tất cả về nó, nhưng nó vẫn còn trong nền tảng. Nó đã trở thành một phần của bạn; nó sẽ ảnh hưởng tới bất kì điều gì bạn làm. Vật lí xa xăm thế, nhưng nếu bạn đã từng có học trong âm nhạc, chẳng chóng thì chầy bạn sẽ tìm thấy các lí thuyết, giả thuyết, mà bằng cách nào đó mang mầu sắc và hương vị của âm nhạc. Bạn có thể bắt đầu cảm thấy rằng thế giới này là hài hoà - không phải hỗn loạn mà là hài hoà. Bạn có thể bắt đầu cảm thấy, tìm vào những thực tại sâu hơn của vật lí, rằng sự tồn tại là dàn nhạc. Bây giờ, điều đó là không thể được với người còn không biết gì về âm nhạc.

Nếu một vũ công đi vào trong âm nhạc người đó sẽ mang cái gì đó mới, người đó sẽ đóng góp cái gì đó mới cho âm nhạc.

Gợi ý của tôi là ở chỗ mọi người nên chuyển từ môn này sang môn khác. Khi bạn trở nên quen với một môn, khi bạn trở nên bị cầm tù với kĩ thuật, trượt ra khỏi nó vào môn khác đi. Đó là ý hay, ý tưởng lớn là chuyển từ môn này sang môn khác. Bạn sẽ thấy bản thân mình trở nên ngày một có tính sáng tạo hơn.

Một điều phải được ghi nhớ: nếu bạn thực sự có tính sáng tạo, bạn không thể trở nên nổi tiếng được. Người thực sự sáng tạo mất thời gian để trở nên nổi tiếng bởi vì người đó phải tạo ra các giá trị - giá trị mới, tiêu chí mới, chỉ thế thì người đó mới có thể được đánh giá. Người đó phải đợi ít nhất năm mươi năm; vào lúc đó người đó chết rồi. Chỉ thế thì mọi người mới bắt đầu đánh giá cao người đó. Nếu bạn muốn danh vọng, thế thì quên tất cả về sáng tạo đi. Thế thì chỉ thực hành và thực hành, chỉ cứ làm điều bạn đang làm một cách thiện nghệ hơn, kĩ thuật hoàn hảo hơn, và bạn sẽ nổi tiếng - bởi vì mọi người hiểu điều đó; nó đã được chấp nhận.

Bất kì khi nào bạn đem cái gì đó mới vào trong thế giới, bạn nhất định sẽ bị bác bỏ. Thế giới không bao giờ tha thứ cho người đem cái gì mới tới thế giới. Người sáng tạo nhất định bị thế giới trừng phạt, nhớ điều đó. Thế giới đánh giá cao người không sáng tạo nhưng có kĩ năng, người hoàn hảo về kĩ thuật, bởi vì hoàn hảo kĩ thuật đơn giản nghĩa là hoàn hảo của quá khứ. Và mọi người đều hiểu quá khứ, mọi người đã được giáo dục để hiểu nó. Đem cái gì đó mới vào trong thế giới nghĩa là không ai sẽ có khả năng đánh giá nó; nó mới tới mức không có tiêu chí nào để đánh giá nó. Không phương tiện nào có trong sự tồn tại để hiểu nó. Sẽ phải mất ít nhất năm mươi năm hay hơn - nghệ sĩ sẽ chết - vào lúc đó mọi người sẽ bắt đầu đánh giá cao điều đó.

Vincent van Gogh đã không được đánh giá cao trong thời của ông ấy. Thậm chí không một bức tranh nào đã được bán. Bây giờ mỗi bức tranh của ông ấy đều được bán với giá hàng triệu đô la - và thậm chí mọi người đã không sẵn sàng chấp nhận những bức tranh đó như món quà từ Vincent van Gogh - vẫn cùng những bức tranh đó! Ông ấy đã đem chúng cho bạn bè, cho bất kì ai sẵn lòng treo chúng trong phòng mình. Không ai sẵn sàng treo tranh của ông ấy trong phòng mình bởi vì mọi người đều lo nghĩ, người khác sẽ hỏi, "Ông có phát điên hay cái gì không đấy? Đây là loại tranh gì thế này?"

Vincent van Gogh có thế giới riêng của mình. Ông ấy đã mang tới một tầm nhìn mới. Phải mất nhiều thập kỉ; dần dần, nhân loại bắt đầu cảm thấy rằng cái gì đó có đó. Nhân loại chậm chạp và lờ phờ, nó bị tụt lại sau thời gian. Và người sáng tạo bao giờ cũng đi trước thời mình, do đó có lỗ hổng.

Cho nên nếu bạn thực sự muốn có tính sáng tạo bạn sẽ phải chấp nhận rằng bạn không thể nổi tiếng, bạn không thể được mọi người biết tới. Nếu bạn thực sự muốn có tính sáng tạo, thế thì bạn phải học hiện tượng đơn giản về "nghệ thuât vị nghệ thuật," chứ không theo động cơ nào khác. Thế thì tận hưởng bất kì cái gì bạn đang làm. Nếu bạn có thể tìm ra vài người bạn để tận hưởng nó, tốt; nếu không ai có đó để tận hưởng, thế thì tận hưởng nó một mình. Nếu bạn đang tận hưởng nó, điều đó là đủ. Nếu bạn cảm thấy được hoàn thành qua nó, điều đó là đủ.

Bạn hỏi tôi, "Tôi không chắc biết phẩm chất của nghệ thuật đúng là gì."

Nghệ thuật đúng nghĩa là nó giúp bạn trở nên im lặng, tĩnh lặng, vui vẻ; nó cho bạn lễ hội, nó làm cho bạn nhảy múa - dù có bất kì ai tham dự cùng bạn hay không cũng không liên quan. Nếu nó trở thành cây cầu giữa bạn và Thượng đế, đó là nghệ thuật đúng. Nếu nó trở thành việc thiền, đó là nghệ thuật đúng. Nếu bạn trở nên bị cuốn hút vào trong nó, cuốn hút toàn bộ tới mức bản ngã biến mất, đó là nghệ thuật đúng.

Cho nên đừng lo nghĩ nghệ thuật đúng là gì. Nếu bạn hân hoan trong khi làm nó, nếu bạn cảm thấy mất hút trong khi làm nó, nếu bạn cảm thấy bị tràn ngập bởi niềm vui và an bình khi làm nó, nó là nghệ thuật đúng. Và đừng bận tâm điều nhà phê bình nói. Nhà phê bình chẳng biết gì về nghệ thuật cả. Thực tế, người không thể trở thành nghệ sĩ lại trở thành nhà phê bình. Nếu bạn không thể tham gia vào cuộc chạy đua, nếu bạn không thể là vận động viên chạy Olympic, ít nhất bạn có thể đứng bên đường và ném đá vào người chạy khác; điều đó bạn có thể làm dễ dàng.

Đó là điều nhà phê bình cứ làm. Họ không thể là người tham gia, họ không thể sáng tạo ra cái gì.

Tôi đã nghe nói về nhà huyền môn Sufi yêu hội hoạ, và tất cả các nhà phê bình vào thời ông ấy đều chống lại ông ấy. Mọi người sẽ tới và chỉ cho ông ấy, "Cái này sai, cái kia sai."

Ông ấy trở nên mệt mỏi về những người này, cho nên một hôm, ngay trước nhà mình ông ấy treo tất cả tranh của mình lên. Và ông ấy mời tất cả các nhà phê bình tới và bảo họ tới mang theo chổi vẽ, mầu vẽ, để cho họ có thể sửa lại tranh của ông ấy - họ đã phê bình đủ rồi; bây giờ là lúc tới để sửa.

Không một nhà phê bình nào quay lại. Dễ phê, khó sửa. Và sau đó, các nhà phê bình dừng việc phê bình tranh của ông ấy. Ông ấy đã làm điều đúng!

Những người không biết cách sáng tạo trở thành nhà phê bình - cho nên đừng lo nghĩ về họ. Điều quyết định là cảm giác bên trong của bạn, hăng hái bên trong, nhiệt tình bên trong. Nếu làm nhạc cho bạn cảm giác nhiệt tình, niềm vui nảy sinh trong bạn, bản ngã biến mất, thế thì nó trở thành cây cầu giữa bạn và Thượng đế. Nghệ thuật có thể là điều mang tính cầu nguyện nhất, điều mang tính thiền nhiều nhất. Nếu bạn có thể trong bất kì nghệ thuật nào, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, điệu vũ, nếu bất kì nghệ thuật nào cũng có thể làm chủ bản thể bạn, đó là cách tốt nhất để cầu nguyện, cách tốt nhất để thiền. Thế thì bạn không cần cách thiền nào khác; đó là cách thiền của bạn. Điều đó sẽ dẫn bạn dần dần, từng bước một, vào Thượng đế. Cho nên đây là tiêu chí của tôi: nếu điều đó dẫn bạn tới Thượng đế, nó là nghệ thuật đúng, nó là nghệ thuật đích thực.

4. Nghệ thuật về tiền

Thầy có thể nói về tiền không? Tất cả những cảm giác bao quanh tiền này là gì? Cái gì làm cho nó thành mạnh tới mức mọi người hi sinh các kiếp sống của mình cho nó vậy?

Đây là câu hỏi rất có ý nghĩa.

Tất cả các tôn giáo đều đã từng chống lại giầu sang bởi vì giầu sang có thể cho bạn tất cả những cái có thể mua được trong cuộc sống. Và gần như mọi thứ đều có thể mua được ngoại trừ các giá trị tâm linh như tình yêu, từ bi, chứng ngộ, tự do. Vài điều này là ngoại lệ - và ngoại lệ bao giờ cũng tỏ ra là qui luật. Mọi thứ khác bạn đều có thể mua bằng tiền. Bởi vì tất cả các tôn giáo đều chống lại cuộc sống, họ nhất định chống lại tiền. Đó là hệ quả tự nhiên. Cuộc sống cần tiền bởi vì cuộc sống cần tiện nghi, cuộc sống cần thức ăn tốt, cuộc sống cần quần áo tốt, nhà cửa tốt. Cuộc sống cần văn học, âm nhạc, nghệ thuật, thơ ca hay. Cuộc sống thật bao la!

Và người không thể hiểu được âm nhạc cổ điển là người nghèo. Người đó điếc. Người đó có thể nghe thấy - mắt người đó, tai người đó, mũi người đó, tất cả các giác quan của người đó đều tốt hoàn hảo về mặt y học - nhưng về mặt siêu hình... Bạn có thể thấy cái đẹp của văn học vĩ đại, như cuốn Sách về Mirdad không? Nếu bạn không thể thấy được điều đó, bạn mù.

Tôi đã bắt gặp những người thậm chí còn không đọc cái tên của Sách về Mirdad. Nếu tôi mà làm danh sách các cuốn sách lớn, đó sẽ là cuốn đầu tiên. Nhưng để thấy cái đẹp của nó bạn sẽ cần kỉ luật vô cùng.

Hiểu âm nhạc cổ điển là có thể chỉ nếu bạn học - và đó là việc học lâu dài. Nhưng để hiểu điều đó, bạn sẽ cần thoát khỏi đói khát, thoát khỏi nghèo nàn, thoát khỏi đủ mọi loại định kiến.

Chẳng hạn, người Mô ha mét giáo đã cấm âm nhạc; bây giờ họ đã tước đi của con người một kinh nghiệm vô biên. Chuyện xảy ra ở New Delhi... một trong những hoàng đế Mô ha mét giáo quyền lực nhất, Aurangzeb, đã lên ngôi. Và ông ấy không chỉ quyền lực, ông ấy thực sự là khủng khiếp.

Mãi cho tới thời của ông ấy các hoàng đế Mô ha mét giáo đều chỉ nói rằng âm nhạc là chống lại Mô ha mét giáo, nhưng đó là tất cả; Delhi đầy những nhạc sĩ. Nhưng Aurangzeb lại không phải là quân tử. Ông ấy đã tuyên bố rằng nếu âm nhạc mà được nghe thấy ở Delhi, nhạc sĩ sẽ bị chặt đầu. Và Delhi đã là trung tâm, một cách tự nhiên, bởi vì nó là thủ đô trong hàng nghìn năm. Cho nên nó là chỗ đủ mọi loại thiên tài sống.

Khi tuyên bố này được đưa ra, tất cả các nhạc sĩ tụ tập lại với nhau và họ nói, "Điều gì đó cần phải được làm, điều này là quá thể! Họ thường nói điều đó chống lại Mô ha mét giáo - điều đó là được. Nhưng con người này nguy hiểm, ông ta sẽ bắt đầu giết người." Cho nên như sự phản đối, tất cả các nhạc sĩ - mà có đến hàng nghìn người - kéo tới cung điện của Aurangzeb.

Ông ấy bước ra ban công và hỏi mọi người, "Ai đã chết vậy?" - bởi vì điều họ đã làm... họ mang một cái xác theo cách nó được mang đi ở Ấn Độ. Không có thi hài nào bên trong, chỉ toàn gối, nhưng họ đã xoay xở làm cho nó giống như cái xác. Aurangzeb hỏi, "Ai đã chết?"

Và họ trả lời, "Âm nhạc. Và bệ hạ đã giết chết nó."

Aurangzeb nói, "Nó chết là tốt rồi. Bây giờ xin hãy làm điều tốt cho ta - đào một nấm mồ sâu nhất có thể được, để cho nó không bao giờ có thể thoát ra khỏi nấm mồ đó lần nữa." Hàng nghìn nhạc sĩ và nước mắt của họ chẳng làm xúc động Aurangzeb - ông ta đang làm điều gì đó "thiêng liêng."

Âm nhạc bị người Mô ha mét giáo phủ nhận. Tại sao? - bởi vì âm nhạc về cơ bản do phụ nữ đẹp chơi ở phương Đông. Ở phương Đông và ở phương Tây nghĩa của từ 'mãi dâm' có khác. Ở phương Tây mãi dâm là bán thân thể cô ấy. Ở phương Đông, trong quá khứ, mãi dâm không phải là bán thân thể cô ấy; cô ấy bán bộ phận sinh dục, điệu vũ của cô ấy, âm nhạc của cô ấy, nghệ thuật của cô ấy.

Bạn sẽ ngạc nhiên rằng mọi vua Ấn Độ đều quen phái con trai mình, người sắp sửa trở thành người kế tục ông ấy, đền sống với những gái mãi dâm lớn trong vài năm. Họ được phái đi học phép xã giao, học tính dịu dàng, học âm nhạc, học sự thanh nhã của điệu vũ - bởi vì nhà vua phải thực sự giàu có về mọi thứ. Ông ấy phải hiểu cái đẹp, ông ấy phải hiểu logic, ông ấy phải hiểu phong tục tập quán. Đó đã là truyền thống cổ Ấn độ.

Người Mô ha mét giáo đập vỡ nó. Âm nhạc chống lại tôn giáo của họ. Tại sao? - bởi vì để học âm nhạc bạn phải vào nhà thổ. Người Mô ha mét giáo rất chống lại mọi hoan lạc, và nhà thổ đầy những tiếng cười, bài ca, âm nhạc, điệu vũ. Họ đơn giảm cấm đoán điều đó: không người Mô ha mét giáo nào được đi vào chỗ của âm nhạc; nghe âm nhạc là tội lỗi.

Và cùng điều đó đã được làm bởi các tôn giáo khác - với những lí do khác, nhưng họ tất cả đều cắt bỏ đi sự giầu có của con người. Và phần lớn giáo huấn cơ bản là ở chỗ bạn nên từ bỏ tiền bạc.

Bạn có thể thấy logic này. Nếu bạn không có tiền, bạn không thể có cái gì khác được. Thay vì chặt cành, họ chặt chính gốc rễ. Người không có tiền thì đói, là kẻ ăn xin, không có quần áo. Bạn không thể trông đợi người đó có thời gian dành cho Dostoevsky, Nijinsky, Bertrand Russell, Albert Einstein, không; điều đó là không thể được.

Tất cả các tôn giáo đều cùng nhau làm cho con người nghèo nhất có thể được. Họ đã kết án tiền bạc quá nhiều, và ca ngợi nghèo nàn nhiều đến mức khi có liên quan tới tôi, họ là phạm nhân lớn nhất mà thế giới đã từng biết tới.

Nhìn điều Jesus nói: lạc đà có thể đi qua lỗ trôn kim, nhưng người giầu không thể đi qua cổng thiên đường. Bạn có cho rằng con người này lành mạnh không? Ông ấy sẵn sàng cho con lạc đà đi qua lỗ trôn kim - điều tuyệt đối không thể được, nhưng ngay cả điều không thể được đó ông ấy chấp nhận làm thành có thể. Nhưng người giầu đi vào thiên đường sao? Điều đó còn không thể được lớn hơn nhiều; không có cách nào để làm điều đó thành có thể cả.

Của cải bị kết án, giầu có bị kết án, tiền bạc bị kết án. Thế giới bị chia thành hai phe. Chín mươi tám phần trăm mọi người sống trong nghèo khó nhưng với niềm an ủi lớn, rằng nơi người giầu không thể vào được, thì họ sẽ được các thiên thần đón nhận, các thần đang chơi đàn harps, "Alleluia... Chào mừng!" Và hai phần trăm những người giầu đang sống với mặc cảm cực kì rằng họ giầu.

Họ không thể tận hưởng được giầu sang của mình bởi vì mặc cảm, và sâu bên dưới họ lo sợ: có lẽ họ có thể không được phép vào thiên đường. Cho nên họ trong thế tiến thoái lưỡng nan. Giầu có đang tạo ra mặc cảm trong họ - họ sẽ không được an ủi bởi vì họ không than khóc - họ sẽ không được phép vào thiên đường bởi vì họ có nhiều thứ trên trái đất. Họ sẽ bị tống vào địa ngục.

Bởi vì tình huống này, người giầu sống trong trạng thái rất đáng sợ. Cho dù người đó có hưởng thú, hay cố gắng hưởng thú, thì mặc cảm của người đó cũng đầu độc điều đó. Người đó có thể làm tình với người đàn bà đẹp, nhưng đấy chỉ là thân thể làm tình thôi. Người đó đang nghĩ về thiên đường nơi lạc đà bước vào, còn người đó đứng ngoài và không có cách nào vào cả. Bây giờ người này có thể làm tình được không? Người đó có thể ăn thức ăn ngon nhất, nhưng người đó không thể tận hưởng nó được. Người đó biết cuộc sống này ngắn ngủi, và sau đó chỉ là bóng tối và ngọn lửa địa ngục. Người đó sống trong hoang tưởng.

Người nghèo đã sống trong địa ngục rồi, nhưng người đó sống với an ủi. Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng trong các nước nghèo mọi người còn hài lòng hơn trong các nước giầu. Tôi đã thấy những người nghèo nhất ở Ấn Độ không có sự không thoả mãn nào cả. Còn người Mĩ đi khắp thế giới để tìm hướng dẫn tâm linh nào đó - một cách tự nhiên, bởi vì họ không muốn bị thua con lạc đà; họ muốn vào cổng thiên đường. Họ muốn tìm ra cách nào đó, yoga nào đó, kinh nghiệm nào đó, như thứ bù lại.

Toàn thể thế giới này đã thành chống lại chính nó.

Có lẽ tôi là người đầu tiên kính trọng tiền bạc, của cải, bởi vì nó có thể làm cho bạn giầu có đa chiều.

Người nghèo không thể hiểu được Mozart, người đói không thể hiểu được Michelangelo, người ăn xin thậm chí sẽ không nhìn vào các bức tranh của Vincent van Gogh. Và những người đang phải chịu đói không có đủ năng lượng để làm cho họ thông minh. Thông minh tới chỉ khi bạn có năng lượng dư thừa trong mình - chúng bị cạn kiệt ngay trong việc kiếm bánh mì và bơ. Họ không có thông minh, họ không thể hiểu được Anh em nhà Karamazov, họ chỉ có thể nghe các tu sĩ ngu xuẩn nào đó trong nhà thờ.

Tu sĩ không hiểu điều ông ta đang nói mà cả thính giả cũng không hiểu. Phần lớn trong họ đều ngủ say, mệt mỏi sau sáu ngày làm việc. Và ông tu sĩ thấy thoải mái là mọi người đều ngủ, cho nên ông ta không cần chuẩn bị buổi lễ mới. Ông ta có thể cứ dùng bài buổi lễ cũ. Mọi người đều ngủ, không ai sẽ hình dung ra rằng ông ta chỉ lừa họ.

Của cải có ý nghĩa như âm nhạc hay, như văn chương hay, như tác phẩm nghệ thuật.

Có những người có khả năng bẩm sinh là nhạc sĩ. Mozart bắt đầu chơi nhạc hay từ tám tuổi. Khi ông ấy tám tuổi, các bậc thầy âm nhạc lớn khác không có ở gần ông ấy. Bây giờ, con người này được sinh ra với tính sáng tạo đó. Vincent van Gogh đã được sinh ra từ một người cha nghèo làm việc tại mỏ than. Ông ấy chưa bao giờ được giáo dục, ông ấy chưa bao giờ biết tới bất kì trường nghệ thuật nào, nhưng ông ấy đã trở thành một trong những hoạ sĩ vĩ đại nhất của thế giới.

Mới vài ngày trước đây tôi đã thấy một trong những bức tranh của ông ấy. Với bức tranh đó ông ấy bị tất cả các hoạ sĩ cười, còn nói gì tới những người khác nữa? - bởi vì ông ấy đã vẽ các vì sao theo cách không ai đã từng thấy các vì sao: giống như tinh vân, mọi vì sao đều trong chuyển động, giống như bánh xe quay liên tục. Ai đã từng thấy các vì sao như thế?

Ngay cả các hoạ sĩ khác cũng nói, "Ông phát điên rồi - đây không phải là các vì sao!" Và hơn nữa, cây ông ấy vẽ ngay phía dưới vì sao lại còn cao hơn sao. Sao bị bỏ xa bên dưới, cây đã vươn xa lên đầu. Bây giờ ai đã thấy những cái cây như vậy? Điều này chỉ là điên khùng!

Nhưng vài ngày trước tôi đã thấy bức tranh thuộc kiểu này. Các nhà vật lí bây giờ đã phát hiện ra rằng van Gogh là đúng: sao không phải như chúng trông vậy, chúng đích xác là cách Van Gogh đã vẽ chúng. Van Gogh đáng thương ơi! Con người kia phải có con mắt nào, để thấy ra điều vật lí mất một trăm năm mới phát hiện ra, với tất cả những phòng thí nghiệm lớn và công nghệ lớn. Và Vincent van Gogh, khá kì lạ, chỉ bằng mắt trần đã hình dung đích xác hình dạng của các vì sao. Chúng đang xoay tròn, chúng đang xoay tròn như thầy tu đạo Hồi; chúng không tĩnh tại như cách bạn thấy chúng.

Và khi ông ấy được hỏi về cây của mình - "Ông đã thấy những cái cây này ở đâu mà vươn lên cao hơn các vì sao?" - ông ấy nói, "Đây là cây tôi đã tìm thấy, ngồi bên cạnh chúng lắng nghe tham vọng của chúng. Tôi đã nghe các cái cây nói với tôi rằng chúng là tham vọng của đất để đạt tới các vì sao."

Có lẽ phải vài thế kỉ nữa mới có thể cần tới các nhà khoa học khám phá ra rằng chắc chắn cây cối là tham vọng của đất. Một điều là chắc chắn, rằng cây đang vươn lên ngược với sức hút. Đất đang cho phép chúng đi ngược lại sức hút - hỗ trợ, giúp đỡ chúng. Có lẽ đất muốn sự trao đổi nào đó với các vì sao. Đất sống động, và cuộc sống bao giờ cũng muốn đi lên cao hơn và cao hơn và cao hơn. Không có giới hạn cho niềm hứng khởi của nó. Làm sao người nghèo sẽ hiểu được? Họ không có thông minh.

Cũng như có các nhà thơ bẩm sinh, hoạ sĩ bẩm sinh, tôi muốn bạn nhớ có những người sáng tạo của cải bẩm sinh. Họ chưa bao giờ được ca ngợi cả. Mọi người đều không là Henry Ford, và không thể thế được.

Henry Ford sinh ra đã nghèo, và đã trở thành người giàu nhất thế giới. Ông ấy phải đã có tài năng nào đó, thiên tài nào đó để tạo ra tiền, để tạo ra của cải. Và điều đó còn khó khăn hơn nhiều so với việc tạo ra bức tranh, hay âm nhạc, hay thơ ca. Tạo ra của cải không phải là công việc dễ dàng. Henry Ford nên được ca ngợi như bất kì bậc thầy âm nhạc, tiểu thuyết, thơ ca nào - thực tế, ông ấy nên được ca ngợi nhiều hơn, bởi vì qua tiền, tất cả thơ ca và tất cả âm nhạc và tất cả điêu khắc của thế giới đều có thể mua được.

Tôi kính trọng tiền. Tiền là một trong những phát minh vĩ đại nhất của con người. Nó chỉ là phương tiện. Chỉ kẻ ngốc mới lên án nó; có lẽ họ ghen tị rằng người khác có tiền còn họ thì không. Ghen tị của họ trở thành kết án của họ.

Tiền không là gì ngoài cách thức khoa học để trao đổi mọi thứ. Trước khi có tiền, mọi người thực sự khó khăn. Trên khắp thế giới đều có hệ thống đổi chác. Bạn có bò và bạn muốn mua ngựa. Bây giờ điều đó sẽ là nhiệm vụ cả đời bạn... Bạn phải tìm ra một người muốn bán ngựa và muốn mua bò. Đó là việc làm khó thế! Bạn có thể tìm ra người có ngựa nhưng người đó không quan tâm tới việc mua bò. Bạn có thể tìm thấy những người quan tâm tới việc mua bò nhưng họ lại không có ngựa.

Đó là tình huống trước khi tiền đi vào sự tồn tại. Một cách tự nhiên, mọi người nhất định nghèo: họ không thể bán được mọi thứ, họ không thể mua được mọi thứ. Đó là việc làm khó khăn thế. Tiền làm cho điều đó thành đơn giản thế. Người muốn bán bò không cần tìm người muốn bán ngựa. Người đó đơn giản bán bò, nhận tiền và đi tìm người muốn bán ngựa nhưng không quan tâm tới bò.

Tiền trở thành vật trung gian cho trao đổi; hệ thống trao đổi biến mất khỏi thế giới. Tiền đã làm việc phục vụ lớn lao cho nhân loại - và bởi vì mọi người trở nên có khả năng mua, bán, một cách tự nhiên họ trở thành ngày một giầu hơn.

Điều này phải được hiểu. Tiền càng luân chuyển, bạn càng có nhiều tiền. Chẳng hạn, nếu tôi có một đô la trong người... Đấy chỉ là thí dụ thôi, tôi không có lấy một đô la đâu, tôi không có thậm chí một xu trong người - tôi thậm chí không có cả ví đựng tiền! Đôi khi tôi cũng lo rằng nếu tôi có một đô la, tôi sẽ để ở đâu?

Chẳng hạn, nêu tôi có một đô la và tôi cứ giữ nó cho bản thân mình, thế thì trong thính phòng này chỉ có một đô la. Nhưng nếu tôi mua cái gì đó và đồng đô la này chuyển sang ai đó khác, tôi nhận được giá trị của đồng đô la này - điều này tôi hưởng. Bạn không thể ăn được đồng đô la, làm sao bạn có thể hưởng nó chỉ bằng việc giữ nó? Bạn có thể hưởng nó chỉ bằng việc tiêu nó. Tôi hưởng, và đồng đô la đi sang ai đó khác. Bây giờ nếu người đó giữ nó, thế thì chỉ có hai đô la - một đô la tôi đã hưởng nó rồi, và một đô la đang ở cùng với kẻ keo kiệt đang giữ nó.

Nhưng nếu không ai là kẻ níu bám, và mọi người đều luân chuyển đô la nhanh nhất có thể được - nếu có ba nghìn người, ba nghìn đô la đã được dùng, được hưởng. Đó là một vòng tròn riêng. Cho thêm vòng tròn và sẽ có thêm đô la. Chẳng cái gì tới -thực tế chỉ có một đô la - nhưng bằng cách luân chuyển nó cứ tự nhân nó lên.

Đó là lí do tại sao tiền lại được gọi là tiền lưu hành (currency) - nó phải là việc lưu thông. Đó là ý nghĩa của tôi, tôi không biết về các nghĩa của người khác. Người ta không nên giữ nó. Khoảnh khắc bạn có được nó, tiêu nó đi! Đừng phí thời gian, bởi vì với thời gian đó bạn đang ngăn cản đồng đô la không sinh sôi, không trở nên ngày một nhiều hơn.

Tiền là phát minh vô cùng. Nó làm cho mọi người giàu hơn, nó làm cho mọi người có khả năng có những thứ mà họ không có. Nhưng tất cả các tôn giáo đều đã chống lại nó. Họ không muốn nhân loại được giàu có và thông minh bởi vì nếu mọi người thông minh, ai sẽ đọc Kinh Thánh?

Các tôn giáo chưa bao giờ muốn con người thông minh, chưa bao giờ muốn con người giàu có, chưa bao giờ muốn con người vui vẻ, bởi vì những người đang đau khổ, nghèo nàn, không thông minh - họ là khách hàng của nhà thờ, nhà thời Do Thái, đền chùa, nhà thờ Mô ha mét giáo.

Tôi chưa bao giờ đi tới bất kì chỗ tôn giáo nào. Sao tôi lại phải đi? Nếu chỗ tôn giáo muốn có hương vị tôn giáo nào đó nó phải tới tôi chứ. Tôi không định đi tới Mecca, Mecca phải tới tôi! Tôi không định đi tới Jerusalem, tôi không điên - chỉ chút ít quái dị thôi, nhưng không điên. Và khi chúng ta có thể tạo ra chỗ cho niềm vui và tiếng cười và tình yêu ở đây, cái gì có đó ở Israel? Chúng ta đã tạo ra Israel mới.

Vứt mọi ý tưởng đã bị áp đặt lên bạn về tiền bạc. Kính trọng nó. Tạo ra của cải, bởi vì chỉ sau khi tạo ra của cải nhiều chiều khác mới mở ra cho bạn.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập