Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Cách sống có ý thức Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong
 
 
Cách sống có ý thức

Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong - (2)

Năm chướng ngại

***

Tự nhiên cho mọi người năng lượng có tính sáng tạo. Nó trở nên mang tính phá hoại chỉ khi nó bị cản trở, khi luồng chảy tự nhiên không được phép.

1. Ý thức về cái ta

Ý thức về cái ta là bệnh tật. Ý thức là lành mạnh, ý thức về cái ta là bệnh tật - cái gì đó đã đi sai. Cái nút nào đó đã nảy sinh, phức cảm nào đó. Dòng sông ý thức không chảy một cách tự nhiên - cái gì đó ngoại lai đã đi vào trong dòng sông ý thức. Cái gì đó xa lạ, cái gì đó không thể được dòng sông hấp thu, cái gì đó không thể trở thành một phần của dòng sông... cái gì đó chống lại đang trở thành một phần của dòng sông.

Ý thức về cái ta là hoành hành của bệnh tật. Ý thức về cái ta là trạng thái đông cứng, bị chắn lại. Nó cũng tựa như ao tù đọng bẩn - chẳng đi đâu, chỉ khô cạn dần, bay hơi và chết. Tất nhiên, nó bốc mùi.

Cho nên điều đầu tiên cần được hiểu l khác biệt giữa ý thức về cái ta và ý thức.

Ý thức không có ý tưởng gì về 'tôi', về bản ngã. Nó không có ý tưởng về sự tách bạch của người ta khỏi sự tồn tại. Nó không biết tới rào chắn nào, nó không biết tới biên giới. Nó là một với sự tồn tại, nó là trong hoà thuận sâu sắc. Không có xung đột giữa cá nhân và cái toàn thể. Người ta đơn giản tuôn chảy vào trong cái toàn thể, và cái toàn thể tuôn chảy vào trong người ta. Nó cũng giống như việc thở: bạn thở vào, bạn thở ra - khi bạn thở vào cái toàn thể đi vào bạn, khi bạn thở ra bạn đi vào cái toàn thể. Nó là luồng chảy thường hằng, chia sẻ thường hằng. Cái toàn thể cứ cho bạn và bạn cứ cho cái toàn thể. Cân bằng không bao giờ mất.

Nhưng trong người ý thức về cái ta, cái gì đó đã đi sai. Người đó lấy vào nhưng chẳng bao giờ cho ra. Người đó cứ tích luỹ và người đó trở nên không có khả năng chia sẻ. Người đó cứ tạo ra biên giới quanh bản thân mình để cho không ai có thể xâm phạm được. Người đó cứ dựng các biển báo quanh sự hiện diện của mình: "Không được phép xâm lấn." Dần dần người đó trở thành nấm mồ, người chết - bởi vì cuộc sống là chia sẻ.

Cái "ta" là thứ chết, chỉ sống trên danh nghĩa. Tâm thức là cuộc sống vô hạn, cuộc sống dư thừa. Nó không biết tới biên giới. Nhưng thông thường mọi người đều ý thức về cái ta.

Ý thức về cái ta là vô ý thức. Nghịch lí này phải được hiểu: Ý thức về cái ta là vô ý thức và ý thức không về cái ta - hay vô ý thức về cái ta - là trở thành ý thức. Và khi không có cái ta, khi cái ta nhỏ bé, tí hon này biến mất, bạn đạt tới cái ta thực với chữ 'T' hoa - gọi nó là cái ta tối cao, cái ta của tất cả.

Cho nên nó là cả hai: vô ngã theo nghĩa nó không chỉ là của bạn, và cũng là cái ta tối thượng nữa, bởi vì nó là cái ta của tất cả. Bạn đánh mất trung tâm tí hon của mình và bạn trở thành trung tâm của bản thân sự tồn tại. Bỗng nhiên bạn trở thành vô hạn; bỗng nhiên bạn không còn bị giới hạn, bạn không có lồng bao quanh con người mình, và quyền năng vô hạn bắt đầu tuôn chảy qua bạn. Bạn trở thành phương tiện - trong suốt, không chướng ngại nào. Bạn trở thành chiếc sáo và Krishna có thể hát qua bạn. Bạn trở thành chỉ là lối đi - trống rỗng, không cái gì của riêng bạn. Đây là điều tôi gọi là buông xuôi.

Thái độ ý thức về cái ta - đó là thái độ của xung đột, tranh đấu, vật lộn. Nếu bạn đang tranh đấu với sự tồn tại bạn sẽ ý thức về cái ta và, tất nhiên, bạn sẽ bị thất bại đi thất bại lại mãi. Từng bước đều sẽ là bước đi ngày một nhiều thất bại hơn. Ngã lòng của bạn là chắc chắn, bạn phải chịu số phận đó ngay từ đầu rồi bởi vì bạn không thể duy trì được cái ta này chống lại vũ trụ. Điều đó là không thể được, bạn không thể tồn tại tách rời được. Bạn không thể là sư được.

Từ 'monk - sư' này cũng hay. Bạn phải nhận biết về những từ tương tự bắt nguồn từ cùng gốc, như 'monopoly - độc quyền' hay 'monastery - tu viện' hay 'monologue - độc thoại'. Sư là người cố gắng là bản thân mình, người cố gắng xác định biên giới của mình và là người cố gắng tồn tại tách rời khỏi toàn thể sự tồn tại này. Toàn bộ nỗ lực của người đó mang tính bản ngã. Điều đó nhất định thất bại; không sư nào đã bao giờ có thể thành công.

Bạn có thể thành công chỉ khi cùng phe với Thượng đế, không bao giờ chống lại ngài. Bạn có thể thành công chỉ với cái toàn thể, đừng bao giờ chống lại nó. Cho nên nếu bạn nản lòng, trong khổ sâu sắc, nhớ lấy: bạn đang tạo ra khổ đó. Và bạn đang tạo ra nó bằng thủ đoạn tinh vi: bạn tranh đấu chống lại cái toàn thể.

Chuyện xảy ra - hồi đó chắc phải đang mùa mưa như thế này - và dòng sông qua làng bị ngập lụt. Mọi người chạy tới Mulla Nasruddin và nói, "Vợ anh ngã xuống sông đang lụt rồi. Chạy nhanh lên! Ra cứu cô ấy đi!"

Nasruddin chạy ra. Anh ta nhảy xuống sông và bắt đầu bơi ngược dòng. Mọi người tụ tập lại để xem, họ hô lên, "Anh làm gì vậy, Nasruddin? Vợ anh không thể trôi ngược dòng được - dòng nước đã đưa cô ấy trôi xuôi rồi."

Nasruddin nói, "Các anh nói gì vây? Tôi biết vợ tôi chứ, cô ấy chỉ có thể đi ngược dòng thôi!"

Bản ngã bao giờ cũng nỗ lực đi ngược dòng. Mọi người không thích làm những điều dễ dàng. Trước khi họ có thể làm họ muốn làm chúng thành gian khổ, khó khăn. Mọi người thích làm những điều gian nan. Tại sao? Bởi vì khi bạn đối diện với điều gian nan, bản ngã của bạn trở nên tinh tế, sắc bén; có thách thức.

Khi nhóm đầu tiên lên tới đỉnh Everest, ai đó hỏi Edmund Hillary, "Sao ông lại nhận rủi ro thế? Điều đó là nguy hiểm - nhiều người khác đã chết trước ông mà không thể lên tới được." Và người vừa hỏi lại không thể hiểu được tại sao mọi người cứ cố gắng trèo lên Everest và mất mạng. Phỏng có ích gì về điều đó? Cái gì có đó mà đạt tới?

Edmund Hillary tương truyền đã nói, "Chúng tôi không thể nghỉ được chừng nào mà đỉnh Everest này còn chưa bị chinh phục. Chúng tôi phải chinh phục nó!" Chẳng thu được gì ở nó cả, nhưng chính sự hiện diện của Everest không bị chinh phục là một thách thức. Nó là thách thức với ai? - với bản ngã.

Quan sát cuộc sống riêng của bạn - nhiều điều bạn đang làm chỉ bởi vì bản ngã thôi. Bạn muốn làm ngôi nhà to - bạn có thể hoàn toàn thoải mái trong nhà mình như nó đang thế, nhưng bạn lại muốn làm cung điện to. Cung điện to đó không phải dành cho bạn, cung điện to đó là cho bản ngã. Bạn có thể hoàn toàn thoải mái như bạn đang thế, nhưng bạn cứ tích luỹ tiền bạc - tiền đó không dành cho bạn, tiền đó dành cho bản ngã. Làm sao bạn có thể nghỉ ngơi được chừng nào bạn còn chưa trở thành người giàu nhất trên thế giới?

Nhưng bạn làm gì bởi việc trở thành người giàu nhất thế giới? Bạn sẽ trở nên ngày một khổ hơn - bởi vì chỉ khổ mới bắt nguồn từ xung đột. Khổ là một chỉ báo rằng bạn đang trong xung đột. Cho nên đừng đổ trách nhiệm của mình lên cái gì đó khác. Mọi người rất thạo hợp lí hoá. Nếu họ khổ họ sẽ nói, "Chúng ta có thể làm được gì? - nghiệp của các kiếp quá khứ đang làm chúng ta khổ."

Toàn rác rưởi! Nghiệp kiếp quá khứ phải đã làm bạn khổ, nhưng mà trong các kiếp quá khứ! Sao chúng phải đợi mãi tới bây giờ? Chẳng ích gì mà chờ đợi cả. Nghiệp hiện tại của bạn đang làm cho bạn khổ đấy! Việc ném nó vào các kiếp sống quá khứ làm cho bạn thấy dễ dàng - bạn có thể làm được gì nào? Bạn phải là cái bạn đang là, bây giờ chẳng cái gì có thể được làm cả. Quá khứ không thể được hoàn tác lại, bạn không thể xoá bỏ nó chỉ bằng việc phủi tay. Không thần thông nào có thể giúp bạn xoá đi quá khứ của mình. Nó đã xảy ra rồi và nó đã xảy ra mãi mãi; bây giờ nó là tuyệt đối, không có khả năng nào thay đổi nó. Điều đó làm giảm nhẹ gánh nặng cho bạn và bạn nghĩ, "Đành vậy, mình phải bị khổ bởi vì nghiệp quá khứ."

Bạn có thể đổ trách nhiệm lên quỉ, như người Ki tô giáo vẫn cứ làm. Người Hindu cứ đổ trách nhiệm lên nghiệp quá khứ còn người Ki tô giáo cứ đổ trách nhiệm lên quỉ - quỉ phải đang tạo ra bẫy cho bạn. Không phải là bạn, chính quỉ mới bẫy bạn vào khổ và cứ lôi kéo bạn xuống địa ngục.

Ai bị bận tâm với bạn? Sao quỉ này lại phải bận tâm tới bạn?

Thế rồi có những người Mác xít, người cộng sản, người xã hội - họ nói chính cấu trúc xã hội, hệ thống kinh tế làm cho mọi người khổ. Thế rồi có những người theo Freud, các nhà phân tâm; họ nói đó là do mối quan hệ mẹ con. Nhưng điều đó bao giờ cũng là cái gì đó khác, điều đó chưa bao giờ là bạn. Nó chưa bao giờ là bạn trong hiện tại.

Và tôi muốn nói với bạn, điều đó là bạn đấy. Nếu bạn khổ, bạn và chỉ bạn chịu trách nhiệm thôi. Chẳng quá khứ, chẳng cấu trúc xã hội, chẳng hệ thống kinh tế nào - chẳng cái gì sẽ có ích. Nếu bạn vẫn còn là bạn, trong bất kì loại xã hội nào, bạn sẽ vẫn còn khổ. Trong bất kì hệ thống kinh tế nào bạn sẽ vẫn còn khổ, trong bất kì thế giới nào bạn sẽ vẫn còn khổ - nếu bạn vẫn còn là bạn.

Và điều đầu tiên, thay đổi cơ bản xảy ra khi bạn bắt đầu vứt bỏ xung đột này với sự tồn tại. Đó là nghĩa duy nhất của tất cả các tôn giáo lớn khi họ nhấn mạnh, "Vứt bỏ bản ngã." Họ đang nói, "Vứt bỏ xung đột." Tôi muốn bạn nhớ điều đó thêm nữa, bởi vì 'vứt bỏ bản ngã' dường như quá siêu hình. Bản ngã sao? - bản ngã ở đâu? bản ngã là gì? Từ này dường như đã được biết tới, bạn dường như đã quá quen với nó, nhưng nó lại dường như rất mơ hồ, không thể nào hiểu thấu được. Tôi muốn làm cho nó thành thực tế hơn: vứt bỏ xung đột, bởi vì bản ngã là sản phẩm phụ của thái độ xung đột của bạn.

Mọi người nói tới chinh phục thiên nhiên, mọi người nói tới chinh phục cái này cái nọ - làm sao bạn có thể chinh phục được thiên nhiên? Bạn là một phần của nó. Làm sao bộ phận chinh phục được toàn thể? Thấy cái ngu xuẩn của điều đó, cái ngu ngốc đó. Bạn có thể tồn tại cùng với cái toàn thể trong hài hoà, hay bạn có thể trong xung đột với cái toàn thể trong không hài hoà. Không hài hoà làm phát sinh khổ; hài hoà làm phát sinh phúc lạc. Hài hoà tự nhiên làm phát sinh im lặng, niềm vui, niềm sung sướng sâu sắc. Xung đột làm phát sinh lo âu, phiền não, căng thẳng, dồn nén.

Bản ngã không là gì ngoài tất cả mọi căng thẳng bạn đã tạo ra quanh mình. Và ngay chỗ đầu tiên không cần tạo ra nó - nhưng sao con người cứ tạo ra nó? Phải có lí do nào đó. Sao mọi người cứ tạo ra cái ta? Cái ta thực là không được biết tới, đó là lí do tại sao. Và rất khó sống mà không có cái ta, cho nên chúng ta tạo ra cái ta giả, cái ta thay thế. Cái ta thực là không được biết tới.

Trong thực tế, cái ta thực chẳng bao giờ trở nên được biết hoàn toàn; nó vẫn còn là huyền bí, nó vẫn còn không thể tả được, không thể định nghĩa được. Cái ta thực bao la tới mức bạn không thể định nghĩa được nó, và cái ta thực huyền bí tới mức bạn không thể thấm vào nó tới tận cốt lõi được. Cái ta thực là cái ta của cái toàn thể. Trí tuệ con người không thể thấm vào đó, không thể cân nhắc, suy tư về nó được.

Tôi đã nghe, có câu chuyện nổi tiếng về một hiền nhân, người được Alexander Đại Đế triệu vời vào gặp. Và Alexander hỏi ông ấy, "Ta đã nghe nói rằng ông đã biết Thượng đế là gì, cho nên hãy nói cho ta. Ta đã đi tìm, và mọi người nói ông đã đạt tới, nên hãy làm sáng tỏ cho ta về Thượng đế, Thượng đế là gì."

Tương truyền hiền nhân này nói, "Xin bệ hạ hãy cho tôi ít nhất là hai mươi bốn giờ để nghĩ về nó."

Hai mươi bốn giờ trôi qua, và Alexander chờ đợi rất háo hức. Hiền nhân tới và ông ấy nói, "Phải cần bảy ngày nữa."

Và thế rồi bảy ngày trôi qua, và Alexander rất sốt ruột. Hiền nhân tới và ông ấy nói, "Phải cần một năm nữa."

Alexander nói, "Ông muốn nói gì, cần một năm nữa sao? Ông biết hay ông không biết? Nếu ông biết, thì ông biết - nói cho ta đi. Sao lại phí thời gian?"

Hiền nhân này cả cười và ông ấy nói, "Tôi càng suy tư, điều đó lại càng trở thành không thể biết được. Tôi càng biết nhiều, vấn đề lại càng trở nên khó hơn để nói rằng tôi biết. Hai mươi bốn giờ tôi đã cố gắng và cố gắng, và nó bắt đầu trượt khỏi tay tôi. Nó rất khó nắm bắt - nó giống như thuỷ ngân vậy. Thế là tôi đã yêu cầu bảy ngày - điều đó cũng chẳng ích gì. Bây giờ, phải ít nhất một năm - và tôi cũng không chắc rằng tôi sẽ có khả năng đem ra định nghĩa."

Hiên nhân này đã làm hết sức. Ông ấy phải đã là trí huệ thực, bởi vì không có cách nào định nghĩa cái ta thực. Nhưng con người không thể sống mà không có cái ta - người ta cảm thấy trống rỗng thế! Thế thì người ta cảm thấy giống như bánh xe không có trục; thế thì người ta cảm thấy giống như chu vi không có trung tâm. Không, khó mà sống không có cái ta.

Biết cái ta thực là điều gian nan vất vả; người ta phải du hành lâu để về nhà. Người ta phải gõ lên nhiều cửa trước khi người ta đi tới đúng cửa. Thủ đoạn dễ dàng là, bạn có thể tạo ra cái ta giả. Trồng hoa hồng thực thì khó; bạn có thể mua hoa hồng nhựa. Chúng sẽ không lừa bạn, nhưng chúng sẽ lừa hàng xóm. Hừ? - đó là vấn đề của cái ta, bản ngã. Nó không thể lừa được bạn - bạn biết rõ rằng bản thân mình không biết mình là ai - nhưng ít nhất nó có thể lừa hàng xóm. Trong thế giới bên ngoài ít nhất bạn cũng có cái nhãn nào đó, bạn là ai.

Bạn đã bao giờ nghĩ về điều đó chưa? Nếu ai đó hỏi, "Bạn là ai?" bạn trả lời thế nào? Bạn nói tên mình. Cái tên không phải là của bạn, bởi vì bạn đi vào trong thế giới không có tên; bạn tới vô danh. Nó không phải là thuộc tính của bạn, nó đã được trao cho bạn. Và bất kì cái tên nào, A-B-C-D, cũng đều hữu dụng; nó là tùy tiện. Nó không phải là bản chất theo bất kì cách nào.

Nếu bạn được gọi là 'Ram,' tốt; nếu bạn được gọi là 'Hari,' tốt, chẳng tạo ra khác biệt gì. Bất kì cái tên nào cũng áp dụng được cho bạn như mọi cái tên khác. Nó chỉ là cái nhãn. Cái tên là cần thiết để gọi bạn, nhưng nó chẳng liên quan gì tới bản thể bạn cả. Hay bạn nói, "Tôi là bác sĩ " hay bạn nói, "Tôi là kĩ sư " - hay doanh nhân, hay hoạ sĩ, hay thế này thế nọ - nhưng chẳng cái gì nói điều gì về bạn cả.

Khi bạn nói, "Tôi là bác sĩ," bạn nói điều gì đó về nghề nghiệp của mình, không về mình. Bạn nói cách bạn kiếm sống. Bạn không nói gì về cuộc sống cả, bạn nói điều gì đó về việc sống của mình. Bạn có thể kiếm sống như một kĩ sư, hay như một bác sĩ, hay như một doanh nhân - điều đó không liên quan. Điều đó không nói gì về bạn cả.

Hay bạn nói tên bố mình, tên mẹ mình, cây gia phả nhà mình - điều đó nữa cũng chẳng liên quan bởi vì điều đó không xác định bạn. Con người bạn được sinh ra trong một gia đình đặc biệt là điều ngẫu nhiên; bạn cũng có thể đã được sinh ra trong gia đình khác và bạn thậm chí chẳng để ý gì tới khác biệt. Đây chỉ là những thủ đoạn tiện dụng - và con người trở thành cái ta. Cái ta này là cái ta giả, cái ta được chế tạo, được làm ra, tự sản xuất lấy. Cái ta thực của riêng bạn thì vẫn còn ẩn sâu bên dưới trong sương mù và bí ẩn.

Tôi đã đọc:

Một người Pháp đi ngang qua sa mạc cùng một người hướng dẫn A rập. Ngày nọ tiếp ngày kia, người A rập chẳng bao giờ không quì gối lên cát nóng bỏng và gọi tên Thượng đế của mình. Cuối cùng, một buổi tối kẻ không tin kia nói với người A rập, "Làm sao anh biết có Thượng đế?"

Người hướng dẫm nhìn chằm chằm vào kẻ hay nhạo báng một lúc rồi đáp: "Làm sao tôi biết có Thượng đế à? Làm sao tôi đã biết rằng con lạc đà chứ không phải là con người đã đi qua đêm qua? Đó chẳng phải là dấu móng của nó trong cát sao?" Và chỉ vào mặt trời đang hắt những tia nắng mờ dần trên đường chân trời, người đó nói thêm, "Dấu vết đó không phải là của con người."

Cái ta của bạn không thể được bạn tạo ra, nó không thể do con người làm ra được. Cái ta của bạn đã mang bạn đi, nó là bạn. Làm sao bạn có thể tạo ra nó được? Để tạo ra nó bạn sẽ phải có đó ngay chỗ đầu tiên. Đó là ý nghĩa khi người Ki tô giáo, người Mô ha mét giáo, người Hindu, nói rằng con người là sinh linh. Điều đó nghĩa là con người đã không tạo ra bản thân mình, có thế thôi. Đấng sáng tạo ở đâu đó ẩn trong cái không biết. Chúng ta đã bắt nguồn từ cội nguồn cuộc sống bí ẩn nào đó. Cái ta của bạn không phải là của bạn! Cái ta giả tạo này không phải là của bạn bởi vì bạn đã tạo ra nó; và cái ta thực của bạn cũng không phải của bạn bởi vì nó vẫn ở trong Thượng đế, bạn vẫn được bắt rễ vào Thượng đế.

Cái ta giả tạo mà chúng ta cứ mang theo trong các kiếp sống của mình như lá cờ bao giờ cũng mang nguy cơ bị hỏng. Nó rất mong manh, nó rất yếu đuối - nó phải như vậy, nó là nhân tạo. Làm sao con người có thể làm ra cái gì đó bất tử được? Bản thân con người phải đi qua nhiều cái chết, cho nên bất kì cái gì con người tạo ra bao giờ cũng hữu tử. Do đó mới có sợ hãi, liên tục sợ hãi rằng "Mình có thể bị mất. Cái ta của mình có thể bị phá huỷ." Nỗi sợ liên tục run rẩy bên trong con người bạn - bạn không bao giờ có thể chắc chắn về cái ta giả tạo của mình, bạn biết nó là giả. Bạn có thể né tránh sự kiện này nhưng bạn biết nó là giả. Nó được tụ tập lại cùng nhau, được chế tạo ra; nó mang tính máy móc, nó không mang tính hữu cơ.

Bạn có quan sát khác biệt giữa đơn vị hữu cơ và đơn vị máy móc không? Bạn làm ra động cơ xe ô tô, bạn có thể mua các bộ phận trên thị trường và bạn có thể lắp ráp các bộ phận đó, và động cơ bắt đầu hoạt động như một đơn vị. Hay bạn có thể mua các bộ phận của chiếc radio từ chợ và bạn có thể lắp chúng lại, và chiếc radio bắt đầu hoạt động như một đơn vị. Bằng cách nào đó nó đi tới có một cái ta. Không bộ phận nào có thể vận hành tự nó như chiếc radio được - tất cả các bộ phận cùng nhau bắt đầu vận hành như một chiếc radio. Nhưng dầu vậy đơn vị này vẫn cứ mang tính máy móc, bị ép buộc từ bên ngoài. Nhưng khi bạn gieo hạt mầm vào đất, những hạt mầm này chết đi trong đất và cây mọc lên - đơn vị này là hữu cơ. Nó không bị ép buộc từ bên ngoài, đơn vị này ở bên trong bản thân hạt mầm. Hạt mầm cứ mọc lên, cứ thu lấy cả nghìn lẻ một thứ từ đất, từ không khí, từ mặt trời, từ bầu trời - nhưng đơn vị này đang tới từ bên trong. Trung tâm tới trước và thế rồi chu vi tới. Trong đơn vị máy móc chu vi tới trước rồi trung tâm mới tới.

Con người là một đơn vị hữu cơ. Một ngày nào đó bạn đã là hạt mầm, như bất kì cái cây nào; trong mảnh đất của bụng mẹ, bạn bắt đầu thu thập chu vi của mình. Trung tâm tới trước hết, trung tâm đi trước chu vi - và bây giờ bạn đã quên mất trung tâm hoàn toàn. Bạn sống ở chu vi và bạn nghĩ đây là toàn thể cuộc sống của mình. Chu vi này, và việc liên tục sống trên nó, tạo ra một loại cái ta, cái ta giả tạo, cái cho bạn cảm giác rằng có, bạn là ai đó. Nhưng nó bao giờ cũng run rẩy bởi vì nó không có đơn vị hữu cơ bên trong nó.

Do đó, có sợ chết. Nếu bạn biết cái ta thực của mình bạn sẽ chẳng bao giờ sợ chết cả, không có vấn đề gì, bởi vì đơn vị hữu cơ không bao giờ chết. Đơn vị hữu cơ là bất tử. Chỉ các đơn vị máy móc được gắn lại với nhau và chết. Cái được gắn lại với nhau, một ngày nào đó sẽ rời nhau ra. Đơn vị máy móc có cái bắt đầu và cái kết thúc. Đơn vị hữu cơ không có bắt đầu và không có kết thúc - nó là quá trình vĩnh hằng.

Bạn có biết trung tâm của mình không? Nếu bạn không biết nó, bạn sẽ liên tục sợ hãi. Do đó, ý thức về cái ta bao giờ cũng sợ hãi, bao giờ cũng run rẩy. Và bạn bao giờ cũng cần hỗ trợ từ người khác - ai đó ca ngợi bạn, ai đó vỗ tay; ai đó nói bạn đẹp thế hay thông minh thế. Bạn cần ai đó nói những điều này cho bạn, giống như những lời gợi ý thôi miên, để cho bạn có thể tin rằng đúng, bạn thông minh, bạn đẹp, bạn mạnh. Nhưng thấy điểm này: bạn phụ thuộc vào người khác.

Người ngu tới bạn và nói bạn rất thông minh - và thực tế, bạn có thể trông có vẻ thông minh đấy chỉ là đối với người ngu thôi. Nếu người đó thông minh hơn bạn, tất nhiên bạn sẽ không có vẻ thông minh đối với người đó. Cho nên người ngu tới và xác nhận thông minh của bạn và bạn lại rất sung sướng. Bạn có thể trông đẹp chỉ với người xấu thôi. Nếu người đó đẹp hơn bạn, bạn sẽ trông thành xấu - bởi vì điều đó tất cả đều là tương đối. Và bạn được xác nhận bởi những người xấu rằng bạn đẹp, và bạn cực kì sung sướng.

Đây là kiểu thông minh gì vậy, điều được xác nhận bởi những người ngu? Đây là kiểu đẹp gì vậy, điều được xác nhận bởi những người xấu? Điều đó hoàn toàn là giả tạo. Điều đó là ngu ngốc! Nhưng chúng ta cứ đi tìm. Chúng ta cứ sục sạo ở thế giới bên ngoài để tìm hỗ trợ nào đó cho bản ngã của mình, ai đó cho chút ít hỗ trợ, trở thành người ủng hộ. Bằng không thì bao giờ cũng có nguy hiểm rằng bản ngã của chúng ta sẽ sụp đổ. Cho nên chúng ta hỗ trợ nó từ bên này bên nọ, và lo nghĩ liên tục phát sinh.

Đó là lí do tại sao bạn lại duyên dáng hơn khi bạn một mình - bởi vì bạn không lo nghĩ. Không ai có đó mà nhìn bạn. Bạn hồn nhiên hơn khi bạn một mình - trong buồng tắm của mình bạn hồn nhiên hơn, bạn giống đứa trẻ nhiều hơn. Rồi bạn lại đứng trước gương và soi gương, và bạn thích thú điều đó. Nhưng nếu bạn trở nên nhận biết rằng đứa con nhỏ của mình đang nhìn qua lỗ khoá, lập tức bạn sẽ hoàn toàn khác. Bây giờ bản ngã bị lâm nguy. Đó là lí do tại sao mọi người lại sợ người khác thế. Một mình, không có lo âu.

Có câu chuyện Thiền nổi tiếng:

Một thiền sư đang vẽ, và ông ấy có đại đệ tử của mình chầu chực ngay bên cạnh để nhắc ông ấy khi nào thì bức tranh hoàn hảo. Đệ tử này lo lắng và thầy cũng lo lắng, bởi vì đệ tử chưa bao giờ thấy thầy làm cái gì không hoàn hảo cả. Nhưng hôm đó mọi sự bắt đầu đi sai. Thầy cố gắng, và thầy càng cố gắng, sự việc lại càng thành đống lộn xộn.

Ở Nhật Bản hay ở Trung Quốc, toàn thể nghệ thuật viết chữ đều được thực hiện trên giấy hồ bột gạo, trên giấy rất nhạy nào đó, mỏng tang. Nếu bạn do dự một chút, hàng thế kỉ người ta đều biết chỗ nào người viết do dự - bởi vì nhiều mực hơn ăn vào giấy hồ gạo và làm nó thành lộn xộn. Rất khó lừa giấy hồ gạo. Bạn phải liên tục nở hoa; bạn không do dự. Cho dù chỉ một khoảnh khắc thôi, một giây đứt quãng, nếu bạn do dự - làm gì đây? - bạn đã lỡ rồi, đã bỏ lỡ rồi. Và người có con mắt tinh tường lập tức sẽ nói ngay, "Đấy không phải là bức vẽ của thiền sư chút nào " - bởi vì bức vẽ thiền phải là bức vẽ tự phát, tuôn chảy.

Thầy cố gắng và cố gắng mãi mà thầy càng cố gắng... thầy bắt đầu vã mồ hôi. Và đệ tử vẫn đang chầu hẫu ở đó cứ lắc đầu hoài phủ định, "Không, cái này không hoàn hảo." Và thầy ngày một phạm phải nhiều sai lầm hơn.

Thế rồi mực đổ cho nên thầy nói, "Con ra ngoài pha mực lại đi." Khi đệ tử ra ngoài pha mực, thầy đã làm ra kiệt tác của mình. Khi đệ tử quay lại anh ta nói, "Thầy ơi, nhưng bức vẽ hoàn hảo rồi! Có chuyện gì vậy?"

Thầy cười; thầy nói, "Ta đã trở nên nhận biết về một điều - sự hiện diện của con, chính ý tưởng rằng ai đó ở đây để ca ngợi hay lên án, để nói không hay có, đã làm xáo động tĩnh lặng bên trong của ta. Bây giờ ta sẽ chẳng bao giờ bị xáo động nữa. Ta đã đi tới biết rằng ta đã cố gắng làm cho nó hoàn hảo và đó là lí do duy nhất cho sự không hoàn hảo của nó."

Thử làm cái gì đó hoàn hảo và nó sẽ vẫn còn không hoàn hảo. Làm nó một cách tự nhiên và nó bao giờ cũng hoàn hảo. Tự nhiên là hoàn hảo; nỗ lực là không hoàn hảo. Cho nên bất kì khi nào bạn làm điều gì đó quá nhiều, bạn đang phá huỷ nó.

Đó là lí do tại sao điều đó xảy ra: mọi người đều nói hay thế - mọi người đều là người nói, mọi người nói cả đời mình - nhưng đẩy họ lên bục và bảo họ nói với đám đông và bỗng nhiên họ trở thành câm; bỗng nhiên họ quên hết mọi thứ, bỗng nhiên họ không thể thốt ra được lời nào. Hay, cho dù họ có thốt ra, điều đó cũng không duyên dáng, nó không tự nhiên, nó không tuôn chảy. Điều gì đã xảy ra? Và bạn đã biết con người này nói hay thế với bạn bè, với vợ con mình. Đây cũng là mọi người, cùng những con người đó - sao bạn lại sợ? Bạn đã trở nên ý thức về cái ta. Bây giờ bản ngã lâm nguy, bạn đang cố gắng thực hiện cái gì đó.

Nghe cẩn thận đi: bất kì khi nào bạn cố gắng thực hiện cái gì đó, bạn đang tìm thức ăn cho bản ngã. Bất kì khi nào bạn tự nhiên và để cho mọi thứ xảy ra, chúng đều hoàn hảo, và thế thì không có vấn đề gì. Khi bạn tự nhiên và để cho mọi sự xảy ra, Thượng đế ở phía sau bạn. Khi bạn sợ, run rẩy, cố gắng chứng minh điều gì đó, bạn đánh mất Thượng đế. Trong sợ hãi, bạn đã quên mất ngài. Bạn đang nhìn vào mọi người và bạn đã quên mất cội nguồn của mình.

Ý thức về cái ta trở thành điểm yếu. Người không ý thức về cái ta thì mạnh, nhưng sức mạnh của người đó chẳng liên quan gì tới bản thân người đó - nó tới từ cõi bên kia.

Khi bạn ý thức về cái ta bạn gặp rắc rối. Khi bạn ý thức về cái ta bạn thực sự biểu lộ triệu chứng rằng bạn không biết mình là ai. Chính việc ý thức về cái ta của bạn chỉ ra rằng bạn còn chưa về nhà.

Chuyện xảy ra:

Khi một cô gái đẹp đi ngang qua, Mulla Nasruddin quay sang nhìn. Vợ anh ta nói với cái bĩu môi, "Lần nào anh thấy con gái đẹp anh cũng quên mất là anh đã có vợ."

"Đó là chỗ em sai đấy," Mulla nói. "Chẳng cái gì làm cho anh nhận biết hơn về sự kiện đó!"

Bất kì khi nào bạn ý thức về cái ta, bạn đơn giản biểu lộ rằng bạn không có ý thức chút nào. Bạn không biết mình là ai. Nếu bạn biết, thế thì đã không có vấn đề rồi - thế thì bạn không tìm kiếm dư luận. Thế thì bạn không lo nghĩ điều người khác nói về bạn - điều đó không liên quan! Thực tế, không ai đã bao giờ nói điều gì về bạn cả - bất kì khi nào mọi người nói điều gì đó về bạn, họ đang nói điều đó về bản thân mình.

Một hôm chuyện xảy ra: tôi ở Jaipur và một người tới vào buổi sáng để gặp tôi, và người đó nói, "Thầy là điều thiêng liêng."

Tôi nói, "Bạn phải đấy!"

Người đó ngồi đấy và một người khác tới và người này rất chống lại tôi, và thế rồi người này nói, "Ông gần như quỉ dữ."

Tôi nói, "Bạn phải đấy!"

Người thứ nhất trở nên chút ít lo nghĩ. Người đó nói, "Thầy ngụ ý gì? Thầy đã nói với tôi, 'Bạn phải đấy,' và thầy lại nói với người này, 'Bạn phải đấy' - chúng tôi cả hai không thể cùng đúng được."

Tôi bảo người đó, "Không chỉ hai đâu - hàng triệu người có thể đúng về tôi, bởi vì bất kì điều gì họ nói về tôi, họ đều nói về bản thân họ thôi. Làm sao họ có thể biết tôi được? Điều đó là không thể được - họ thậm chí còn chưa biết tới bản thân mình. Bất kì điều gì họ nói cũng đều là diễn giải của họ. "

Thế là người này nói, "Thế thì thầy là ai? Nếu đây là diễn giải của tôi rằng thầy là thiêng liêng, và đây là diễn giải của người kia rằng thầy là quỉ, thế thì thầy là ai?"

Tôi nói, "Tôi chỉ là bản thân tôi thôi. Tôi không có diễn giải về bản thân mình, và không có nhu cầu. Tôi đơn giản vui vẻ là bản thân mình, dù điều đó có nghĩa là bất kì cái gì. Tôi hạnh phúc trong việc là bản thân tôi."

Không ai có thể nói điều gì về bạn được. Bất kì điều gì mọi người nói cũng đều về bản thân họ. Nhưng bạn trở nên rất dao động, bởi vì bạn vẫn níu bám lấy một trung tâm giả tạo. Trung tâm giả tạo đó phụ thuộc vào người khác, cho nên bạn bao giờ cũng nhìn vào điều mọi người nói về bạn. Và bạn bao giờ cũng theo người khác, bạn bao giờ cũng cố gắng thoả mãn họ. Bạn bao giờ cũng cố gắng được kính trọng, bạn bao giờ cũng cố gắng trang điểm cho bản ngã mình. Đây là tự tử.

Thay vì bị quấy rối bởi điều người khác nói, bạn nên bắt đầu nhìn vào bên trong bản thân mình. Biết cái ta thực không rẻ như vậy đâu. Nhưng mọi người bao giờ cũng khao khát những điều rẻ rúng.

Chuyện xảy ra:

Khi cái đau ở lưng của Mulla Nasruddin trở thành không thể chịu được, anh ta lưỡng lự đi tới một chuyên gia để chẩn đoán vấn đề của mình.

"Thế này," bác sĩ nói, "vấn đề của anh có thể chữa được bằng phẫu thuật, hai tuần nằm bệnh viện và sáu tháng nằm ngang hoàn toàn."

"Bác sĩ, tôi không thể đảm đương được chi phí cho tất cả mọi điều đó!" Nasruddin kêu lên.

"Vậy được, với hai mươi nhăm đô la tôi có thể chấn chỉnh lại tia X," bác sĩ gợi ý.

Thế này thì rẻ! - chỉnh lại tia X thôi - nhưng điều đó sẽ không làm cho bạn mạnh khoẻ. Đó là điều chúng ta đang làm, liên tục chỉnh lại tia X và nghĩ rằng bằng cách nào đó phép màu sẽ xảy ra. Khi bạn trang điểm cho bản ngã của mình bạn đang chỉnh lại tia X đấy. Điều đó sẽ không giúp ích theo bất kì cách nào, nó sẽ không giúp bạn trở nên mạnh khoẻ. Nhưng nó rẻ hơn. Không cần mổ xẻ gì, không tốn kém nào thêm. Nhưng phỏng có ích gì? Khổ của bạn vẫn còn đó.

Bạn trở nên đáng kính và khổ của bạn vẫn còn đó. Bạn trở nên được xã hội đề cao - khổ của bạn vẫn còn đó. Bạn được trang điểm bằng huân chương vàng nhưng khổ của bạn vẫn còn đó. Nhưng huân chương vàng này sẽ chẳng phá bỏ khổ của bạn; chúng giống như việc chỉnh lại tia X. Mọi trang điểm lên bản ngã, vì bản ngã, đều không là gì ngoài việc tự lừa dối mình. Và bạn cứ ngày một trở nên yếu hơn, yếu hơn và yếu hơn - bởi vì bản ngã cứ trở nên yếu đi mọi ngày. Thân thể bạn sẽ trở nên yếu hơn, tâm trí bạn sẽ trở nên yếu hơn, và dần dần bản ngã bạn đã tạo ra từ tổ hợp thân thể và tâm trí sẽ trở nên yếu hơn. Nỗi sợ sẽ trở nên ngày một lớn hơn, bạn ngồi trên núi lửa có thể nổ tung bất kì ngày nào. Nó sẽ không cho phép bạn nghỉ ngơi. Nó sẽ không cho phép bạn thảnh thơi, nó sẽ không cho phép bạn có bất kì khoảnh khắc an bình nào.

Một khi bạn hiểu điều đó thì toàn thể năng lượng được đặt sang chiều hướng khác. Người ta phải tự biết bản thân mình. Người ta phải không bị lo nghĩ về điều người khác nói về bạn.

Một người bạn đã gửi cho tôi một chuyện đùa rất hay:

Vậy là có anh chàng này, và chẳng ai đã từng để ý tới anh ta. Anh ta không có bạn bè nào. Anh ta tới dự cuộc hội nghị bán hàng ở Miami, và anh ta thấy rằng mọi người khác đều hạnh phúc và cười và chú ý tới nhau, chẳng chú ý tới anh ta.

Một buổi tối anh ta đang ngồi thực sự chẳng có chuyện gì thì anh ta bắt chuyện với một người bán hàng khác. Anh ta kể lại vấn đề của mình. "Ồ, tôi biết cách sửa điều đó rồi," người kia kêu lên. "Anh lấy con lạc đà và cưỡi lên nó đi vòng trên phố, và lập tức mọi người sẽ để ý tới anh và anh sẽ có mọi người bạn mình muốn."

Điều tất yếu xảy tới, có một đám xiếc đang sắp sập tiệm và họ muốn bán lạc đà. Người này mua nó và cưỡi lên nó và đi xuống phố, và chắc chắn, mọi người đều để ý tới anh ta và chú ý tới anh ta. Anh ta cảm thấy mình như trên đỉnh thế giới.

Nhưng thế rồi một tuần sau, con lạc đà biến mất. Người này rất buồn và lập tức điện thoại tới toà báo địa phương để xin đăng tin về con lạc đà bị mất của mình.

"Đấy là con lạc đà đực hay cái thế?" một anh chàng hỏi qua điện thoại.

"Con đực hay con cái sao? Làm sao mà tôi biết được?" người này phát cuồng. Thế rồi anh ta nghĩ, "Ồ, ấy, tất nhiên, nó là con đực, đúng rồi."

"Làm sao ông biết được?" người đăng quảng cáo hỏi.

"Bởi vì," người này nói, "mọi lần tôi cưỡi nó lên xuống phố mọi người đều kêu thét, 'Hãy nhìn cái schmuck trên con lạc đà kia! "'

Schmuck là từ Yiddish, một từ rất hay. Nó có hai nghĩa, và là những nghĩa rất có liên quan. Một nghĩa là 'đồ ngốc' và nghĩa kia, ngay từ đầu đã rất giống sự cường điệu, nghĩa là bộ phận sinh dục đực. Nhưng theo một cách nào đó cả hai nghĩa đều có quan hê rất sâu sắc. Kẻ ngốc chỉ sống như một sinh vật dục - họ không biết điều gì về kiếp sống khác. Cho nên schmuck là hay. Nếu một người chỉ biết cuộc sống là mỗi dục thì người đó là kẻ ngốc nghếch, người đó là kẻ ngu si.

Bây giờ, mọi người đều nói, "Nhìn kẻ ngốc trên con lạc đà kìa!" nhưng người này cứ nghĩ họ đang nói về bộ phận sinh dục đực của con lạc đà, không phải về mình.

Bản ngã rất lừa dối. Nó cứ nghe điều nó muốn nghe. Nó cứ diễn giải điều nó muốn diễn giải, nó chẳng bao giờ thấy sự kiện. Nó chẳng bao giờ cho phép sự kiện để lộ bản thân nó cho bạn. Những người sống trong bản ngã đều sống đằng sau bức rèm. Và những bức rèm này lại không phải không hoạt động - chúng là những bức rèm hoạt động. Bất kì cái gì đi qua bức rèm, bức rèm lại làm thay đổi nó.

Mọi người cứ sống trong thế giới tâm trí của sự bịa đặt riêng của mình. Bản ngã là trung tâm của thế giới của họ - gọi nó là 'ảo tưởng,' maya - và quanh bản ngã họ cứ tạo ra thế giới... cái không phải là thế giới của bất kì ai khác. Chỉ họ mới sống trong thế giới đó.

Khi bạn vứt bỏ bản ngã, bạn vứt bỏ toàn thể thế giới mà mình đã tạo ra quanh nó. Lần đầu tiên bạn có khả năng thấy mọi thứ như chúng đang đấy - không như bạn muốn chúng là vậy. Và khi bạn có khả năng biết sự kiện của cuộc sống, bạn trở nên có khả năng biết tới chân lí.

Bây giờ là một câu chuyện Thiền:

Một đô vật có tên O-Nami, "Sóng Lớn," khoẻ lắm và rất giỏi trong nghệ thuật vật. Ở chỗ riêng tư anh ta đánh bại ngay cả thầy mình, nhưng ở chỗ công chúng, học trò trẻ nhất của anh ta có thể vật ngã anh ta.

Băn khoăn lắm anh ta tới một Thiền sư, người đã ở lại trong ngôi chùa gần đó cạnh biển, và hỏi xin lời khuyên.

"Sóng Lớn là tên con," thầy nói, "vậy nên hãy ở lại trong chùa này đêm nay và nghe sóng của biển cả. Tưởng tượng con là những sóng đó, quên con là đô vật đi và trở thành những sóng khổng lồ cuốn đi mọi thứ trước chúng."

O-Nami ở lại. Anh ta cố gắng nghĩ chỉ về sóng, nhưng anh ta lại nghĩ tới nhiều thứ. Thế rồi dần dần anh nghĩ chỉ về sóng thôi. Chúng cuộn tới ngày một lớn khi đêm tàn dần. Chúng cuốn đi các bông hoa trong các bình lọ trước tượng Phật, chúng cuốn đi các bình hoa. Ngay cả tượng Phật bằng đồng cũng bị cuốn đi. Đến bình minh ngôi đền dâng tràn sóng, và O-Nami ngồi đó với nụ cười yếu ớt trên mặt.

Ngày hôm đó anh ta đã đi vào trong cuộc thi đấu vật công khai và đã thắng lần lượt mọi người, và từ ngày đó không ai ở Nhật Bản có thể vật ngã được anh ta.

Đây là câu chuyện về ý thức về cái ta và cách làm mất nó, và cách vứt bỏ nó, và cách loại bỏ nó. Chúng ta sẽ thử đi vào nó từng bước một.

Một đô vật có tên là O-Nami, "Sóng Lớn," khoẻ lắm...

Mọi người đều khoẻ lắm. Bạn không biết sức mạnh của mình; đó lại là vấn đề khác. Mọi người đều khoẻ lắm - phải như vậy, bởi vì mọi người đều được bắt rễ trong Thượng đế, mọi người đều được bắt rễ trong vũ trụ này. Dù bạn trông nhỏ bé đến đâu, bạn cũng không nhỏ bé đâu - bạn không thể thế được bởi chính bản chất của mọi thứ.

Bây giờ các nhà vật lí nói rằng trong một nguyên tử nhỏ bé hàm chứa biết bao nhiêu năng lượng - Hiroshima và Nagasaki đã bị phá huỷ bởi năng lượng nguyên tử. Và nguyên tử thì nhỏ bé thế - chẳng ai đã từng nhìn thấy nó! Đấy chỉ là suy diễn, suy luận, không ai đã từng trông thấy nguyên tử. Với tất cả những công cụ tinh vi mà khoa học ngày nay có được, chẳng ai đã trông thấy nguyên tử cả - nhỏ thế, và năng lượng bao la thế.

Nếu nguyên tử có thể có nhiều năng lượng như vậy, còn nói gì tới con người? Phải nói gì về ngọn lửa tâm thức nhỏ bé này trong con người? Nếu một ngày nào đó ngọn lửa nhỏ bé này bùng cháy, nó nhất định trở thành cội nguồn năng lượng và ánh sáng vô hạn. Đó là cách nó đã xảy ra cho Phật, hay cho Jesus.

Mọi người đều mạnh mẽ vô cùng bởi vì mọi người đều thiêng liêng vô cùng. Mọi người đều mạnh mẽ bởi vì mọi người đều được bắt rễ vào trong Thượng đế, trong chính nguồn gốc của sự tồn tại. Nhớ điều đó.

Tâm trí con người có xu hướng quên đi điều đó. Khi bạn quên điều đó, bạn trở nên yếu. Khi bạn trở nên yếu bạn bắt đầu cố gắng tìm cách thức nhân tạo để trở thành mạnh. Đó là điều hàng triệu người đang làm. Kiếm tiền, bạn đang thực sự kiếm cái gì? Bạn đang kiếm quyền lực, bạn đang kiếm sức mạnh. Kiếm uy tín, quyền lực chính trị, bạn đang kiếm cái gì? Bạn đang kiếm quyền lực, sức mạnh - và sức mạnh mọi lúc đều sẵn có ngay góc kia. Bạn đang tìm kiếm sai chỗ rồi.

Một đô vật có tên O-Nami, "Sóng Lớn"...

Chúng ta tất cả đều là những con sóng lớn của đại dương. Chúng ta có thể đã quên mất nó, nhưng đại dương đã không quên chúng ta. Chúng ta có thể đã quên nhiều về nó tới mức chúng ta chẳng có ý tưởng nào về đại dương là gì - dầu vậy, chúng ta vẫn là trong đại dương. Cho dù sóng có quên và trở nên quên lãng đại dương, thì nó vẫn ở trong đại dương - bởi vì sóng không thể tồn tại mà không có đại dương. Đại dương có thể tồn tại mà không có sóng - có thể là nó tồn tại mà không có sóng - nhưng sóng không thể tồn tại mà không có đại dương được. Sóng không là gì ngoài việc dậy sóng của đại dương; nó là một quá trình, nó không phải là thực thể. Nó chỉ là niềm vui vẻ của đại dương trong bản thể của nó. Thượng đế trong niềm vui vẻ của ngài tạo ra con người cho trái đất; Thượng đế trong vui vẻ của ngài tạo ra con người cho sự tồn tại. Đó là đại dương đi tìm đại dương, chỉ chơi đùa. Nó có năng lượng mênh mông - phải làm gì với nó?

Một đô vật có tên O-Nami, "Sóng Lớn," khoẻ lắm...

Nhưng sức mạnh này là khả năng chỉ khi sóng biết rằng nó là sóng của đại dương vĩ đại, vô hạn. Nếu sóng quên mất điều này, thế thì sóng rất yếu. Và 'cái quên' là lớn lắm; kí ức của chúng ta rất nhỏ, rất tí hon - cái quên, vô cùng. Chúng ta cứ quên hoài. Và cái rất hiển nhiên thì chúng ta quên rất dễ dàng. Cái rất gần chúng ta quên rất dễ dàng. Cái bao giờ cũng sẵn có chúng ta quên rất dễ dàng.

Bạn có nhớ tới việc thở của mình không? Bạn chỉ nhớ khi có rắc rối - bạn bị cảm lạnh, khó thở hay cái gì đó; bằng không, ai nhớ tới việc thở? Đó là lí do tại sao mọi người nhớ tới Thượng đế chỉ khi họ bị bất an. Bằng không, ai nhớ? Và Thượng đế còn gần hơn việc thở của bạn, gần hơn bạn là bản thân mình. Người ta có khuynh hướng quên.

Bạn đã từng quan sát điều đó chưa? Nếu bạn không có cái gì đó, bạn nhớ. Khi bạn có nó rồi bạn quên, bạn coi nó như được cho không. Bởi vì Thượng đế không thể bị mất, rất khó nhớ. Chỉ rất hiếm người mới trở nên có khả năng nhớ tới Thượng đế. Nhớ tới cái mà chúng ta chưa bao giờ xa khỏi nó là rất khó.

Cá trong đại dương quên mất đại dương. Ném cá lên bờ, trong cát, cát nóng, và thế thì cá biết, thế thì cá nhớ. Nhưng không có cách nào ném bạn ra khỏi Thượng đế được; không có bãi cát cho ngài - Thượng đế là đại dương không bãi cát. Và bạn không giống như cá, bạn giống như sóng. Bạn đích xác giống Thượng đế; bản tính của bạn và bản tính của Thượng đế là như nhau.

Đó là ý nghĩa biểu tượng của việc chọn cái tên này cho câu chuyện này.

Anh ấy rất giỏi trong nghệ thuật vật. Ở chỗ riêng tư anh ta đánh bại ngay cả thầy mình...

Nhưng ở chỗ riêng tư, bởi vì ở chỗ riêng tư anh ta phải đã có khả năng quên mất bản thân mình.

Nhớ lời kinh này. Khi bạn nhớ tới cái ta của mình, bạn quên mất Thượng đế; khi bạn quên cái ta của mình, bạn nhớ tới Thượng đế - và bạn không thể nhớ được cả cùng nhau. Khi sóng nghĩ về bản thân mình là sóng, nó quên mất rằng nó là đại dương. Khi sóng biết bản thân mình là đại dương, làm sao nó có thể nhớ bản thân mình bây giờ là sóng được? Chỉ một điều mới có thể. Hoặc sóng có thể nghĩ về bản thân nó như sóng, hoặc như đại dương. Đó là động thái. Bạn không thể nhớ cả hai cùng nhau, điều đó là không thể được.

Ở chỗ riêng tư anh ta đánh bại ngay cả thầy mình, nhưng ở chỗ công chúng, học trò trẻ nhất của anh ta có thể vật ngã anh ta.

Ở chỗ riêng tư anh ta phải đã hoàn toàn quên mất cái ta riêng của mình, bản ngã. Thế thì anh ta cực kì mạnh mẽ. Ở chỗ công chúng anh ta phải đã trở nên quá ý thức về cái ta. Thế thì anh ta yếu. Ý thức về cái ta là cái yếu. Quên cái ta là mạnh.

Băn khoăn lắm anh ta tới một Thiền sư, người đã ở lại trong ngôi chùa gần đó cạnh biển, và hỏi xin lời khuyên.

"Sóng Lớn là tên con," thầy nói, "vậy nên hãy ở lại trong chùa này đêm nay và nghe sóng của biển cả."

Thầy là người có thể tạo ra các phương cách cho mọi người. Thầy là người không có phương cách cố định. Thầy nhìn vào con người, người này O-Nami - "Sóng Lớn" - chỉ tên người đó thôi, và thầy tạo ra một phương cách quanh cái tên anh ta. Chỉ mới biết rằng tên anh ta là O-Nami, Sóng Lớn, thầy đã nói, "Sóng Lớn là tên con, vậy nên hãy ở lại trong chùa này đêm nay và nghe sóng của đại dương."

Nghe là một trong những bí mật cơ bản của việc đi vào trong ngôi đền của Thượng đế. Nghe có nghĩa thụ động. Nghe nghĩa là quên đi bản thân mình hoàn toàn - chỉ thế thì bạn mới có thể nghe được. Khi bạn nghe chăm chú ai đó, bạn quên mất bản thân mình. Nếu bạn không thể quên được bản thân mình, bạn chẳng thể nghe được. Nếu bạn quá ý thức về cái ta về bản thân mình, bạn đơn giản giả vờ rằng bạn nghe - bạn không nghe. Bạn có thể gật đầu; đôi khi bạn có thể nói có và không - nhưng bạn không nghe.

Khi bạn nghe, bạn trở thành chỉ là lối đi - thụ động, cảm nhận, bụng mẹ. Bạn trở thành nữ tính. Và để đạt tới, người ta phải trở thành nữ tính. Bạn không thể đạt tới Thượng đế như kẻ xâm lăng hùng hổ, kẻ chinh phục. Bạn chỉ có thể đạt tới Thượng đế... hay tốt hơn thì nên nói Thượng đế có thể đạt tới bạn chỉ khi bạn có tính cảm nhận, tính cảm nhận nữ tính. Khi bạn trở thành âm, cảm nhận, thì cánh cửa mở ra. Và bạn chờ đợi.

Nghe là nghệ thuật trở nên thụ động. Phật đã nhấn mạnh vào nghe nhiều lắm, Mahavira đã nhấn mạnh vào nghe nhiều lắm, Krishnamurti cứ nhấn mạnh vào nghe đúng nhiều lắm. Tai là biểu tượng. Bạn có để ý không? Tai bạn không là gì ngoài lối đi, chỉ là các lỗ hổng - không cái gì khác. Tai bạn còn nữ tính hơn mắt bạn; mắt bạn còn nam tính hơn. Tai bạn là phần âm; mắt bạn là phần dương. Khi bạn nhìn ai đó bạn mang tính năng nổ. Khi bạn nghe ai đó bạn cảm nhận.

Đó là lí do tại sao nhìn vào ai đó trong thời gian quá lâu lại trở thành khiếm nhã, vô lễ, bất lịch sự. Có giới hạn nào đó; các nhà tâm lí nói ba giây thôi. Nếu bạn nhìn vào một người trong ba giây thì được; điều đó có thể dung thứ được. Hơn thế, bạn không nhìn - bạn nhìn chòng chọc; bạn đang xúc phạm người đó; bạn đang xâm phạm. Nhưng nghe một người lại không có giới hạn, bởi vì tai không thể xúc phạm được. Chúng đơn giản vẫn còn ở chỗ chúng đang đấy.

Mắt cần nghỉ. Bạn đã thấy trong đêm - mắt cần nghỉ, tai không cần nghỉ. Chúng mở hai mươi tư tiếng, hết năm nọ tới năm kia. Mắt không thể mở mãi trong vài phút - liên tục nháy, liên tục mệt. Năng nổ gây mệt, bởi vì năng nổ lấy năng lượng của bạn ra; cho nên mắt phải nháy liên tục, để nghỉ. Tai bao giờ cũng nghỉ.

Đó là lí do tại sao âm nhạc đã được nhiều tôn giáo dùng như cách tiếp cận tới lời cầu nguyện - bởi vì âm nhạc sẽ làm cho tai bạn rung động hơn, nhạy cảm hơn. Người ta phải trở nên nhiều về tai và bớt dần về mắt.

"Trở thành tai đi," thầy nói. "Lắng nghe. Không có việc gì khác để làm cả - cứ nghe mà không có ý tưởng tại sao, không ý tưởng cái gì đang xảy ra. Cứ lắng nghe không diễn giải, không hoạt động về phần con." Và thế rồi, "Tưởng tượng con là những sóng đó."

"Trước hết lắng nghe, hoà điệu với sóng, và khi con cảm thấy rằng bây giờ con hoàn toàn im lặng và cảm nhận, tưởng tượng rằng con là những sóng đó. Đó là bước thứ hai. Thứ nhất, đừng năng nổ; cảm nhận thôi. Và khi con đã trở nên cảm nhận, tan chảy vào trong những sóng đó, bắt đầu tưởng tượng rằng con là những sóng đó."

Thầy đang cho anh ta một phương cách để cho anh ta có thể quên đi cái ta của mình, bản ngã. Bước thứ nhất là cảm nhận, bởi vì trong cảm nhận bản ngã không thể tồn tại được - nó chỉ có thể tồn tại trong xung đột. Và khi bạn đang cảm nhận, bỗng nhiên khả năng tưởng tượng của bạn trở nên cực kì mạnh mẽ.

Người cảm nhận, người nhạy cảm, đều là những người có tính tưởng tượng. Những người có thể thấy mầu lục của cây cối, không có năng nổ nào về phần họ, thậm chí không một năng nổ tinh tế về phần họ - người có thể uống mầu lục của cây cối, người có thể đơn giản hấp thu nó cứ dường như họ là bọt biển - họ trở thành rất sáng tạo, họ trở thành rất giàu tưởng tượng. Đây là những nhà thơ, hoạ sĩ, vũ công, nhạc sĩ - họ hấp thu vũ trụ trong cảm nhận sâu sắc, và thế rồi họ đổ ra bất kì cái gì họ đã hấp thu vào trí tưởng tượng của họ.

Tưởng tượng là khả năng bạn có mà lại gần Thượng đế nhất. Thượng đế phải có trí tưởng tượng vĩ đại, hừ? - cứ nhìn vào thế giới của ngài mà xem! Nghĩ mà xem! - một thế giới đầy tưởng tượng như thế, biết bao nhiêu là hoa và bao nhiêu là bướm và bao nhiêu là cây và bao nhiêu là sông, và bao nhiêu là người. Cứ nghĩ về tưởng tượng của ông ấy! Với bao nhiêu là sao, và bao nhiêu thế giới - thế giới sau thế giới, không dứt... Ông ấy phải là người mơ vĩ đại.

Ở phương Đông, người Hindu nói thế giới là giấc mơ của Thượng đế, tưởng tượng của ông ấy. Thế giới là phép thuật của ông ấy, tưởng tượng của ông ấy. Ông ấy đang mơ về nó, chúng ta là một phần của giấc mơ của ông ấy.

Khi thầy nói với O-Nami, "Thế rồi con hãy tưởng tượng bản thân mình là những sóng đó," thầy nói, "Thế thì con hãy trở nên sáng tạo đi. Trước hết con hãy trở thành cảm nhận và thế rồi con trở thành sáng tạo. Và một khi con đã vứt bỏ bản ngã của mình, con trở thành linh hoạt tới mức bất kì cái gì con tưởng tượng cũng sẽ xảy ra. Thế thì tưởng tượng của con sẽ trở thành thực tại của con."

"Hãy quên con là đô vật đi và trở thành những  sóng khổng lồ cuốn đi mọi thứ trước chúng."

O-Nami ở lại. Anh ta cố gắng nghĩ chỉ về sóng...

Tất nhiên, lúc đầu là khó, anh ta nghĩ về nhiều thứ. Điều đó là tự nhiên - nhưng anh ta đã ở lại. Anh ta phải đã là người rất kiên nhẫn. Thế rồi dần dần anh ta chỉ nghĩ về sóng. Thế rồi một khoảnh khắc tới... Nếu bạn theo đuổi, nếu bạn kiên trì, một khoảnh khắc nhất định sẽ tới khi điều bạn đã từng ham muốn trong nhiều kiếp xảy ra - nhưng kiên nhẫn là cần thiết.

Thế rồi dần dần anh nghĩ chỉ về sóng thôi. Chúng cuộn tới ngày một lớn khi đêm tàn dần.

Bây giờ, đây không phải là những con sóng thật của đại dương đang cuộn tới ngày một lớn hơn. Bây giờ không có sự phân biệt giữa sóng tưởng tượng của anh ta và sóng thật. Phân biệt đó đã mất đi. Bây giờ anh ta không biết cái gì là cái gì; cái gì là mơ và cái gì là thực anh ta không biết. Anh ta lại đã trở thành đứa trẻ nhỏ. Chỉ trẻ con mới có khả năng đó.

Vào buổi sáng bạn có thể thấy đứa trẻ khóc vì đồ chơi nó đã thấy trong giấc mơ, và nó muốn đồ chơi đó trở lại, và nó nói, "Đồ chơi của con đâu rồi?" Và bạn thì cứ khăng khăng rằng đó chỉ là giấc mơ, nhưng nó nói, "Dù vậy thì bây giờ nó đâu?" Nó không phân biệt giữa mơ và thức. Nó không biết sự phân biệt. Nó biết thực tại là một.

Khi bạn trở nên rất cảm nhận, bạn trở thành như đứa trẻ.

Bây giờ những con sóng này:

Chúng cuộn tới ngày một lớn khi đêm tàn dần. Chúng cuốn đi các bông hoa trong các bình lọ trước tượng Phật. chúng cuốn đi cả các bình hoa. Không chỉ thế - Ngay cả tượng Phật bằng đồng cũng bị cuốn đi.

Điều này thực hay! Rất khó cho Phật tử tưởng tượng được rằng Phật cũng bị cuốn đi. Nếu người đó đã quá bị gắn bó với tôn giáo của mình, đó sẽ là điểm người đó hoàn toàn bị cắt rời khỏi tưởng tượng của mình. Người đó sẽ nói, "Thôi đủ rồi nhé! Phật mà cũng bị cuốn đi! - mình đang làm gì thế này? Không, mình không còn là sóng nữa." Người đó sẽ dừng lại dưới chân Phật, người đó sẽ chạm chân Phật, nhưng không nhiều hơn thế. Nhưng nhớ: một ngày nào đó, ngay cả những cái chân đó đã từng giúp bạn vô cùng trên con đường, chúng cũng phải ra đi. Chư Phật cũng phải bị cuốn đi, bởi vì cánh cửa có thể trở thành cản trở nếu bạn níu bám lấy nó.

Ngày một lớn hơn - chúng quét đi các bông hoa trong các bình lọ trước tượng Phật. chúng quét đi cả các bình hoa. Ngay cả tượng Phật bằng đồng cũng bị quét đi. Đến bình minh ngôi đền dâng tràn sóng...

Không phải điều đó thực sự xảy ra đâu - điều đó đã xảy ra cho O-Nami. Nhớ điều đó: nếu bạn đã trong ngôi đền đó trong lúc đó bạn sẽ không thấy sóng dềnh lên trong đền đâu - điều đó chỉ xảy ra cho O-Nami thôi. Điều đó đã xảy ra trong một chiều hướng hoàn toàn khác của bản thể anh ta. Đó là chiều của thơ ca, tưởng tượng, mơ mộng - trực giác, nữ tính, như trẻ con, hồn nhiên. Anh ta đã mở cánh cửa của khả năng tưởng tượng của mình. Bằng việc lắng nghe sóng, bằng việc trở nên cảm nhận, anh ta đã trở thành mang tính tưởng tượng. Tưởng tượng của anh ta đã nở ra hoa sen một nghìn lẻ một cánh.

Đến bình minh ngôi đền dâng tràn sóng, và O-Nami ngồi đó với nụ cười yếu ớt trên mặt.

Anh ta đã trở thành vị phật! Cùng nụ cười yếu ớt đó một ngày nào đó đã tới với Phật dưới cây bồ đề phải đã tới cho O-Nami. Bỗng nhiên anh ta không còn nữa! - và đó là nụ cười, nụ cười của việc về tới nhà. Nụ cười rằng người ta đã tới nơi, nụ cười rằng bây giờ không còn đâu mà đi nữa. Nụ cười rằng người ta đã đạt tới cội nguồn, nụ cười rằng người ta đã chết và được phục sinh.

O-Nami ngồi đó với nụ cười yếu ớt trên mặt.

Ngày hôm đó anh ta đã đi vào trong cuộc thi đấu vật công khai và đã thắng lần lượt mọi người, và từ ngày đó không ai ở Nhật Bản có thể vật ngã được anh ta.

Bởi vì bây giờ đấy không phải là năng lượng của anh ta. Anh ta không còn là O-Nami nữa - anh ta không còn là sóng nữa, bây giờ anh ta là đại dương. Làm sao bạn có thể đánh bại được đại dương? Bạn chỉ có thể đánh bại được sóng thôi.

Một khi bạn đã vứt bỏ bản ngã, bạn đã vứt bỏ mọi thất bại, mọi sai lầm, mọi thất vọng. Mang bản ngã và bạn đã chịu thất bại rồi. Mang bản ngã và bạn sẽ vẫn còn yếu đuối. Vứt bỏ bản ngã và sức mạnh vô hạn bắt đầu tuôn chảy qua bạn. Bằng việc vứt bỏ bản ngã bạn trở thành dòng sông, bạn bắt đâu tuôn chảy, bạn bắt đầu tan ra, bạn bắt đầu chảy - bạn trở thành sống động.

Tất cả cuộc sống đều là của cái toàn thể. Nếu bạn cố gắng sống theo cách riêng của mình, bạn đơn giản ngu xuẩn. Cũng dường như chiếc lá trên cây đang cố gắng sống theo cách riêng của nó - không chỉ thế, mà còn tranh đấu với cây; tranh đấu với các lá khác, tranh đấu với rễ, cứ nghĩ rằng đấy toàn là những cái thù địch với nó. Chúng ta chỉ là lá trên cây, cái cây vĩ đại - gọi nó là Thượng đế, hay cái toàn thể, hay bạn gọi nó là gì cũng được, nhưng chúng ta đều là những chiếc lá nhỏ trên cái cây cuộc sống vô hạn. Không cần tranh đấu. Cách duy nhất để về nhà là buông xuôi.

2. Cầu toàn

Tôi đã nghe về một câu chuyện hay. Ngày xưa có một nhà điêu khắc lớn, một hoạ sĩ, một nghệ sĩ lớn. Nghệ thuật của ông ấy hoàn hảo tới mức khi ông ấy làm tượng của một người, thật khó mà nói ai là người và ai là tượng. Giống nhau thế, sống động thế, tương tự thế.

Một nhà chiêm tinh bảo ông ta rằng cái chết của ông ta đang tới dần, ông ta sắp sửa chết rồi. Tất nhiên, ông ta trở nên rất sợ hãi và kinh hoàng, và như mọi người đều muốn tránh cái chết, ông ta cũng muốn tránh né. Ông ta nghĩ về nó, đã thiền, và ông ta tìm ra giải pháp. Ông ta làm ra bức tượng của chính mình, mười một cái, và khi Thần Chết gõ cửa nhà ông ta và Thần Chết đi vào, ông ta đứng ẩn giữa mười một bức tượng của mình. Ông ta nín thở.

Thần Chết phân vân, không tin nổi vào mắt mình. Điều này chưa từng xảy ra - bất thường quá đỗi! Thượng đế chưa bao giờ biết cách tạo ra hai người hệt nhau; ông ấy bao giờ cũng tạo ra cái duy nhất. Ông ấy chưa bao giờ tin vào bất kì một thường lệ nào, ông ấy không giống như dây chuyền lắp ráp. Ông ấy tuyệt đối chống lại bản sao, ông ấy tạo ra chỉ nguyên bản. Điều gì đã xảy ra? Mười hai người tất cả, tuyệt đối giống nhau? Bây giờ, phải đem ai đi đây? Chỉ được đem một người thôi...

Thần Chết không thể quyết định được. Phân vân, lo lắng, thần kinh, ông ta quay lại. Ông ta hỏi Thượng đế, "Ngài đã làm gì vậy? Có mười hai người đích xác hệt nhau, và tôi chỉ được đem một người đi thôi. Làm sao tôi chọn được?"

Thượng đế cả cười. Ông ấy gọi Thần Chết tới gần mình, và ông ấy nói thầm công thức vào tai ông ta, chìa khoá để tìm ra cái thực trong cái không thực. Ông ấy cho ông ta một mã bí mật và bảo ông ta, "Đi đi, và nói điều đó trong căn phòng nơi nghệ sĩ đó đang trốn giữa các bức tượng của mình."

Thần Chết hỏi, "Làm sao nó lại có tác dụng?"

Thượng đế nói, "Đừng lo. Cứ đi và thử đi."

Thần Chết đi, bán tín bán nghi, nhưng khi Thượng đế đã nói điều đó, ông ta phải làm điều đó. Ông ta vào trong căn phòng, nhìn quanh và, chẳng hướng riêng cho ai, ông ta nói, "Thưa ngài, mọi thứ đều hoàn hảo ngoại trừ mỗi một điều. Ngài đã làm giỏi lắm, nhưng ngài đã bỏ lỡ một điểm. Một lỗi có đó."

Người này hoàn toàn quên mất rằng mình đang trốn. Ông ta nhảy ra, ông ta nói, "Lỗi nào?"

Thần Chết cười. Và Thần Chết nói, "Ông bị bắt nhé! Đây là lỗi duy nhất: ông không thể quên được bản thân mình. Lại đây, đi theo ta."

THÔNG THƯỜNG, NGHỆ SĨ LÀ NGƯỜI BẢN NGÃ NHẤT TRÊN THẾ GIỚI. Nhưng thế thì người đó không phải là nghệ sĩ thực thụ. Người đó đã dùng nghệ thuật như phương tiện để đề cao mình. Nghệ sĩ là rất bản ngã, thường xuyên ba hoa về mình, và thường xuyên tranh đấu với nhau. Mọi người đều nghĩ rằng mình là người đầu tiên và cuối cùng. Nhưng đây không phải là nghệ thuật đúng.

Nghệ sĩ thực thụ biến mất hoàn toàn. Nhưng người khác chỉ là kĩ thuật viên; tôi sẽ không gọi họ là nghệ sĩ mà là kĩ thuật viên. Tôi sẽ không gọi họ là người sáng tạo, tôi sẽ chỉ gọi họ là soạn giả. Vâng, soạn ra bài thơ là một điều, sáng tạo ra bài thơ là điều hoàn toàn khác. Soạn thơ người ta cần biết ngôn ngữ, văn phạm, qui tắc thơ ca. Đó là trò chơi với từ ngữ. Và nếu bạn biết toàn thể trò chơi, bạn có thể tạo ra thơ. Nó sẽ không thật là thơ lắm, nhưng nó nó sẽ có dáng vẻ của thơ ca. Về mặt kĩ thuật nó có thể hoàn hảo, nhưng nó sẽ chỉ có thân thể - linh hồn sẽ bị thiếu.

Linh hồn xảy ra chỉ khi nghệ sĩ biến mất vào trong nghệ thuật của mình - nghệ sĩ không còn tách rời nữa. Khi hoạ sĩ vẽ với phóng túng đến mức người đó không có đó, để cho người đó thậm chí cảm thấy mặc cảm khi kí vào bức tranh, bởi vì người đó biết mình đã không làm nó... Một lực không biết nào đó đã làm nó qua người đó, người đó biết rằng mình đã bị ám ảnh. Điều đó đã từng là kinh nghiệm của tất cả các nghệ sĩ vĩ đại của các thời đại: cảm giác bị ám ảnh. Nghệ sĩ càng vĩ đại, cảm giác này càng rõ ràng hơn.

Và những nghệ sĩ vĩ đại - Mozart, Beethoven,  Kalidas, Rabindranath Tagore - những người vĩ đại nhất đều tuyệt đối chắc chắn rằng họ không là gì ngoài cây tre hổng, và sự tồn tại đã ca hát qua họ. Họ đã là chiếc sáo nhưng bài ca lại không phải là của họ. Nó đã chảy qua họ, nhưng nó tới từ cội nguồn không biết nào đó. Họ đã không cản trở - đó là tất cả điều họ đã làm - nhưng họ đã không tạo ra nó.

Đây là nghịch lí. Người sáng tạo thực biết rằng mình đã không tạo ra điều gì cả, sự tồn tại đã làm việc qua người đó. Nó đã ám ảnh người đó, tay người đó, con người người đó, và nó đã tạo ra cái gì đó qua người đó. Người đó là nhạc cụ. Đây là nghệ thuật thực, nơi nghệ sĩ biến mất - thế thì không có vấn đề bản ngã. Và thế thì nghệ thuật trở thành mang tính tôn giáo. Thế thì nghệ sĩ là nhà huyền môn - không chỉ đúng về mặt kĩ thuật, mà đích thực về sự tồn tại.

Càng ít người nghệ sĩ trong công việc của họ, công việc càng hoàn hảo hơn. Khi nghệ sĩ tuyệt đối vắng bóng, thế thì sáng tạo là tuyệt đối hoàn hảo - theo tỉ lệ này, nhớ lấy. Nghệ sĩ càng hiện diện nhiều, sản phẩm sẽ càng ít hoàn hảo. Nếu nghệ sĩ hiện diện quá nhiều, sản phẩm sẽ thành kinh tởm, nó sẽ thần kinh. Nó sẽ chỉ là bản ngã - nó còn có thể là cái gì khác được?

Bản ngã là bệnh thần kinh. Và một điều nữa cần phải ghi nhớ: bản ngã bao giờ cũng muốn được hoàn hảo. Bản ngã là rất cầu toàn. Bản ngã bao giờ cũng muốn cao hơn và tốt hơn người khác; do đó nó là người cầu toàn. Nhưng qua bản ngã, hoàn hảo là không bao giờ có thể có được, cho nên nỗ lực này là ngớ ngẩn. Hoàn hảo là có thể chỉ khi bản ngã không có - nhưng thế thì, người ta chẳng bao giờ nghĩ tới hoàn hảo chút nào.

Cho nên nghệ sĩ thực thụ chẳng bao giờ nghĩ tới hoàn hảo. Người đó không có ý tưởng về hoàn hảo, người đó đơn giản cho phép bản thân mình trong buông xuôi, trong buông bỏ, và bất kì cái gì xảy ra, cứ xảy ra. Nghệ sĩ thực thụ chắc chắn nghĩ về tính toàn thể, nhưng không bao giờ về hoàn hảo. Người đó muốn được toàn bộ trong nó, có vậy thôi. Khi người đó nhảy múa, người đó muốn biến mất trong điệu vũ. Người đó không muốn có đó, bởi vì sự hiện diện của vũ công sẽ là cái gây rối trong điệu vũ. Duyên dáng, tuôn chảy sẽ bị rối loạn, cản trở. Khi vũ công không có đó, mọi tảng đá đều biến mất, luồng chảy rất im lặng, mềm mại.

Nghệ sĩ thực thụ chắc chắn nghĩ tới cái toàn bộ - làm sao để là toàn bộ? - nhưng không bao giờ nghĩ về hoàn hảo. Và cái đẹp là ở chỗ những người toàn bộ đều hoàn hảo. Những người nghĩ tới hoàn hảo không bao giờ hoàn hảo, không bao giờ toàn bộ. Ngược lại, họ càng nghĩ về hoàn hảo, họ lại càng trở nên thần kinh hơn. Họ có ý tưởng. Họ bao giờ cũng so sánh, và họ bao giờ cũng không đạt tới!

Nếu bạn có ý tưởng, rằng chừng nào ý tưởng này còn chưa được hoàn thành, bạn sẽ không tự mình nghĩ tới hoàn hảo, làm sao bạn có thể là toàn bộ trong hành động của mình được? Nếu bạn nghĩ, chẳng hạn, rằng bạn phải là một vũ công như Nijinsky, thế thì làm sao bạn có thể toàn bộ được trong điệu vũ của mình? Bạn thường xuyên nhìn, ngắm nghía bản thân mình, cố gắng cải thiện, sợ phạm phải bất kì lỗi nào... bạn bị phân chia. Một phần bạn đang nhảy múa, phần khác của bạn có đó, phán xét, đứng bên cạnh kết án, chỉ trích. Bạn bị phân chia, bạn bị chia chẻ.

Nijinsky hoàn hảo bởi vì ông ấy toàn bộ. Điều thường xảy ra là khi ông ấy múa và ông ấy sẽ nhảy lên trong điệu múa ... mọi người không thể tin được vào mắt mình, ngay cả các nhà khoa học cũng không thể tin được vào mắt mình. Bước nhảy của ông ấy đến mức chống lại cả luật hấp dẫn - điều đó đáng không xảy ra được! Và khi ông ấy quay lại mặt đất ông ấy về chậm thế, cứ như chiếc lông... điều đó nữa cũng chống lại luật hấp dẫn.

Người ta cứ hỏi ông ấy mãi. Mọi người càng hỏi, ông ấy càng trở nên ý thức về điều đó, nó lại càng bắt đầu biến mất đi. Một khoảnh khắc tới trong cuộc sống ông ấy khi nó dừng hoàn toàn, và lí do là ở chỗ ông ấy trở nên ý thức về điều đó - ông ấy làm mất tính toàn bộ của mình. Thế rồi ông ấy hiểu ra điều đó, tại sao nó đã biến mất. Điều đó thường xảy ra, nhưng điều đó thường xảy ra chỉ khi Nijinsky đã bị mất hoàn toàn trong điệu vũ. Trong việc mất hoàn toàn đó, trong thảnh thơi đầy đủ đó, người ta vận hành trong một thế giới hoàn toàn khác, tương ứng với các luật khác.

Để tôi kể cho bạn về một luật, chẳng chóng thì chầy khoa học sẽ phát hiện ra. Tôi gọi nó là luật duyên dáng. Cũng như có luật hấp dẫn... ba trăm năm trước đây người ta còn chưa biết tới nó. Nó đã vận hành ngay cả trước khi nó được biết tới; luật không nhất thiết phải được biết tới để vận hành. Luật này bao giờ cũng vận hành. Nó chẳng liên quan gì với Newton và quả táo rụng từ cây xuống. Quả táo vẫn rụng từ trước Newton, nữa! Không phải là Newton đã phát hiện ra luật này và thế rồi quả táo bắt đầu rụng. Luật này có đó, Newton đã phát hiện ra nó.

Đích xác hệt như vậy, luật khác có đó - luật về duyên dáng, luật thăng lên. Luật hấp dẫn kéo mọi thứ xuống; luật duyên dáng nâng mọi thứ lên. Trong yoga họ gọi nó là bay lên. Trong trạng thái nào đó của  quên bẵng, trong trạng thái nào đó của ngất ngây - say sưa với điều thiêng liêng - trong trạng thái nào đó của buông xuôi hoàn toàn, vô ngã, luật đó bắt đầu vận hành. Người ta được thăng lên. Người ta trở thành vô trọng lượng.

Điều đó đã xảy ra trong trường hợp của Nijinsky. Nhưng bạn không thể làm cho nó xảy ra được, bởi vì nếu bạn có đó thì nó sẽ không xảy ra.

Bản ngã giống như tảng đá đeo quanh cổ bạn. Khi bản ngã không có đó, bạn vô trọng lượng. Và bạn đôi khi không cảm thấy nó trong cuộc sống riêng của mình sao? Có những khoảnh khắc bạn có một loại vô trọng lượng nào đó. Bạn bước đi trên đất nhưng dầu vậy chân của bạn không chạm đất - bạn ở trên đất vài chục cm. Khoảnh khắc của niềm vui, khoảnh khắc của lời cầu nguyện, khoảnh khắc của thiền, khoảnh khắc của lễ hội, khoảnh khắc của tình yêu... và bạn vô trọng lượng, bạn được nâng lên.

Và tôi nói rằng chẳng chóng thì chầy khoa học sẽ phải phát hiện ra điều đó, bởi vì khoa học tin vào một nguyên tắc nào đó: nguyên tắc các cực đối lập. Không luật nào có thể một mình, nó phải có cái đối lập. Điện không thể vận hành chỉ với một cực, dương hay âm; cả hai đều cần. Chúng bổ sung lẫn nhau.

Khoa học biết điều đó, rằng từng luật đều có cái đối lập của nó để bù cho nó. Luật hấp dẫn phải có luật đối lập của nó, bù cho nó. Luật đó, một cách có chủ ý, tôi gọi là duyên dáng - bất kì cái tên nào khác cũng đều có thể được trong tương lai bởi vì các nhà khoa học, nếu họ phát hiện ra nó, sẽ không gọi nó là duyên dáng đâu. Nhưng đó dường như là cái tên hoàn hảo nhất cho nó.

3. Trí tuệ

"Tâm trí đương thời" là mâu thuẫn ngay trong thuật ngữ. Tâm trí không bao giờ đương thời được, nó bao giờ cũng già lão. Tâm trí là quá khứ - quá khứ và quá khứ và không gì khác. Tâm trí nghĩa là kí ức, không thể có tâm trí đương thời được. Là đương thời là ở ngoài tâm trí.

Nếu bạn ở đây bây giờ, thế thì bạn đương thời. Nhưng thế thì, bạn không thấy sao, tâm trí bạn biến mất; không ý nghĩ nào chuyển động, không ham muốn nào nảy sinh: bạn trở nên được ngắt ra khỏi quá khứ và ngắt ra khỏi tương lai.

Tâm trí không bao giờ nguyên bản, không thể được. Vô trí mới nguyên bản, tươi tắn, trẻ trung; tâm trí bao giờ cũng già lão, mục nát, cũ rích.

Nhưng những từ đó đang được dùng - chúng được dùng theo nghĩa hoàn toàn khác. Theo nghĩa đó, những từ này là có nghĩa. Tâm trí của thế kỉ mười chín là tâm trí khác; các câu hỏi họ hỏi, bạn không hỏi. Những câu hỏi rất quan trọng ở thế kỉ mười tám bây giờ là những câu hỏi ngu xuẩn. "Bao nhiêu thiên thần có thể nhảy múa trên đầu kim?" đã là một trong những câu hỏi thượng đế học lớn lao nhất vào thời Trung Cổ. Bây giờ bạn có thể tìm thấy người ngu như vậy vẫn nghĩ rằng đây là câu hỏi quan trọng không? Và điều này đã được thảo luận bởi những nhà thượng đế học lớn lao nhất; không phải là người nhỏ bé, các giáo sư vĩ đại đã viết các chuyên luận về nó, các hội thảo đã được bố trí. "Bao nhiêu thiên thần...?" Bây giờ, ai quan tâm? Điều đó đơn giản không liên quan.

Vào thời Phật, một câu hỏi lớn là, "Ai đã tạo ra thế giới này?" Nó vẫn còn dai dẳng hàng thế kỉ, nhưng bây giờ càng ngày càng ít người lo nghĩ về ai tạo ra thế giới. Vâng, cũng có một số người kiểu cổ, nhưng rất hiếm những câu hỏi như vậy được hỏi với tôi. Nhưng Phật đã phải đương đầu hàng ngày; không có được một ngày trôi qua mà không có ai đó hỏi câu hỏi, "Ai đã tạo ra thế giới này?" Phật phải đã nói đi nói lại rằng thế giới này bao giờ cũng có đó rồi, chẳng ai tạo ra nó cả; nhưng mọi người vẫn không thoả mãn. Bây giờ thì chẳng ai quan tâm. Rất hiếm ai đó hỏi tôi câu hỏi, "Ai đã tạo ra thế giới này?" Theo nghĩa đó, tâm trí cứ thay đổi khi thời gian thay đổi. Theo nghĩa đó, tâm trí đương thời là thực tại.

Chồng nói với vợ: "Anh nói chúng ta sẽ không đi chơi tối nay, và đó là lời gần cuối."

Bây giờ đây là tâm trí đương thời. Không chồng nào trong quá khứ đã nói điều đó. Nó bao giờ cũng lời cuối; lời cuối là của anh ta.

Hai quí bà thượng lưu người Anh tình cờ gặp nhau khi đi mua bán ở London. Người này để ý thấy người kia mang thai và hỏi, "Sao thế, chị ơi, em ngạc nhiên quá! Chị hiển nhiên đã lấy chồng từ lần trước em gặp chị! "

Người thứ hai nói, "Vâng. Anh ấy là người tuyệt vời; anh ấy là sĩ quan trong quân đội ở Ghurka."

Người hỏi kinh tởm. "Ghurka! Chị ơi, tất cả họ có đều da đen không?"

"Ồ không," chị kia nói. "chỉ binh nhì thôi."

Người hỏi kêu lên, "Chị ơi, đương thời thế!"

Theo nghĩa đó, có tâm trí đương thời. Bằng không, không có tâm trí đương thời. Thời thượng tới rồi đi; nếu bạn nghĩ tới thời thượng thì có thay đổi. Nhưng về cơ bản mọi tâm trí đều già cỗi. Tâm trí già thế, và không thể có tâm trí hiện đại được; tâm trí hiện đại nhất vẫn là của quá khứ.

Người sống thực là người ở đây bây giờ. Người đó không sống từ quá khứ, người đó không sống vì tương lai; người đó chỉ sống trong khoảnh khắc này, vì khoảnh khắc này. Khoảnh khắc này là tất cả. Người đó tự phát; tính tự phát đó là hương thơm của vô trí. Tâm trí mang tính lặp lại, tâm trí bao giờ cũng đi theo vòng tròn. Tâm trí là cái máy: bạn nuôi nó bằng tri thức, nó lặp lại cùng tri thức. Nó cứ nhai mãi cùng tri thức lặp đi lặp lại.

Vô trí là sáng tỏ, thuần khiết, hồn nhiên. Vô trí là cách thực để sống, cách thực để hiện hữu.

TRÍ TUỆ LÀ CÁI GÌ ĐÓ NGUỴ TẠO, CÁI GÌ ĐÓ GIẢ TẠO: nó là cái thay thế cho thông minh. Thông minh là hiện tượng hoàn toàn khác - cái thực.

Thông minh cần dũng cảm vô cùng, thông minh cần cuộc sống phiêu lưu. Thông minh cần rằng bạn bao giờ cũng đi vào trong cái không biết, đi vào biển chưa lập bản đồ. Thế thì thông minh trưởng thành, nó trở nên sắc bén. Nó trưởng thành chỉ khi nó gặp cái không biết mọi khoảnh khắc. Mọi người đều sợ cái không biết, mọi người đều cảm thấy bất an với cái không biết. Họ không muốn vượt ra ngoài cái quen thuộc; do đó họ đã tạo ra cái giả, cái thay thế bằng chất dẻo cho thông minh - họ gọi nó là trí tuệ. Trí tuệ chỉ là trò chơi tâm trí. Nó không thể sáng tạo được.

Bạn có thể đi và nhìn vào các đại học và thấy cái loại công việc sáng tạo nào đang diễn ra ở đó. Hàng nghìn chuyên luận đang được viết ra; luận văn tiến sĩ, tiến sĩ triết học, tiến sĩ văn chương, những bằng cấp lớn lao được ban cho mọi người. Chẳng ai đã bao giờ đi tới biết điều gì xảy ra cho các luận án tiến sĩ của họ; chúng cứ trở thành đống rác trong các thư viện. Không ai đọc chúng, không ai đã bao giờ được hứng khởi bởi chúng - vâng, vài người có đọc chúng; nhưng họ lại cùng là kiểu người sắp viết ra các luận án khác. Các tiến sĩ tương lai tất nhiên sẽ đọc chúng.

Nhưng các đại học của bạn không tạo ra Shakespeares, Miltons, Dostoevskys, Tolstoys, Rabindranaths, Kahlil Gibrans. Các đại học của bạn chỉ tạo ra đồ đồng nát, vô dụng hoàn toàn. Đây là hoạt động trí tuệ cứ diễn ra trong các đại học.

Thông minh tạo ra Picasso, Van Gogh, Mozart, Beethoven. Thông minh là chiều hướng hoàn toàn khác. Nó chẳng liên quan gì tới cái đầu cả, nó có cái gì đó liên quan tới trái tim. Trí tuệ là ở trong đầu; thông minh là trạng thái của sự thức tỉnh trái tim. Khi trái tim bạn thức tỉnh, khi trái tim bạn nhảy múa trong lòng biết ơn sâu sắc, khi trái tim bạn trong hoà điệu với sự tồn tại, từ sự hài hoà đó là tính sáng tạo.

Không có khả năng nào cho bất kì sáng tạo trí tuệ. Nó có thể tạo ra rác rưởi - nó mang tính sản xuất, nó có thể chế tạo - nhưng nó không thể sáng tạo.

Và đâu là sự khác biệt giữa chế tạo và sáng tạo? Chế tạo là hoạt động máy móc. Máy tính có thể làm được điều đó - chúng đã làm điều đó rồi, và làm điều đó theo cách hiệu quả hơn nhiều việc bạn có thể hi vọng từ con người. Thông minh sáng tạo, nó không chế tạo. Chế tạo nghĩa là thực hiện lặp lại: điều đã được làm, bạn cứ làm đi làm lại mãi. Sáng tạo nghĩa là đem cái mới vào sự tồn tại, tạo ra cách để cái không biết thấm vào cái biết, làm ra cách cho trời đi tới đất.

Khi có Beethoven hay Michelangelo hay Kalidas, bầu trời mở ra, hoa mưa rào xuống từ cõi bên kia. Tôi không nói với bạn điều gì về Phật, Christ, Krishna, Mahavira, Zarathustra, Mohammed, bởi một lí do nào đó: bởi vì điều họ tạo ra tinh tế tới mức bạn sẽ không có khả năng nắm bắt lấy nó. Điều Michelangelo tạo ra là thô; điều Van Gogh tạo ra có thể nhìn được, thấy được. Điều vị phật tạo ra tuyệt đối vô hình. Nó cần một loại cảm thụ hoàn toàn khác để hiểu. Để hiểu vị phật bạn phải thông minh. Sáng tạo của Phật không chỉ thông minh vô cùng, mà nó còn siêu phàm, phi phàm tới mức để hiểu nó bạn sẽ phải thông minh. Trí tuệ sẽ không ích gì trong việc hiểu biết.

Chỉ có hai loại người sáng tạo - nhà thơ và nhà huyền môn. Nhà thơ sáng tạo trong thế giới thô còn nhà huyền môn sáng tạo trong thế giới tinh. Nhà thơ sáng tạo trong thế giới bên ngoài - bức tranh, bài thơ, bài ca, âm nhạc, điệu vũ - và nhà huyền môn sáng tạo trong thế giới bên trong. Sáng tạo của nhà thơ mang tính đối thể còn sáng tạo của nhà huyền môn mang tính chủ thể, toàn bộ về cái bên trong. Trước hết bạn phải hiểu nhà thơ, chỉ thế thì ngày nào đó bạn mới có thể hiểu được - ít nhất một ngày nào đó cũng hi vọng hiểu - nhà huyền môn. Nhà huyền môn là bông hoa sáng tạo cao nhất. Nhưng bạn có thể không thấy điều nhà huyền môn đang làm.

Phật chưa bao giờ vẽ tranh, chưa bao giờ cầm chổi vẽ trong tay, chưa soạn thơ, chưa hát bài ca, không ai đã từng thấy ông ấy nhảy múa. Nếu bạn ngắm ông ấy, ông ấy chỉ ngồi im lặng; toàn thể bản thể ông ấy là im lặng. Vâng, duyên dáng bao quanh ông ấy, duyên dáng, duyên dáng của cái đẹp vô hạn, của cái đẹp thanh tao, nhưng bạn sẽ cần rất mong manh để cảm thấy nó. Bạn sẽ phải rất cởi mở, không cãi lí. Bạn không thể là khán giả với vị Phật; bạn phải là người tham gia, bởi vì chính bí ẩn là việc được tham gia vào. Thế thì bạn sẽ thấy điều ông ấy đang sáng tạo. Ông ấy đang sáng tạo ra tâm thức, và tâm thức là dạng thuần khiết nhất, dạng cao nhất có thể có, của việc diễn đạt Thượng đế.

Một bài ca hay, một điệu vũ đẹp bởi vì cái gì đó của điều thiêng liêng đang hiện diện trong nó. Nhưng trong vị Phật cái toàn thể của Thượng đế hiện diện. Đó là lí do tại sao chúng ta đã gọi Phật là "Bhagwan," chúng ta đã gọi Mahavira là "Bhagwan" - cái toàn thể của Thượng đế đang hiện diện.

Hoạt động trí tuệ có thể làm cho bạn thành chuyên gia trong những điều nào đó, có ích, hiệu quả. Nhưng trí tuệ đang dò dẫm trong bóng tối. Nó không có mắt, bởi vì nó còn chưa mang tính thiền. Trí tuệ được vay mượn, nó không có sáng suốt của riêng nó.

Chủ đề là về làm tình. Trong nhiều tuần Arthur đã trả lời thành công tất cả các câu hỏi cho anh ta trong các buối chiếu cuộc thi đố trên ti vi. Anh ta bây giờ đủ tư cách để trả lời câu hỏi lớn trị giá một trăm nghìn đô la. Với một câu hỏi này anh ta được phép mời một chuyên gia. Arthur tất nhiên chọn một giáo sư nổi tiếng thế giới về tình dục từ Pháp.

Câu hỏi lớn là, "Nếu anh được làm vua trong năm mươi năm đầu tiên của đế quốc Assyrian, anh sẽ được trông đợi hôn vào ba phần nào trong xác ướp của cô dâu của anh trong đêm tân hôn?"

Hai câu trả lời đầu tiên tới nhanh chóng. Arthur đáp, "Môi và cổ cô ấy."

Bây giờ, bị bí với câu trả lời cho phần thứ ba của câu hỏi, Arthur cuống cuồng quay sang vị chuyên gia của mình. Người Pháp giơ hai tay lên và rên rỉ, "Alors, mon ami, đừng hỏi tôi. Tôi đã sai hai lần rồi."

Vị chuyên gia này, nhà thông thái này, người trí thức này, chẳng có sáng suốt gì của riêng mình cả. Người đó phụ thuộc vào tri thức vay mượn, vào truyền thống, vào qui ước. Người đó mang các thư viện trong đầu, một gánh nặng lớn, nhưng người đó không có tầm nhìn. Người đó biết nhiều mà lại chẳng biết gì cả.

Và bởi vì cuộc sống không bao giờ như cũ - nó thường xuyên thay đổi, khoảnh khắc sang khoảnh khắc nó đều mới - vị chuyên gia này bao giờ cũng bị tụt hậu, đáp ứng của người đó bao giờ cũng không thích hợp. Người đó chỉ có thể phản ứng, người đó không thể đáp ứng, bởi vì người đó không tự phát. Người đó đã đi tới kết luận, người đó đang mang câu trả lời làm sẵn - và câu hỏi mà cuộc sống nêu ra bao giờ cũng mới.

Hơn nữa, cuộc sống không phải là hiện tượng logic. Và trí tuệ sống qua logic; do đó người đó chưa bao giờ khớp được với cuộc sống và cuộc sống chẳng bao giờ khớp với người đó. Tất nhiên cuộc sống không lúng túng, bản thân người trí thức mới lúng túng. Người đó bao giờ cũng cảm thấy như người ngoài - không phải là cuộc sống đã xua đuổi người đó; bản thân người đó đã quyết định vẫn còn ở ngoài cuộc sống. Nếu bạn níu bám quá nhiều vào logic bạn sẽ chẳng bao giờ có khả năng là một phần của quá trình sống chính là sự tồn tại này.

Cuộc sống còn nhiều hơn logic: cuộc sống là nghịch lí, cuộc sống là điều huyền bí.

Gannaway và O'Casey đã dàn xếp cuộc đọ súng tay đôi. Gannaway béo phục phịch, và khi anh ta thấy đối thủ còm nhom đối diện với mình anh ta phản đối. "Cấm đấy!" anh ta nói, "Tôi béo gấp đôi anh ta, cho nên tôi phải đứng xa gấp đôi so với anh ta đứng xa với tôi."

Tuyệt đối logic, nhưng làm sao bạn làm được điều đó?

"Cứ thoải mái đi," người thứ hai trả lời. "Tôi sẽ làm điều đó đúng lại ngay." Rồi lấy một mẩu phấn từ túi mình anh vẽ ra hai đường thẳng xuôi theo áo của người béo để một khoảng cách giữa chúng.

"Bây giờ," anh ta nói, khi quay sang O'Casey, "bắn đi, và nhớ rằng bất kì phát nào ra ngoài đường phấn kẻ đều không được tính đâu nhé."

Toán học hoàn hảo, logic hoàn hảo! - nhưng cuộc sống lại không logic thế, cuộc sống lại không toán học thế. Và mọi người cứ sống trong trí tuệ của mình một cách rất logic. Logic cho họ cảm giác dường như họ biết, nhưng đó là cái "nếu như" lớn và người ta có xu hướng quên mất nó hoàn toàn. Bất kì điều gì bạn định làm qua trí tuệ, đó chỉ là suy luận. Nó không phải là kinh nghiệm về chân lí, mà chỉ là suy luận dựa trên logic của bạn - và logic của bạn là sự bịa đặt của bạn.

Cudahy, đã uống nhiều rượu, đứng ngắm nhìn cuộc diễu hành nhân ngày lễ Thánh Patrick. Một cách vô ý thức anh vứt mẩu thuốc lá đang cháy vào một chiếc nệm cũ nằm tại lề đường.

Vừa lúc đó các đội viên tóc xám của Đoàn nữ y tá khệnh khạng đi qua. Đồng thời, tấm nệm cháy âm ỉ bắt đầu toả ra mùi kinh khủng.

Cudahy khụt khịt vài lần rồi tuyên bố với viên cảnh sát đứng gần đó, "Ông ấy sĩ quan, những nữ y tá kia diễu hành quá nhanh!"

Trí tuệ có thể đạt tới những suy luận nào đó, nhưng trí tuệ là hiện tượng vô ý thức. Bạn cư xử gần như trong khi ngủ.

Thông minh là thức tỉnh, và chừng nào bạn còn chưa thức tỉnh đầy đủ, bất kì điều gì bạn quyết định cũng nhất định sai ở đâu đó hay này khác. Nó nhất định là như vậy, nó phải chịu số phận là sai, bởi vì nó là kết luận được đạt tới bởi tâm trí vô ý thức.

Đem thông minh vào hoạt động đi, bạn không cần nhiều thông tin, bạn cần nhiều thiền hơn. Bạn cần trở nên im lặng hơn, bạn cần trở nên vô ý nghĩ hơn. Bạn cần trở nên ít tâm trí hơn và nhiều trái tim hơn. Bạn cần trở nên nhận biết về điều kì diệu đang bao quanh bạn: điều kì diệu đó là cuộc sống, điều kì diệu đó là Thượng đế, điều kì diệu đó có trong cây xanh và hoa đỏ, điều kì diệu đó có trong mắt mọi người. Điều kì diệu đang xảy ra ở mọi nơi! Tất cả đều là điều huyền bí, nhưng bởi vì trí tuệ của mình mà bạn vẫn còn bị khép chặt bên trong bản thân mình, níu bám lấy những kết luận ngu xuẩn của mình đã đạt tới trong vô ý thức, hay được người khác trao cho bạn, những người cũng vô ý thức như bạn vậy.

Nhưng thông minh chắc chắn có tính sáng tạo, bởi vì thông minh đem tính toàn bộ của bạn vào vận hành - không chỉ là một phần, một phần nhỏ, cái đầu. Thông minh làm rung động toàn thể bản thể bạn; từng tế bào của bản thể bạn, từng thớ thịt của cuộc sống bạn bắt đầu nhảy múa và đi vào hài hoà tinh tế với cái toàn bộ.

Đó chính là thông minh: rung động trong hài hoà tuyệt đối với cái toàn bộ. Mọi sự sẽ bắt đầu xảy ra theo cách riêng của nó. Trái tim bạn sẽ bắt đầu rót ra bài ca của niềm vui, bàn tay bạn sẽ bắt đầu làm biến đổi mọi thứ. Bạn sẽ chạm vào bùn và nó sẽ trở thành hoa sen. Bạn sẽ có khả năng trở thành nhà giả kim thuật. Nhưng điều đó là có thể chỉ qua thức tỉnh lớn lao của thông minh, thức tỉnh lớn lao của trái tim.

4. Niềm tin

Người sáng tạo sẽ không mang nhiều niềm tin, thực tế là không. Người đó sẽ chỉ mang kinh nghiệm riêng của mình. Và cái đẹp của kinh nghiệm là ở chỗ kinh nghiệm bao giờ cũng mở, bởi vì việc thám hiểm thêm là có thể. Còn niềm tin bao giờ cũng đóng; nó đi tới điểm dừng hẳn. Niềm tin bao giờ cũng kết thúc. Kinh nghiệm không bao giờ kết thúc, nó vẫn còn không kết thúc. Trong khi bạn sống làm sao kinh nghiệm của bạn có thể bị kết thúc được? Kinh nghiệm của bạn cứ phát triển, nó thay đổi, nó di chuyển. Nó liên tục di chuyển từ cái đã biết vào cái không biết và từ cái không biết vào cái không thể biết. Và nhớ, kinh nghiệm có cái đẹp bởi vì nó không kết thúc. Một số bài ca vĩ đại nhất là những bài ca không kết thúc. Một số cuốn sách vĩ đại nhất là những cuốn sách không kết thúc. Một số âm nhạc vĩ đại nhất là âm nhạc không kết thúc. Cái không kết thúc có cái đẹp.

Tôi đã nghe về một chuyện ngụ ngôn Thiền:

Một nhà vua đi tới một Thiền sư để học làm vườn. Thầy dạy cho ông ta trong ba năm, và nhà vua có một khu vườn lớn, đẹp - hàng nghìn người làm vườn làm công ở đó - và bất kì điều gì thầy nói, nhà vua đều làm và thực nghiệm trong khu vườn của mình. Sau ba năm khu vườn đã hoàn toàn sẵn sàng, và nhà vua mời thầy tới thăm vườn. Nhà vua rất nôn nóng nữa, bởi vì thầy nghiêm khắc lắm: "Thầy có đánh giá cao không?" - đây là một loại sát hạch - "Thầy có nói, 'Được, ông đã hiểu ta không'?"

Và mọi chăm nom đều đã được tiến hành. Khu vườn hoàn chỉnh đẹp đẽ thế; chẳng thiếu cái gì. Chỉ thế thì nhà vua mới đưa thầy tới thăm. Nhưng thầy buồn ngay từ đầu. Thầy nhìn quanh, thầy đi vào vườn từ bên này sang bên kia, thầy trở nên ngày một nghiêm nghị hơn. Nhà vua trở nên rất hoảng sợ. Ông ta chưa bao giờ thấy thầy nghiêm trang đến như vậy: "Sao thầy trông buồn thế? Có điều gì sai chăng?"

Thầy cứ lắc đầu hoài và tự nhủ trong lòng "Không."

Và nhà vua hỏi, "Có việc gì thế, thưa thầy? Cái gì sai? Sao thầy không nói cho tôi? Thầy đang trở nên nghiêm trang và buồn bã thế, và thầy lắc đầu phủ định. Sao vậy? Cái gì sai? Tôi không thấy cái gì sai cả? Đây là điều thầy đã nói cho tôi, và tôi đã thực hành nó trong khu vườn này."

Thầy nói, "Nó hoàn chỉnh tới mức nó chết. Nó đầy đủ thế - đó là lí do tại sao ta lại lắc đầu và ta nói không. Nó phải vẫn còn chưa kết thúc chứ. Các lá khô đâu hết cả rồi? Lá khô đâu rồi? Ta chẳng thấy một chiếc lá khô nào cả!" Mọi lá khô đều đã bị dọn đi - trên đường không còn lá khô nào; trên cây không có lá khô nào, không một lá già nào trở nên vàng úa. "Những chiếc lá đó đi đâu rồi?"

Và nhà vua nói, "Tôi đã bảo những người làm vườn loại bỏ đi mọi thứ. Làm cho nó tuyệt đối nhất có thể."

Và thầy nói, "Đó là lí do tại sao nó lại trông ảm đạm thế, nhân tạo thế. Mọi thứ của Thượng đế không bao giờ kết thúc cả." Và thầy chạy xô ra ngoài, ngoài khu vườn. Mọi lá cây đều đã được vun đống lại: thầy lấy vài chiếc lá khô trong thùng, tung chúng lên theo gió, và gió đem chúng đi và bắt đầu đùa dỡn với lá khô, và chúng bắt đầu rải ra trên đường. Thầy vui vẻ, và thầy nói, "Trông đấy, nó trông mới sinh động làm sao!" Và âm thanh đã đi vào cùng với lá khô - âm nhạc của lá khô, gió đùa với lá khô. Bây giờ khu vườn đã có tiếng xào xạc; bằng không thì nó ảm đạm và chết như nghĩa địa. Im lặng đó không sống.

Tôi thích câu chuyện này. Thầy nói, "Nó đầy đủ thế, đó là lí do tại sao nó lại sai."

Mới đêm hôm nọ một phụ nữ đã ở đây. Cô ấy nói với tôi rằng cô ấy đang viết một cuốn tiểu thuyết, và cô ấy rất phân vân phải làm gì. Truyện đã tới điểm nó có thể được kết thúc, nhưng khả năng là nó cũng có thể được kéo dài thêm; nó vẫn còn chưa đầy đủ. Tôi bảo cô ấy, "Bạn kết thúc nó đi. Kết thúc nó trong khi nó còn chưa được kết thúc - thế thì nó có điều gì đó huyền bí quanh nó - cái không kết thúc... Và tôi bảo cô ấy, "Nếu nhân vật chính của bạn vẫn còn muốn làm điều gì đó, để cho người đó trở thành sannyasin, người tìm kiếm. Và thế thì mọi sự đi ra ngoài khả năng của bạn. Thế thì bạn có thể làm được gì? Thế thì nó đi tới kết thúc, ấy vậy mà mọi sự cứ phát triển."

Chẳng câu chuyện nào có thể hay nếu nó được kết thúc hoàn toàn. Nó sẽ chết hoàn toàn. Kinh nghiệm bao giờ cũng còn để mở - điều đó nghĩa là không kết thúc. Niềm tin bao giờ cũng đầy đủ và kết thúc. Phẩm chất đầu tiên là cởi mở để kinh nghiệm.

Tâm trí là tất cả những niềm tin của bạn đã được thu thập lại với nhau. Tính cởi mở nghĩa là vô trí; tính cởi mở nghĩa là bạn gạt tâm trí mình sang bên và bạn sẵn sàng nhìn đi nhìn lại vào cuộc sống theo cách mới, không với con mắt cũ. Tâm trí cho bạn con mắt cũ, nó cho bạn các ý tưởng: "Nhìn qua cái này đi." Nhưng thế thì sự việc trở thành được tô mầu; thế thì bạn không nhìn vào nó, thế thì bạn phóng chiếu ý tưởng lên nó. Thế thì chân lí trở thành màn ảnh trên đó bạn cứ phóng chiếu. Nhìn qua vô trí, nhìn qua cái không - shunyata. Khi bạn nhìn qua vô trí, cảm nhận của bạn là có hiệu lực, bởi vì thế thì bạn thấy cái đang đó. Và chân lí đem lại giải thoát. Mọi thứ khác đều tạo ra tù túng, chỉ chân lí mới giải thoát.

Trong những khoảnh khắc đó của vô trí, chân lí bắt đầu thấm vào trong bạn như ánh sáng. Bạn càng tận hưởng ánh sáng này, chân lí này, bạn càng trở nên có khả năng và dũng cảm vứt bỏ tâm trí mình. Chẳng chóng thì chầy một ngày sẽ tới khi bạn nhìn và bạn không có tâm trí nào. Bạn không tìm cái gì cả, bạn đơn giản nhìn. Cái nhìn của bạn thuần khiết. Trong khoảnh khắc đó bạn trở thành avalokita, người nhìn với con mắt thuần khiết. Đó là một trong các cái tên của Phật - "Avalokita." Ông ấy nhìn mà không có ý tưởng nào, ông ấy đơn giản nhìn.

SÁNG TẠO CHẲNG LIÊN QUAN GÌ TỚI BẤT KÌ HOẠT ĐỘNG NÀO NÓI RIÊNG, với bức tranh, thơ ca, nhảy múa, ca hát - nó chẳng liên quan tới bất kì cái gì đặc biệt. Bất kì cái gì cũng đều có thể có tính sáng tạo; chính bạn là người đem phẩm chất đó vào hoạt động. Hoạt động bản thân nó không có tính sáng tạo hay không sáng tạo. Bạn có thể vẽ theo cách không sáng tạo, bạn có thể hát theo cách không sáng tạo. Bạn có thể dọn dẹp theo cách sáng tạo, bạn có thể nấu ăn theo cách sáng tạo. Tính sáng tạo là phẩm chất mà bạn có thể đem vào hoạt động mình đang làm. Nó là thái độ, cách tiếp cận bên trong - cách bạn nhìn vào mọi thứ.

Cho nên điều thứ nhất cần nhớ là, đừng giới hạn sáng tạo vào bất kì cái gì đặc biệt. Chính con người có tính sáng tạo - và nếu một người có tính sáng tạo thì bất kì cái gì người đó làm, cho dù là người đó bước đi bạn vẫn có thể thấy tính sáng tạo. Cho dù người đó ngồi im lặng và không làm gì - ngay cả không làm cũng sẽ là hành động sáng tạo. Phật ngồi dưới cây Bồ đề chẳng làm gì vẫn là người sáng tạo vĩ đại nhất mà thế giới đã từng biết tới.

Một khi bạn hiểu điều đó - rằng chính bạn, con người, mới là người có tính sáng tạo hay không sáng tạo - thế thì vấn đề về cảm giác kiểu như bạn không sáng tạo sẽ biến mất.

Không phải mọi người đều có thể là hoạ sĩ - và cũng không có nhu cầu. Nếu mọi người đều là hoạ sĩ thế giới này sẽ rất xấu; sẽ khó mà sống được! Không phải mọi người đều có thể là vũ công, và không có nhu cầu. Nhưng mọi người đều có thể có tính sáng tạo.

Bất kì điều gì bạn làm, nếu bạn làm nó một cách vui vẻ nếu bạn làm nó một cách đáng yêu, nếu hành động làm của bạn không phải là mục đích thuần kinh tế, nó có tính sáng tạo. Nếu bạn có cái gì đó phát triển ra từ nó ở bên trong mình, nếu nó cho bạn sự trưởng thành, nó là tâm linh, nó là sáng tạo, nó là thiêng liêng.

Bạn trở nên thiêng liêng hơn khi bạn trở nên sáng tạo hơn. Tất cả các tôn giáo của thế giới đã nói Thượng đế là Đấng sáng tạo. Tôi không biết liệu ngài là Đấng sáng tạo hay không, nhưng một điều tôi biết: bạn càng trở nên có tính sáng tạo, bạn càng trở nên mang tính thượng đế hơn. Khi tính sáng tạo của bạn đạt tới cực điểm, khi toàn thể cuộc sống của bạn trở nên có tính sáng tạo, bạn sống trong Thượng đế. Cho nên ngài phải là Đấng sáng tạo bởi vì những người đã có tính sáng tạo đều đã ở gần ngài nhất.

Yêu bất kì cái gì bạn làm. Mang tính thiền trong khi bạn đang làm nó - dù nó là bất kì cái gì! Sự kiện nó là cái gì là không liên quan. Thế thì bạn sẽ biết rằng ngay cả dọn dẹp cũng có thể trở thành sáng tạo. Với tình yêu làm sao! Gần như ca hát và nhảy múa bên trong. Nếu bạn dọn dẹp với tình yêu như vậy, bạn đã làm ra bức tranh vô hình rồi. Bạn đã sống khoảnh khắc đó trong vui vẻ rằng nó đã trao cho bạn trưởng thành bên trong nào đó. Bạn không thể như cũ sau hoạt động sáng tạo.

Sáng tạo nghĩa là yêu mến bất kì cái gì bạn làm - tận hưởng, mở hội nó! Có thể không ai đi tới mà biết về nó cả - ai sẽ ca ngợi bạn về việc dọn dẹp? Lịch sử sẽ chẳng đoái hoài gì tới điều đó cả; báo chí sẽ không đăng tên và ảnh người đó - nhưng điều đó chẳng liên quan. Bạn tận hưởng nó. Giá trị là thực chất.

Cho nên nếu bạn đang tìm kiếm danh tiếng và rồi bạn nghĩ mình có tính sáng tạo - nếu bạn trở nên nổi tiếng như Picasso, bạn mới có tính sáng tạo - thế thì bạn sẽ lỡ. Thế thì thực tế bạn không có tính sáng tạo chút nào; bạn là chính khách, tham vọng. Nếu danh tiếng xảy ra, tốt. Nếu nó không xảy ra, tốt. Điều đó không nên là mối quan tâm. Điều quan tâm nên ở chỗ bạn đang thích thú bất kì cái gì bạn làm. Đó là chuyện tình của bạn.

Nếu hành động của bạn là tình yêu của bạn, thế thì nó trở thành có tính sáng tạo. Những điều nhỏ bé trở thành vĩ đại bởi cái chạm của tình yêu và vui vẻ.

Nhưng nếu bạn tin tưởng thì bạn không sáng tạo, bạn sẽ trở thành không sáng tạo - bởi vì niềm tin không chỉ là niềm tin. Nó mở cửa; nó đóng cửa. Nếu bạn có niềm tin sai, thế thì điều đó sẽ treo quanh bạn như chiếc cửa đóng. Nếu bạn tin tưởng rằng mình không sáng tạo, bạn sẽ trở nên không sáng tạo bởi vì niềm tin đó sẽ cản trở, liên tục phủ định, mọi khả năng của sự tuôn chảy. Nó sẽ không cho phép năng lượng của bạn tuôn chảy bởi vì bạn sẽ liên tục nói, "Mình không sáng tạo."

Điều này đã được dạy cho mọi người. Rất ít người được chấp nhận là có tính sáng tạo - vài hoạ sĩ, vài nhà thơ, một trong cả triệu người. Điều này là ngu xuẩn! Mọi con người đều là một đấng sáng tạo được sinh ra. Nhìn trẻ con và bạn sẽ thấy: mọi đứa trẻ đều có tính sáng tạo. Dần dần, chúng ta phá huỷ tính sáng tạo của chúng. Dần dần, chúng ta áp đặt niềm tin sai lên chúng. Dần dần chúng ta làm sao lãng chúng. Dần dần, chúng ta làm cho chúng mang tính kinh tế, chính trị và tham vọng hơn.

Khi tham vọng đi vào, tính sáng tạo biến mất - bởi vì người tham vọng không thể có tính sáng tạo được, người tham vọng không thể yêu bất kì hoạt động nào vì riêng nó. Trong khi người đó vẽ người đó nhìn trước; người đó nghĩ, 'Khi nào mình được Giải thưởng Nobel?' Khi người đó viết tiểu thuyết người đó nhìn trước, người đó bao giờ cũng trong tương lai - và người sáng tạo bao giờ cũng trong hiện tại.

Chúng ta phá huỷ tính sáng tạo. Không ai là không sáng tạo khi sinh ra, nhưng chúng ta làm cho chín mươi chín phần trăm mọi người thành không có tính sáng tạo. Nhưng chỉ đổ trách nhiệm lên xã hội cũng chẳng có ích gì. Bạn phải nắm lấy cuộc sống trong tay mình. Bạn phải vứt bỏ các ước định sai. Bạn phải vứt bỏ cái sai, những tự gợi ý thôi miên đã được trao cho bạn từ thời thơ ấu. Vứt chúng đi! Làm thuần khiết bản thân mình khỏi mọi ước định... và bỗng nhiên bạn sẽ thấy mình có tính sáng tạo.

Hiện hữu và có tính sáng tạo là đồng nghĩa. Không thể nào hiện hữu mà lại không có tính sáng tạo. Nhưng điều không thể được đó lại đã xảy ra, hiện tượng xấu xí đó đã xảy ra, bởi vì tất cả mọi nguồn sáng tạo của bạn đã bị nhổ ra rồi, bị chặn lại rồi, bị phá huỷ đi rồi, và toàn thể năng lượng của bạn đã bị ép buộc dồn vào hoạt động nào đó mà xã hội nghĩ xứng đáng trả công.

Toàn thể thái độ của chúng ta đều hướng tiền. Và tiền là một trong những thứ không sáng tạo nhất mà người ta có thể trở nên quan tâm tới. Toàn thể cách tiếp cận của chúng ta đều hướng quyền lực và quyền lực mang tính phá huỷ, không sáng tạo. Người theo đuổi tiền bạc sẽ trở thành mang tính phá huỷ, bởi vì tiền phải được cướp bóc, bóc lột; nó phải bị lấy đi từ nhiều người, chỉ thế thì bạn mới có thể được nó. Quyền lực đơn giản nghĩa là bạn phải làm cho nhiều người thành bất lực, bạn phải phá huỷ họ - chỉ thế thì bạn mới có quyền lực, bạn mới có thể có quyền lực.

Nhớ lấy: đây là các hành động phá huỷ. Hành động sáng tạo tôn cao cái đẹp của thế giới; nó đem cái gì đó tới cho thế giới, nó chưa bao giờ lấy đi bất kì cái gì từ đó. Người sáng tạo tới thế giới này, làm tôn lên cái đẹp của thế giới này - bài ca ở đây, bức tranh ở kia. Người đó làm cho thế giới nhảy múa hay hơn, vui vẻ hơn, đáng yêu hơn, thiền hơn. Khi người đó rời khỏi thế giới này, người đó để lại thế giới tốt lành hơn sau mình. Có thể chẳng ai biết người đó, có thể ai đó biết người đó, đấy không phải là vấn đề - nhưng người đó để lại thế giới tốt hơn, được hoàn thành vô cùng bởi vì cuộc sống của người đó đã mang giá trị bản chất nào đó.

Tiền bạc, quyền lực, danh vọng, là không sáng tạo - không chỉ không sáng tạo mà còn là hoạt động phá huỷ. Nhận biết về chúng đi! Và nếu bạn nhận biết về chúng bạn có thể trở nên có tính sáng tạo rất dễ dàng. Tôi không nói rằng tính sáng tạo của bạn sẽ cho bạn quyền lực, danh vọng, tiền bạc. Không, tôi không thể hứa với bạn về bất kì vườn hồng nào được. Nó có thể đem cho bạn rắc rối đấy. Nó có thể buộc bạn phải sống cuộc sống của người nghèo. Tất cả mọi điều tôi có thể hứa với bạn là ở chỗ, sâu bên trong bạn sẽ là người giàu có nhất có thể được; sâu bên trong bạn sẽ được hoàn thành; sâu bên trong bạn sẽ đầy vui vẻ và lễ hội. Bạn sẽ liên tục nhận được ngày một nhiều phúc lành hơn. Cuộc sống của bạn sẽ là cuộc sống của phúc lành.

Bên ngoài bạn có thể không nổi tiếng, bạn có thể không có tiền, bạn có thể không thành công trong cái gọi là thế giới. Nhưng thành công trong cái gọi là thế giới này lại là thất bại sâu sắc, lại là thất bại trong thế giới bên trong. Và bạn sẽ làm gì với toàn thể thế giới dưới chân mình nếu bạn đã đánh mất cái ta riêng của mình? Bạn sẽ làm gì nếu bạn sở hữu toàn thế giới và bạn không sở hữu bản thân mình? Người sáng tạo sở hữu bản thể riêng của mình; người đó là người chủ.

Đó là lí do tại sao ở phương Đông chúng ta đã gọi người tìm kiếm là 'swamis'. 'Swami' nghĩa là người củ. Người ăn xin cũng đã được gọi là swamis - người chủ. Hoàng đế chúng ta đã biết, nhưng họ đã chứng tỏ vào lúc thanh toán cuối cùng, trong kết luận chung cuộc của các kiếp sống của họ, rằng họ đều là kẻ ăn xin. Người theo đuổi tiền bạc và quyền lực là kẻ ăn xin, bởi vì người đó liên tục cầu xin. Người đó chẳng có gì để cho thế giới cả.

Là người cho đi. Chia sẻ bất kì cái gì bạn có thể chia sẻ! Và nhớ, tôi không tạo ra phân biệt nào giữa điều nhỏ bé và điều lớn lao. Nếu bạn có thể mỉm cười một cách toàn tâm, cầm tay ai đó và mỉm cười, thì đó là hành động sáng tạo, hành động sáng tạo lớn lao. Chỉ ôm lấy ai đó vào trái tim mình và bạn có tính sáng tạo rồi. Chỉ nhìn bằng con mắt đáng yêu vào ai đó... chỉ cái nhìn đáng yêu cũng có thể làm thay đổi toàn bộ thế giới của một người.

Có tính sáng tạo đi. Đừng lo nghĩ về điều bạn đang làm - người ta phải làm nhiều điều - nhưng làm mọi thứ một cách sáng tạo, với lòng thành. Thế thì công việc của bạn trở thành sự tôn thờ. Thế thì bất kì điều gì bạn làm cũng là lời cầu nguyện. Và bất kì điều gì bạn làm cũng là cúng dường trên bàn thờ.

Vứt bỏ mọi niềm tin rằng bạn không sáng tạo. Tôi biết cách thức những niềm tin này được tạo ra: bạn có thể đã không là người đoạt huy chương vàng ở đại học, bạn có thể đã không đứng đầu lớp. Bức tranh của bạn có thể đã không được ca ngợi; khi bạn thổi sáo, hàng xóm đi báo công an! Nhưng chỉ bởi vì những điều này, đừng vướng vào niềm tin sai lầm rằng bạn không sáng tạo.

Có thể bởi vì bạn bắt chước người khác. Mọi người có một ý tưởng rất giới hạn về tính sáng tạo là gì - chơi ghi ta hay sáo hay làm thơ - cho nên mọi người cứ viết ra rác rưởi nhân danh thơ ca. Bạn phải tìm ra cái gì bạn có thể làm và cái gì bạn không thể làm. Mọi người không thể làm mọi thứ được! Bạn phải tìm kiếm và tìm ra định mệnh của mình. Bạn phải dò dẫm trong bóng tối, tôi biết. Không được rõ ràng lắm định mệnh bạn là gì - nhưng đấy là cách thức cuộc sống vậy đấy. Và cũng tốt là người ta phải tìm nó - trong chính việc tìm kiếm, cái gì đó trưởng thành.

Nếu sơ đồ cuộc sống của bạn mà khi bạn vào thế giới là - "Đây sẽ là cuộc sống của bạn: bạn sẽ trở thành người chơi ghi ta " - thế thì cuộc sống của bạn sẽ là máy móc. Chỉ máy mới có thể được dự đoán, con người thì không. Con người là không dự đoán được. Con người bao giờ cũng là sự bắt đầu... tiềm năng cho cả nghìn lẻ một thứ. Nhiều cánh cửa mở ra và nhiều phương án bao giờ cũng hiện diện tại từng bước - và bạn phải chọn, bạn phải cảm. Nhưng nếu bạn yêu cuộc sống của mình bạn sẽ có khả năng tìm thấy.

Nếu bạn không yêu cuộc sống của mình và bạn yêu cái gì đó khác, thế thì có vấn đề. Nếu bạn yêu tiền và bạn muốn có tính sáng tạo, bạn không thể trở thành sáng tạo được. Chính tham vọng vì tiền sẽ phá huỷ tính sáng tạo của bạn. Nếu bạn muốn danh tiếng, thế thì quên tính sáng tạo đi. Danh tiếng tới dễ hơn nếu bạn mang tính phá huỷ. Danh tiếng tới dễ hơn cho một Adolf Hitler, danh tiếng tới dễ hơn cho một Henry Ford. Danh tiếng tới dễ hơn nếu bạn có tính cạnh tranh, cạnh tranh bạo hành. Nếu bạn có thể giết người và phá huỷ mọi người, danh tiếng tới dễ hơn.

Toàn thể lịch sử là lịch sử của những kẻ sát hại. Nếu bạn trở thành kẻ sát hại, danh tiếng sẽ rất dễ dàng. Bạn có thể trở thành thủ tướng; bạn có thể trở thành tổng thống - nhưng đây tất cả đều là mặt nạ. Đằng sau họ bạn sẽ thấy những người rất bạo hành, người bạo hành khủng khiếp ẩn nấp, mỉm cười. Những nụ cười đó là chính trị, ngoại giao. Nếu mặt nạ tụt ra, bạn bao giờ cũng thấy Genghis Khan, Tamurlaine, Nadir Shah, Napoleon, Alexander, Hitler, ẩn đằng sau.

Nếu bạn muốn danh tiếng, đừng nói tới sáng tạo. Tôi không nói rằng danh tiếng không bao giờ tới cho người sáng tạo - nhưng rất hiến khi nó tới, rất hiếm. Điều đó giống như điều ngẫu nhiên nhiều hơn, và phải mất thời gian. Gần như bao giờ cũng xảy ra là vào lúc danh tiếng tới với người sáng tạo, người đó đã chết rồi - điều đó bao giờ cũng tới sau khi chết, nó bị trễ.

Jesus không nổi tiếng vào thời của ông ấy. Nếu như không có Kinh Thánh, sẽ không có ghi chép nào về ông ấy. Ghi chép này thuộc về bốn đệ tử của ông ấy; chẳng ai khác đã từng nhắc tới ông ấy, liệu ông ấy có tồn tại hay không. Ông ấy đã không nổi tiếng. Ông ấy đã không thành công. Bạn có thể nghĩ tới thất bại nào lớn hơn Jesus không? Nhưng, dần dần, ông ấy đã trở nên ngày một có ý nghĩa hơn; dần dần, mọi người đã thừa nhận ông ấy. Điều đó cần thời gian.

Người càng vĩ đại, càng mất nhiều thời gian để mọi người nhận ra người đó - bởi vì khi người vĩ đại được sinh ra, không có tiêu chí nào để đánh giá người đó, không có bản đồ nào để tìm ra người đó. Người đó phải tạo ra giá trị riêng của mình; với thời gian người đó đã tạo ra các giá trị, người đó mất đi. Phải mất hàng trăm năm để người sáng tạo được nhận ra, và thế nữa điều đó cũng không chắc chắn. Đã có nhiều người sáng tạo chưa bao giờ được nhận ra. Ngẫu nhiên người sáng tạo mới thành công. Với người không sáng tạo, phá huỷ điều đó còn chắc chắn hơn.

Cho nên nếu bạn đang tìm kiếm cái gì đó khác nhân danh tính sáng tạo, thế thì vứt bỏ ý tưởng về tính sáng tạo đi. Ít nhất một cách có ý thức, có chủ định, làm bất kì cái gì bạn muốn làm. Đừng bao giờ ẩn đằng sau mặt nạ. Nếu bạn thực sự muốn có tính sáng tạo, thế thì không có vấn đề về tiền bạc, thành công, uy tín, kính trọng - thế thì bạn tận hưởng hoạt động của mình; thế thì từng hành động đều có giá trị thực chất của nó. Bạn nhảy múa bởi vì bạn thích nhảy múa; bạn nhảy múa bởi vì bạn vui vẻ trong nó. Nếu ai đó ca ngợi, tốt, bạn cảm thấy biết ơn. Nếu ai đó ca ngợi, lo nghĩ về điều đó không phải là việc của bạn. Bạn đã nhảy múa, bạn đã tận hưởng - bạn đã được hoàn thành.

Nhưng bất kì niềm tin nào vào không sáng tạo cũng có thể nguy hiểm - vứt nó đi! Không ai là không sáng tạo cả - thậm chí đến cả cây cối, tảng đá cũng sáng tạo. Những người đã biết cây cối, và yêu cây cối, đều biết rằng từng cây đều tạo ra không gian riêng của nó. Từng tảng đá cũng tạo ra không gian riêng của nó, điều đó cũng giống không gian của không ai khác. Nếu bạn trở nên nhạy cảm, nếu bạn trở nên có khả năng hiểu biết, qua thông cảm, bạn sẽ được lợi vô cùng. Bạn sẽ thấy rằng từng cây đều sáng tạo theo cách riêng của nó; không cây nào khác giống điều đó - từng cây đều duy nhất, từng cây đều có tính cá nhân. Từng tảng đá đều có tính cá nhân. Cây không chỉ là cây - chúng là người. Đá không chỉ là đá - chúng là người. Đi và ngồi bên cạnh tảng đá mà xem - ngắm nhìn nó một cách yêu mến, chạm vào nó một cách yêu mến, cảm thấy nó một cách yêu mến.

Tương truyền một Thiền sư có khả năng kéo những tảng đá rất lớn, di chuyển những tảng đá rất lớn - và ông ấy lại là một người rất mảnh mai. Cứ nhìn vào thể chất của ông ấy thì điều đó gần như là không thể được! Những người khoẻ hơn, khoẻ hơn ông ấy rất nhiều cũng không có khả năng kéo những tảng đá đó, mà ông ấy thì đơn giản kéo chúng rất dễ dàng.

Người ta hỏi ông ấy thủ thuật của ông ấy là gì. Ông ấy nói, "Chẳng có thủ thuật nào cả - tôi yêu đá, nên đá giúp đỡ. Trước hết tôi nói với đá, 'Bây giờ uy tín của tôi là ở trong tay bạn, và những người này đã tới xem. Bây giờ giúp tôi nhé, hợp tác với tôi.' Hừ? - thế rồi tôi đơn giản cầm lấy tảng đá một cách yêu mến... và đợi hướng dẫn. Khi đá cho tôi hướng dẫn - đấy là cái rùng mình, toàn thể xương sống của tôi rung động - khi đá cho tôi hướng dẫn rằng nó sẵn sàng, thế thì tôi di chuyển. Các bạn di chuyển chống lại đá; đó là lí do tại sao phải cần tới nhiều năng lượng thế. Tôi di chuyển cùng đá, tôi tuôn chảy cùng đá. Thực tế, nó rằng tôi di chuyển nó là sai - tôi đơn giản ở đó thôi. Tảng đá tự nó di chuyển."

Một Thiền sư lớn là thợ mộc, và bất kì khi nào ông ấy làm bàn, ghế, bằng cách nào đó chúng có phẩm chất không thể nói ra được trong chúng, một từ trường vô cùng. Người ta hỏi ông ấy, "Làm sao ông lại làm ra chúng?"

Ông ấy nói, "Tôi không làm chúng. Tôi đơn giản đi vào rừng: điều cơ bản là hỏi rừng, hỏi cây, cây nào sẵn sàng trở thành ghế."

Bây giờ những điều này có vẻ ngớ ngẩn - bởi vì chúng ta không biết, chúng ta không biết ngôn ngữ. Trong ba ngày ông ấy còn lại trong rừng. Ông ấy sẽ ngồi dưới cái cây này, dưới cái cây khác, và ông ấy sẽ nói với cây - và ông ấy là người điên! Nhưng cây được đánh giá bởi quả của nó, còn bậc thầy này cũng được đánh giá bởi sáng tạo của ông ấy. Vài chiếc ghế của ông ấy vẫn tồn tại ở Trung Quốc - chúng vẫn mang từ trường. Bạn sẽ đơn giản bị hút vào; bạn sẽ không biết cái gì đang kéo bạn. Sau một nghìn năm! - cái gì đó hay cực kì...

Ông ấy nói, "Tôi đi và tôi nói rằng tôi đang tìm cây muốn trở thành ghế. Tôi hỏi cây liệu cây có sẵn lòng không; không chỉ sẵn lòng, có hợp tác với tôi không, có sẵn sàng đi cùng tôi không - chỉ thế thôi. Đôi khi việc xảy ra là không cây nào sẵn sàng trở thành ghế cả và tôi về tay không."

Chuyện xảy ra: Hoàng đế Trung Quốc đã yêu cầu ông ấy làm cho mình một cái giá sách. Và ông ấy đi và sau ba ngày ông ấy nói, "Đợi đã - không cây nào sẵn sàng tới cung điện."

Sau ba tháng Hoàng đế lại hỏi. Người thợ mộc nói, "Tôi đã đi liên tục. Tôi đang thuyết phục. Đợi đã - một cây dường như có khuynh hướng chút ít."

Cuối cùng ông ấy cũng thuyết phục được một cây. Ông ấy nói, "Toàn thể nghệ thuật là ở đó! - khi cây tới theo ý của nó, thế thì nó đơn giản yêu cầu sự giúp đỡ của thợ mộc."

Nếu bạn đang yêu, bạn sẽ thấy rằng toàn thể sự tồn tại có tính cá nhân. Đừng lôi kéo xô đẩy mọi thứ. Quan sát, trao đổi, nhận sự giúp đỡ của chúng - và nhiều năng lượng sẽ được bảo tồn.

Ngay cả cây cũng có tính sáng tạo, đá cũng có tính sáng tạo. Bạn là người, chính đỉnh cao của sự tồn tại này. Bạn ở đỉnh - bạn có ý thức. Đừng bao giờ nghĩ với niềm tin sai lầm, và đừng bao giờ bị gắn bó với niềm tin sai lầm rằng bạn không sáng tạo. Có thể bố bạn đã nói với bạn rằng bạn không sáng tạo, đồng nghiệp bạn đã nói với bạn rằng bạn không sáng tạo. Có thể bạn đã đi tìm theo hướng sai, theo hướng mà bạn không sáng tạo. Nhưng phải có hướng theo đó bạn sáng tạo. Cứ tìm và kiếm và vẫn còn sẵn có, và cứ dò dẫm cho tới khi bạn tìm thấy nó.

Từng người tới thế giới này với một định mệnh đặc biệt - người đó có cái gì đó để hoàn thành, thông điệp nào đó phải được chuyển giao, công việc nào đó phải được hoàn thành. Bạn không ở đây một cách ngẫu nhiên - bạn ở đây một cách có ý nghĩa. Có chủ định đằng sau bạn. Cái Toàn thể dự định làm điều gì đó qua bạn.

5. Trò chơi danh vọng

Cấu trúc của toàn thể cuộc sống chúng ta là ở chỗ chúng được dạy rằng chừng nào chưa được thừa nhận, chúng ta vẫn là không ai cả, chúng ta vô giá trị. Công việc không quan trọng, thừa nhận mới quan trọng. Và điều này đang làm cho mọi thứ thành lộn ngược. Công việc phải quan trọng chứ - niềm vui trong chính nó. Bạn nên làm việc, không nên được thừa nhận mà bởi vì bạn tận hưởng công việc có tính sáng tạo; bạn yêu công việc vì chính nó.

Điều này nên là cách nhìn vào mọi việc - làm việc nếu bạn yêu nó. Đừng đòi hỏi thừa nhận. Nếu nó tới, nhận nó thoải mái; nếu nó không tới, không nghĩ về nó. Sự hoàn thành của bạn nên ở trong bản thân công việc. Và nếu mọi người học được nghệ thuật đơn giản này về yêu công việc của mình, dù nó là gì, tận hưởng nó mà không đòi hỏi bất kì thừa nhận nào, chúng ta sẽ có một thế giới tuyệt vời và lễ hội hơn.

Như nó hiện thế, thế giới đã bẫy bạn vào hình mẫu khổ. Điều bạn đang làm là tốt không phải vì bạn yêu nó, vì bạn làm nó hoàn hảo, mà bởi vì thế giới thừa nhận nó, trao phần thưởng cho nó, cho bạn huân chương vàng, Giải thưởng Nobel. Họ đã lấy đi toàn thể giá trị bản chất của sáng tạo và phá huỷ hàng triệu người - bởi vì bạn không thể cho hàng triệu người Giải thưởng Nobel được. Và bạn đã tạo ra ham muốn được thừa nhận trong mọi người, cho nên không ai có thể làm việc một cách an bình, im lặng, tận hưởng bất kì cái gì mình làm. Và cuộc sống bao gồm những điều nhỏ bé. Với những điều nhỏ bé không có phần thưởng, không có danh hiệu do chính phủ trao, không có bằng cấp tôn vinh do các đại học trao.

Một trong những nhà thơ vĩ đại của thế kỉ này, Rabindranath Tagore, đã sống ở Bengal, Ấn Độ. Ông ấy đã xuất bản tập thơ của mình, tiểu thuyết của mình bằng tiếng Bengali - nhưng không có thừa nhận nào tới với ông ấy. Thế rồi ông ấy dịch sang tiếng Anh thành cuốn sách nhỏ, Gitanjali, "Cúng dường các bài ca". Và ông ấy nhận ra rằng bản gốc có cái đẹp mà bản dịch không có được và không thể có được - bởi vì hai ngôn ngữ này, tiếng Bengali và tiếng Anh, có cấu trúc khác nhau, các cách diễn đạt khác nhau.

Tiếng Bengali rất hiền dịu. Cho dù bạn có đánh nhau, vẫn dường như là bạn tham dự vào cuộc đối thoại hay. Nó rất nhạc điệu; từng từ đều mang tính âm nhạc. Phẩm chất đó không có trong tiếng Anh và cũng không thể đem vào cho nó được; nó có phẩm chất khác. Nhưng bằng cách nào đó ông ấy đã xoay xở dịch nó, và bản dịch - một thứ nghèo nàn nếu so với bản gốc - đã nhận được Giải thưởng Nobel. Thế rồi bỗng nhiên cả Ấn Độ trở nên nhận biết... Cuốn sách đã có đấy trong tiếng Bengali, trong các tiếng Ấn Độ khác, từ nhiều năm rồi mà chẳng ai để ý gì tới nó cả.

Mọi đại học đều muốn tặng ông ấy bằng tiến sĩ văn chương. Calcutta, nơi ông ấy sống, đã là đại học đầu tiên, hiển nhiên, tặng ông ấy bằng danh dự. Ông ấy từ chối. Ông ấy nói, "Các ông đâu có trao bằng cho tôi; các ông đâu có thừa nhận công trình của tôi, các ông đang thừa nhận giải thưởng Nobel kia, bởi vì cuốn sách đó đã có ở đây dưới dạng hay hơn nhiều, và chẳng ai bận tâm ngay cả viết lời ca ngợi." Ông ấy đã từ chối nhận bất kì bằng tiến sĩ văn chương nào. Ông ấy nói, "Đó là sỉ nhục với tôi."

Jean-Paul Sartre, một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại và là người cực kì sáng suốt về tâm lí con người, đã từ chối giải thưởng Nobel. Ông ấy nói, "Tôi đã nhận đủ phần thưởng trong khi tôi tạo ra tác phẩm của mình. Giải thưởng Nobel chẳng thể thêm được gì vào nó cả - ngược lại, nó kéo tôi xuống. Nó là tốt cho người nghiệp dư, người đi tìm sự thừa nhận; tôi đủ già rồi và tôi tận hưởng đủ rồi. Tôi đã yêu bất kì cái gì tôi đã làm. Đó chính là phần thưởng tự thân nó, và tôi không muốn bất kì phần thưởng nào khác, bởi vì chẳng cái gì có thể tốt hơn cái mà tôi đã nhận được." Và ông ấy đúng. Nhưng người đúng lại ít thế trên thế giới này, và thế giới lại đầy những người sai sống trong bẫy.

Sao bạn phải bận tâm tới thừa nhận? Bận tâm tới thừa nhận có ý nghĩa chỉ nếu bạn không yêu công việc của mình; thế thì nó có nghĩa, thế thì nó dường như là cái thay thế. Bạn ghét công việc, bạn không thích nó, nhưng bạn đang làm nó bởi vì sẽ có thừa nhận; bạn sẽ được đánh giá cao, được chấp nhận. Thay vì nghĩ về thừa nhận, xét lại công việc của bạn đi. Bạn có yêu nó không? - thế thì đó là sự chấm dứt. Nếu bạn không yêu nó, thay đổi nó đi!

Bố mẹ, thầy giáo bao giờ cũng ép buộc rằng bạn phải được thừa nhận, bạn phải được chấp nhận. Đây là chiến lược rất tinh ranh để giữ mọi người trong kiểm soát.

Học một điều cơ bản: Làm bất kì điều gì bạn muốn làm, yêu thích làm, và đừng bao giờ đòi hỏi thừa nhận. Điều đó là ăn xin. Sao người ta lại phải đòi hỏi thừa nhận? Sao người ta lại khao khát việc chấp nhận?

Sâu bên dưới trong bản thân mình, nhìn vào đi. Có lẽ bạn không thích điều bạn đang làm, có lẽ bạn sợ rằng bạn đi sai đường. Chấp nhận sẽ giúp bạn thấy rằng mình đúng. Thừa nhận sẽ làm cho bạn cảm thấy rằng mình đang đi tới mục đích đúng.

Vấn đề là ở cảm giác bên trong riêng của bạn; nó chẳng liên quan gì tới thế giới bên ngoài. Và sao phụ thuộc vào người khác? Tất cả những điều này đều phụ thuộc vào người khác - bản thân bạn đang trở nên phụ thuộc.

Tôi sẽ không nhận bất kì Giải thưởng Nobel nào. Tất cả những kết án này từ khắp các quốc gia trên thế giới, từ mọi tôn giáo, đều có giá trị hơn đối với tôi. Nhận Giải thưởng Nobel nghĩa là tôi đang trở thành phụ thuộc - bây giờ tôi sẽ không tự hào về bản thân mình mà tự hào về Giải thưởng Nobel. Ngay bây giờ tôi chỉ có thể tự hào được về bản thân mình; chẳng cái gì khác tôi có thể tự hào về nó được.

Theo cách này bạn trở thành cá nhân. Và là một cá nhân sống trong tự do toàn bộ, trên đôi chân của mình, uống từ cội nguồn riêng của bạn, là điều làm cho con người thực sự định tâm, bắt rễ. Đó là bắt đầu của việc nở hoa tối thượng của người đó.

Cái gọi là những người được thừa nhận này, những người được tôn vinh này, đều đầy những rác rưởi chứ không gì khác. Nhưng họ đầy những rác rưởi mà xã hội muốn họ được chất đầy - và xã hội bù đắp cho họ bằng việc cho họ phần thưởng.

Bất kì người nào có bất kì ý thức nào về tính cá nhân riêng của mình cũng đều sống bằng tình yêu riêng của mình, bằng công việc riêng của mình, chẳng bận tâm chút nào tới điều người khác nghĩ và nói về nó. Công việc của bạn càng có giá trị nhiều, càng ít có khả năng có được kính trọng nào cho nó. Và nếu công việc của bạn là công việc của thiên tài, bạn sẽ không thấy bất kì sự kính trọng nào trong cuộc sống của mình. Bạn sẽ bị kết án trong cuộc sống của mình... thế rồi, sau hai hay ba thế kỉ, tượng của bạn sẽ được làm ra, sách của bạn sẽ được kính trọng - bởi vì nhân loại phải mất hai hay thế kỉ mới thu được nhiều thông minh như thiên tài này có hôm nay. Lỗ hổng này là bao la.

Được những kẻ ngốc kính trọng bạn phải hành xử theo cách thức của họ, theo trông đợi của họ. Được kính trọng bởi nhân loại ốm yếu này bạn phải ốm yếu hơn họ đang vậy. Thế thì họ sẽ kính trọng bạn. Nhưng bạn sẽ thu được cái gì? Bạn sẽ làm mất linh hồn mình và bạn sẽ chẳng thu được cái gì cả.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập