Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Cách sống có ý thức Dũng cảm - Vui sống hiểm nguy
 
 
Cách sống có ý thức

Dũng cảm - Vui sống hiểm nguy - (trang 24)

Chỉ mục bài viết

Đi tìm vô sợ hãi

Các kĩ thuật Thiền và lời đáp cho các câu hỏi

Mọi người đều sợ - phải như vậy thôi. Cuộc sống là tới mức người ta phải sợ. Và những người trở nên vô sợ hãi, thì việc trở nên vô sợ hãi không phải bởi vì trở nên bạo dạn đâu - bởi vì người bạo dạn chỉ kìm nén cái s của mình; người đó không thực sự vô sợ hãi. Một người trở nên vô sợ hãi bằng việc chấp nhận nỗi sợ của mình. Đấy không phải là vấn đề về bạo dạn. Nó đơn giản là việc nhìn vào trong các sự kiện của cuộc sống và nhận ra rằng những nỗi sợ này là tự nhiên. Người ta chấp nhận chúng!

Sợ hãi và mặc cảm có là cùng một điều không?

Sợ hãi và mặc cảm không phải là cùng một điều. Sợ hãi được chấp nhận trở thành tự do; sợ hãi bị phủ nhận, bị bác bỏ, bị lên án, trở thành mặc cảm. Nếu bạn chấp nhận sợ hãi như một phần của tình huống...

Nó là một phần của tình huống. Con người là một phần, một phần rất nhỏ, tí hon, và cái toàn thể là bao la: một giọt sương, một giọt sương rất nhỏ, và cái toàn thể là cả đại dưng. Run rẩy phát sinh: "Mình có thể bị mất đi trong cái toàn thể; căn cước mình có thể bị mất đi." Đó là nỗi sợ về cái chết. Tất cả mọi nỗi sợ đều là sợ chết. Và sợ chết là sợ về việc triệt tiêu.

Điều tự nhiên là con người sợ, run rẩy. Nếu bạn chấp nhận nó, nếu bạn nói rằng đây là cuộc sống như thế, nếu bạn chấp nhận nó một cách toàn bộ, run rẩy lập tức dừng lại và sợ hãi - cùng năng lượng đã trở thành sợ hãi - duỗi ra và trở thành tự do. Thế thì bạn biết rằng ngay cả giọt sương biến mất trong đại dương, nó sẽ có đó. Thực tế, nó sẽ trở thành toàn thể đại dương. Thế thì cái chết trở thành niết bàn, thế thì bạn không sợ mất bản thân mình. Thế thì bạn hiểu câu nói của Jesus: "Nếu ông cứu mạng mình ông sẽ làm mất nó và nếu ông làm mất nó ông sẽ cứu nó."

Cách duy nhất để vượt ra ngoài cái chết là chấp nhận cái chết. Thế thì nó biến mất. Cách duy nhất để vô sợ hãi là chấp nhận nỗi sợ. Thế thì năng lượng được thoát ra và trở thành tự do. Nhưng nếu bạn lên án nó, nếu bạn kìm nén nó, nếu bạn che giấu sự kiện bạn sợ - nếu bạn bọc sắt cho bản thân mình và tự bảo vệ mình và mang tính phòng thủ - thế thì mặc cảm nảy sinh.

Bất kì cái gì bị kìm nén cũng đều tạo ra mặc cảm; bất kì cái gì không được phép cũng đều tạo ra mặc cảm; bất kì cái gì chống lại tự nhiên cũng đều tạo ra mặc cảm. Thế thì bạn cảm thấy mặc cảm rằng bạn đã nói dối người khác và nói dối chính mình. Sự không chân thực đó là mặc cảm.

Bạn hỏi: "Sợ hãi và mặc cảm có là cùng một điều không?" Không. Sợ hãi có thể là mặc cảm, nhưng nó cũng có thể không. Điều đó tuỳ vào việc bạn làm gì với sợ hãi. Nếu bạn làm điều gì đó sai với nó, điều đó trở thành mặc cảm. Nếu bạn đơn giản chấp nhận nó và không làm gì cả về nó - chẳng có gì mà làm! - thế thì nó trở thành tự do, nó trở thành vô sợ hãi.

Đừng tự nhủ mình rằng bạn xấu, sai, kẻ tội lỗi. Đừng lên án. Dù bạn là bất kì cái gì, bạn vẫn là vậy. Đừng bị mặc cảm, đừng cảm thấy mặc cảm. Cho dù có điều gì đó sai, bạn không sai. Có thể bạn đã hành động sai, nhưng bản thể của bạn không sai bởi vì điều đó. Hành động nào đó có thể sai, nhưng bản thể bao giờ cũng đúng.

Tôi đã để ý về bản thân mình rằng tôi bao giờ cũng cố gắng thuyết phục người khác là tôi quan trọng và mạnh mẽ. Tôi đã thiền về những lí do cho điều này và tôi nghĩ đó là nỗi sợ.

Bản ngã bao giờ cũng bắt nguồn từ sợ hãi. Người vô sợ hãi thực sự không có bản ngã. Bản ngã là sự bảo vệ, lớp áo giáp. Bởi vì bạn sợ, bạn tạo ra ấn tượng quanh mình rằng bạn là người này người nọ và thế này thế nọ, hừ? Để cho không ai dám... bằng không thì sẽ có sợ, nó về cơ bản là sợ hãi. Tốt! Bạn đã nhìn vào trong nó sâu sắc và đúng đắn. Và một khi bạn thấy nguyên nhân cơ bản, mọi sự trở nên rất đơn giản. Bằng không mọi người cứ tranh đấu với bản ngã - và bản ngã không phải là vấn đề thực. Cho nên bạn đang tranh đấu với triệu chứng, không với bệnh tật thực. Bệnh tật thực là nỗi sợ. Bạn có thể cứ tranh đấu với bản ngã và bạn sẽ cứ bỏ lỡ mục tiêu bởi vì bản ngã không phải là kẻ thù thực, nó là hư huyễn. Cho dù bạn có thắng, bạn sẽ chẳng thắng cái gì cả. Và bạn không thể thắng được - chỉ kẻ thù thực mới có thể bị đánh bại, không phải là kẻ thù giả mà lại không tồn tại chút nào. Nó là cái mẽ ngoài. Cứ dường như bạn có vết thương và nó trông xấu xí và bạn để đồ trang sức lên nó.

Có lần chuyện xảy ra là tôi ở tại nhà của một ngôi sao điện ảnh và anh ấy đã bảo nhiều người tới gặp tôi. Một nữ diễn viên điện ảnh cũng có đó và cô ấy có chiếc đồng hồ đeo tay thực sự đẹp với dây đeo rất lớn. Ai đó ngồi cạnh cô ấy bắt đầu hỏi về chiếc đồng hồ và cô ấy trở nên chút ít lo nghĩ. Tôi đơn giản quan sát. Anh ta muốn xem chiếc đồng hồ - và cô ấy lại không sẵn lòng tháo nó ra. Nhưng người này cứ nài nỉ và cô ấy phải tháo nó ra. Thế rồi tôi có thể thấy vấn đề là gì. Cô ấy có một đốm trắng lớn, một đốm bệnh phong. Cô ấy đã che giấu cái đốm bệnh phong đó dưới cái dây đeo của chiếc đồng hồ đẹp đó. Bây giờ cô ấy bị phơi bày ra - và cô ấy bắt đầu vã mồ hôi và trở nên thần kinh thế...

Bản ngã giống hệt như thế. Có nỗi sợ nhưng không ai muốn bầy tỏ nỗi sợ của mình, bởi vì nếu bạn bầy tỏ rằng bạn sợ thì nhiều người sẽ có đó họ sẽ làm cho bạn sợ hơn. Một khi họ đi tới biết rằng bạn đang sợ lắm, mọi người sẽ đánh bạn mạnh. Họ sẽ thích làm mất mặt bạn, tìm ra rằng ai đó là kẻ yếu hơn. Mọi người thích khai thác, đá người đó...

Cho nên mọi người sợ hãi, sâu bên dưới tạo ra một bản ngã lớn quanh nỗi sợ và cứ bơm thêm không khí vào trong quả bóng của bản ngã đó, và trở thành quá to. Adolf Hitler, Idi Amin ở Uganda - kiểu người đó trở thành rất được thổi phồng. Thế rồi người đó làm cho người khác sợ. Bất kì ai cũng làm cho bất kì ai khác sợ, vẫn biết rõ rằng bản thân mình sâu bên dưới sợ hãi, bằng không thì tại sao? Vấn đề là gì? Ai bận tâm làm cho bạn sợ nếu người đó không sợ hãi?

Những người đầy sợ hãi làm cho người khác sợ để cho họ có thể yên tâm thoải mái. Họ biết rõ rằng bây giờ bạn sẽ không đụng chạm tới họ, bạn sẽ không xâm lấn vào biên giới của họ.

Bạn đã nhìn rõ - đó đích xác là hoàn cảnh đấy. Cho nên đừng tranh đấu với bản ngã. Thay vì thế, quan sát nỗi sợ và cố gắng chấp nhận nó. Nó là tự nhiên... nó là một phần của cuộc sống. Không cần che giấu nó; không có nhu cầu giả vờ khác đi. Nó có đó - tất cả mọi con người đều đầy những sợ hãi. Nó là một phần của nhân loại. Chấp nhận nó, và khoảnh khắc bạn chấp nhận nó, bản ngã sẽ biến mất, bởi vì chẳng có vấn đề gì cho bản ngã tồn tại ở đó cả. Tranh đấu với bản ngã sẽ không ích lợi gì; chấp nhận nỗi sợ sẽ có ích ngay lập tức. Thế thì bạn biết rằng vâng, chúng ta tí hon thế trong vũ trụ bao la thế - làm sao lại có thể không sợ được? Và cuộc sống bị bao quanh bởi cái chết - làm sao có thể không sợ được? Bất kì khoảnh khắc nào chúng ta cũng có thể biến mất... một điều nhỏ đi sai và chúng ta biến mất - cho nên làm sao có thể không sợ được? Khi bạn chấp nhận, dần dần nỗi sợ biến mất bởi vì bây giờ chẳng có vấn đề gì cả. Bạn chấp nhận nó, bạn đã coi như nó có sẵn cho không rồi - nó là vậy!

Cho nên đừng tạo ra cái gì đó chống lại nó để che giấu nó. Và khi bạn không tạo ra cái gì chống lại nó, nó đơn giản rút đi. Tôi không nói bạn sẽ không có nỗi sợ nào - tôi đang nói rằng bạn sẽ không sợ. Nỗi sợ sẽ có đó nhưng bạn sẽ không sợ. Bạn có hiểu tôi không? Sợ hãi nghĩa là bạn đang chống lại nỗi sợ - bạn không muốn nó có đó, mà nó thì cứ có đó.

Khi bạn chấp nhận nó... Cũng như cây xanh, nhân loại đầy sợ hãi. Thế thì phải làm gì? Cây không che giấu. Mọi người đều thiên về chết. Sợ hãi là cái bóng của cái chết. Chấp nhận nó đi!

Khi tôi một mình tôi cảm thấy tôi có thể buông bỏ theo cách nào đó và yêu mọi người nhưng ngay khi tôi đi vào sự hiện diện của họ, cánh cửa chớp lại dựng lên.

Khó yêu được người thực bởi vì người thực sẽ không đáp ứng cho trông đợi của bạn. Người đó không được ngụ ý làm điều đó. Người đó không ở đây để đáp ứng cho trông đợi của bất kì ai khác, người đó phải sống cuộc sống riêng của mình. Và bất kì khi nào người đó đi đâu đó chống lại bạn hay không hài hoà với tình cảm, xúc động, con người bạn, thì điều đó lại trở thành khó khăn.

Rất dễ nghĩ về yêu. Rất khó yêu. Rất dễ yêu toàn thế giới. Cái khó thực sự là yêu một con người. Rất dễ yêu Thượng đế hay nhân loại. Vấn đề thực nảy sinh khi bạn bắt gặp một người thực và bạn đương đầu với người đó. Đương đầu với người đó là trải qua sự thay đổi lớn lao và thách thức lớn lao.

Người đó sẽ không là nô lệ của bạn và bạn cũng không là nô lệ của người đó. Đó là nơi vấn đề thực nảy sinh. Nếu bạn định là nô lệ hay nếu người đó định là nô lệ, thế thì không có vấn đề gì. Vấn đề nảy sinh bởi vì không ai ở đây để đóng vai nô lệ cả - và không ai có thể là nô lệ. Mọi người đều là tác nhân tự do... toàn thể sự hiện hữu bao gồm tự do. Con người là tự do.

Cho nên nhớ lấy - vấn đề này là thực, nó chẳng liên quan gì tới cá nhân bạn. Vấn đề có liên quan tới toàn thể hiện tượng của tình yêu. Đừng làm nó thành vấn đề cá nhân, bằng không bạn sẽ gặp khó khăn. Mọi người đều phải đối mặt với cùng vấn đề, nhiều hay ít. Tôi chưa bao giờ bắt gặp người nào không có khó khăn gì trong tình yêu. Nó có cái gì đó với tình yêu, chính thế giới của tình yêu.

Chính mối quan hệ đem bạn tới tình huống như vậy nơi vấn đề nảy sinh... và việc trải qua chúng cũng là tốt. Ở phương Đông mọi người đã trốn đi, khi thấy khó khăn trong nó. Họ bắt đầu phủ nhận tình yêu của mình, bác bỏ tình yêu của mình. Họ trở thành không có tình yêu và họ gọi nó là không gắn bó. Dần dần họ trở thành không cảm giác. Tình yêu gần như biến mất khỏi phương Đông và chỉ thiền còn lại.

Thiền nghĩa là bạn cảm thấy tốt trong tính đơn độc của mình. Thiền nghĩa là bạn đặt quan hệ chỉ với chính mình. Vòng tròn của bạn hoàn chỉnh với bản thân mình; bạn không đi ra ngoài nó. Tất nhiên chín mươi chín phần trăm vấn đề của bạn được giải quyết - nhưng với cái giá rất lớn. Bạn bây giờ sẽ bớt bị rắc rối. Con người phương Đông ít lo âu, ít căng thẳng... gần như sống trong hang động bên trong riêng của mình, được bảo vệ, với mắt nhắm lại. Người đó không cho phép năng lượng của mình được di chuyển. Người đó làm đoản mạch... sự chuyển động năng lượng rất nhỏ bên trong bản thể người đó và người đó sung sướng. Nhưng hạnh phúc của người đó là chết chút ít. Hạnh phúc của người đó không phải là sự hân hoan, nó không phải là niềm vui.

Nhiều nhất bạn có thể nói rằng đó không phải là bất hạnh. Nhiều nhất bạn có thể nói điều gì đó phủ định nó, cứ dường như bạn nói rằng bạn mạnh khoẻ bởi vì bạn không có bệnh tật gì. Nhưng điều đó chẳng mấy là mạnh khoẻ. Mạnh khoẻ phải là cái gì đó tích cực, sôi nổi của riêng nó - không chỉ là việc thiếu vắng bệnh tật. Theo cách đó ngay cả thân thể chết cũng còn mạnh khoẻ bởi vì nó không có ốm bệnh.

Cho nên ở phương Đông chúng ta đã cố gắng sống mà không có tình yêu, từ bỏ thế giới này - điều có nghĩa là từ bỏ tình yêu - từ bỏ đàn bà, đàn ông, và tất cả mọi khả năng nơi tình yêu có thể nở hoa. Các sư Jaina, sư Hindu, sư Phật giáo, đều không được phép nói chuyện với đàn bà khi họ một mình; không được phép chạm vào đàn bà, không thực sự được phép thậm chí nhìn mặt đối mặt. Khi đàn bà tới hỏi điều gì đó họ phải cụp mắt xuống. Họ phải nhìn vào đầu mũi mình để cho họ không thấy người đàn bà cho dù bởi nhầm lẫn. Bởi vì ai mà biết được, cái gì đó có thể nhoáng lên... và người ta gần như bất lực trong tay của tình yêu.

Họ không trú ngụ trong nhà của mọi người và họ không ở lại lâu tại một chỗ bởi vì gắn bó, tình yêu, trở thành có thể. Cho nên họ cứ di chuyển, đi lang thang, và tránh né - tránh né mọi mối quan hệ. Họ đã đạt tới phẩm chất nào đó của tĩnh lặng. Họ là những người không bị rối loạn, không bị thế giới làm sao lãng, nhưng không hạnh phúc, không mở hội.

Ở phương Tây chính cái đối lập lại đã xảy ra. Mọi người cố gắng tìm hạnh phúc qua tình yêu và họ đã tạo ra nhiều rắc rối. Họ đã mất tất cả mọi tiếp xúc với bản thân mình. Họ đã đi quá xa khỏi bản thân mình tới mức họ không biết cách quay lại. Họ không biết con đường ở đâu, nhà mình ở đâu. Cho nên họ cảm thấy vô nghĩa, vô gia cư, và họ làm mọi nỗ lực yêu ngày một nhiều với người đàn bà này, với người đàn ông kia - dị dục, đồng dục, tự dục. Họ cố gắng đủ mọi cách và họ cảm thấy trống rỗng, bởi vì một mình tình yêu có thể cho bạn hạnh phúc nhưng sẽ không có im lặng nào trong nó. Và khi có hạnh phúc lại không có im lặng, thì lại cái gì đó bị mất.

Khi bạn hạnh phúc mà không im lặng thì hạnh phúc của bạn sẽ giống như cơn sốt, kích động... nhiều khó nhọc chẳng về cái gì cả. Trạng thái sốt đó sẽ tạo ra nhiều căng thẳng trong bạn và chẳng cái gì sẽ bắt nguồn từ nó, chỉ chạy theo, săn đuổi. Rồi một hôm người ta đi tới nhận ra rằng toàn thể nỗ lực đã trở thành vô căn cứ vì bạn đã cố gắng tìm cái khác, mà bạn vẫn chưa tìm thấy bản thân mình.

Cả hai cách thức này đã thất bại. Phương Đông đã thất bại vì nó cố gắng thiền không có yêu. Phương Tây đã thất bại vì nó cố gắng yêu mà không có thiền. Toàn thể nỗ lực của tôi là để cho bạn sự tổng hợp, cái toàn thể - có nghĩa là thiền cộng với yêu. Người ta nên có khả năng hạnh phúc một mình và người ta cũng nên có khả năng hạnh phúc với mọi người. Người ta nên hạnh phúc bên trong và người ta cũng nên hạnh phúc trong các quan hệ. Người ta nên làm ngôi nhà đẹp bên trong và bên ngoài nữa. Bạn nên có khu vườn đẹp bao quanh nhà mình và phòng ngủ đẹp nữa. Vườn không chống lại phòng ngủ; phòng ngủ không chống lại vườn.

Cho nên thiền nên là chỗ trú ẩn bên trong, điện thờ bên trong. Bất kì khi nào bạn cảm thấy rằng thế giới quá nhiều cho bạn, bạn có thể đi vào trong điện thờ của mình. Bạn có thể tắm trong bản thể bên trong của mình. Bạn có thể làm sảng khoái lại bản thân mình. Bạn có thể bước ra được phục sinh; lại sống động, tươi tắn, trẻ trung, mới lại... để sống, để hiện hữu. Nhưng bạn cũng nên có khả năng yêu mọi người và đối diện với các vấn đề, bởi vì im lặng mà bất lực và không thể đối diện với vấn đề thì cũng không mấy là im lặng đâu, không đáng là im lặng đâu.

Chỉ im lặng mà có thể đối diện với vấn đề và vẫn còn im lặng mới là cái gì đó đáng khao khát, đáng ham muốn.

Cho nên hai điều này tôi muốn nói với bạn: thứ nhất bắt đầu thực hành thiền... bởi vì bao giờ cũng tốt để bắt đầu từ trung tâm gần nhất của bản thể bạn, và đó là thiền. Nhưng đừng bao giờ bị mắc kẹt trong nó. Thiền nên di động, nở hoa, hiển lộ và trở thành yêu.

Và đừng lo nghĩ, đừng làm nó thành vấn đề - nó không phải vậy. Nó đơn giản là tính người; nó là tự nhiên. Mọi người đều sợ - phải như vậy. Cuộc sống là ở mức mọi người đều phải sợ. Và những người trở nên vô sợ hãi, thì trở thành vô sợ hãi không phải bởi trở nên bạo dạn - bởi vì người bạo dạn chỉ kìm nén nỗi sợ của mình; người đó không thực sự là vô sợ hãi. Người ta trở thành vô sợ hãi bởi việc chấp nhận cái sợ của mình. Vấn đề không phải là bạo dạn. Nó đơn giản là nhìn vào trong sự kiện của cuộc sống và nhận ra rằng những nỗi sợ này là tự nhiên. Người ta chấp nhận chúng!

Vấn đề nảy sinh bởi vì bạn muốn bác bỏ chúng. Bạn đã được dạy những ý tưởng rất bản ngã - “Hãy bạo dạn.” Vô nghĩa làm sao! Ngu xuẩn! Làm sao một người thông minh lại có thể né tránh nỗi sợ được? Nếu bạn ngu xuẩn bạn sẽ không có nỗi sợ nào. Thế thì người lái xe bus cứ bóp còi và bạn cứ đứng ra giữa đường, không sợ. Hay con trâu tới tấn công bạn và bạn cứ đứng đó, không sợ. Nhưng bạn ngu! Người thông minh phải nhảy ra khỏi đường chứ.

Nếu bạn trở thành kẻ nghiện và bắt đầu nhìn mọi nơi xem có rắn trong bụi cây không, thế thì có vấn đề. Nếu không có ai trên đường và thế nữa bạn cũng sợ và bắt đầu chạy, thì có vấn đề; bằng không, nỗi sợ là tự nhiên.

Cho nên khi tôi nói rằng bạn sẽ gạt bỏ nỗi sợ của mình, tôi không ngụ ý rằng sẽ không có nỗi sợ trong cuộc sống. Bạn sẽ đi tới biết rằng chín mươi phần trăm nỗi sợ của bạn chỉ là tưởng tượng. Mười phần trăm là thực cho nên người ta phải chấp nhận chúng. Tôi không làm cho mọi người thành bạo dạn. Tôi làm cho họ mang tính đáp ứng hơn, nhạy cảm hơn, tỉnh táo hơn, và tỉnh táo của họ là đủ. Họ trở nên nhận biết rằng họ có thể dùng nỗi sợ của mình cũng như các bậc đá bước lên. Cho nên đừng lo, hừ?

Sợ được làm từ cái gì? Nó bao giờ cũng có đó đằng sau góc kia, nhưng khi tôi quay mặt vào nó, nó chỉ là cái bóng. Nếu nó là không thực chất, làm sao nó xoay xở có sức mạnh thế đối với tôi?

Sợ là không bản chất như cái bóng của bạn, nhưng nó có. Cái bóng cũng tồn tại - không bản chất, tiêu cực, nhưng không phải là không tồn tại, và đôi khi cái bóng có thể có tác động lớn lên bạn. Trong rừng rậm khi đêm lại gần bạn có thể bị kinh hãi về cái bóng riêng của mình. Tại chỗ đơn độc, trên con đường đơn độc, bạn có thể bắt đầu chạy bởi vì cái bóng của riêng mình. Việc chạy của bạn sẽ là thực, việc trốn của bạn sẽ là thực, nhưng nguyên nhân sẽ là không bản chất.

Bạn có thể chạy xa khỏi sợi dây thừng cứ nghĩ rằng đó là con rắn; nếu bạn quay lại và nhìn kĩ và bạn quan sát, bạn sẽ cười vào toàn bộ cái ngu xuẩn của nó.

Nhưng mọi người sợ đi vào chỗ có nỗi sợ. Mọi người còn sợ nỗi sợ hơn là bất kì cái gì khác, bởi vì chính sự tồn tại của nỗi sợ làm rung chuyển nền tảng của bạn. Rung chuyển nền tảng là rất thực, nhớ lấy. Nỗi sợ giống như giấc mơ, cơn ác mộng, nhưng sau cơn ác mộng khi bạn thức dậy hậu quả vẫn còn dai dẳng, vết tích vẫn còn dai dẳng. Hơi thở của bạn đã thay đổi, bạn đang vã mồ hôi, thân thể bạn vẫn còn run run, bạn đang nóng cả người. Bây giờ bạn biết rằng đó chỉ là cơn ác mộng, giấc mơ, không bản chất, nhưng ngay cả việc biết này cũng phải mất thời gian để thâm nhập vào chính cốt lõi bản thể bạn. Trong khi đó hiệu quả của giấc mơ không bản chất này vẫn sẽ tiếp tục. Sợ là ác mộng.

Bạn hỏi tôi, "Sợ được làm bằng gì?" Sợ được làm bằng dốt nát về cái ta của riêng người ta. Chỉ có một nỗi sợ; nó biểu lộ theo nhiều cách, cả nghìn lẻ một cách có thể là cách biểu lộ, nhưng nỗi sợ về cơ bản là một, và đó là điều "Sâu bên trong, mình có thể không hiện hữu." Và theo một cách nào đó đúng là bạn không hiện hữu thật.

Thượng đế hiện hữu, bạn không hiện hữu. Chủ không hiện hữu, Khách hiện hữu. Và bởi vì bạn hoài nghi - và hoài nghi của bạn lại rất hợp thức - bạn không nhìn vào trong. Bạn cứ giả vờ rằng bạn hiện hữu; bạn biết rằng nếu bạn nhìn vào trong, bạn không hiện hữu. Đây là việc hiểu sâu sắc, ngầm ẩn. Nó không phải là trí tuệ, nó mang tính tồn tại, nó ở ngay trong lòng bạn, cái cảm giác rằng "Mình có thể không hiện hữu. Tốt hơn cả là đừng nhìn vào trong. Cứ nhìn ra ngoài thôi." Ít nhất điều đó cũng giữ bạn bị lừa, nó giữ cho ảo tưởng về 'tôi đây' là giả tạo, nó tạo ra nỗi sợ; bất kì cái gì cũng có thể phá huỷ nó, bất kì cuộc đấu sâu sắc nào cũng có thể làm tan tành nó. Nó có thể bị tan tành bởi tình yêu, nó có thể bị tan tành bởi việc gặp một thầy, nó có thể bị tan tành bởi bệnh tật lớn, nó có thể bị tan tành bởi việc thấy ai đó chết. Nó có thể bị tan tành theo nhiều cách, nó rất mong manh. Bạn đang xoay xở nó bằng cách nào đó bằng việc không nhìn vào trong.

Mulla Nasruddin đang du hành trên tầu hoả. Người soát vé tới; người này hỏi vé tầu. Anh ta nhìn vào trong mọi túi của mình, trong các va li, mà chẳng thấy vé đâu cả. Và anh ta vã mồ hôi, và anh ta mỗi lúc lại thêm kinh hãi hơn. Và rồi người soát vé nói, "Thưa ngài, nhưng ngài chưa nhìn vào một trong các túi của ngài. Sao ngài lại không nhìn vào trong nó?"

Mulla Nasruddin nói, "Xin đừng nhắc tới cái túi đó. Tôi sẽ không nhìn vào nó đâu. Đó là hi vọng duy nhất của tôi! Nếu tôi nhìn vào cái túi đó mà cũng lại không tìm ra, thế thì nó không có, thế thì nó tuyệt đối không có. Tôi không thể nhìn vào cái túi đó được. Xin nhắc ông, tôi sẽ nhìn vào mọi thứ khác; cái túi đó là chỗ an toàn của tôi, tôi có thể vẫn hi vọng rằng nó có thể ở trong cái túi đó. Tôi đã chủ ý để nó đấy và tôi không định chạm vào nó. Dù tôi có tìm thấy vé hay không, tôi sẽ không nhìn vào trong cái túi đặc biệt đó."

Đây là tình huống về bản ngã nữa. Bạn không nhìn vào trong, đó là niềm hi vọng duy nhất của bạn: "Ai mà biết được? Có thể nó có đây." Nhưng nếu bạn nhìn, cảm giác ngầm ẩn của bạn nói nó không có.

Bản ngã giả tạo này mà bạn đã tạo ra bởi việc không nhìn vào trong, bởi việc liên tục nhìn ra ngoài, là nguyên nhân gốc rễ của sợ hãi. Bạn sẽ sợ tất cả những chỗ bạn phải nhìn. Bạn sẽ sợ cái đẹp bởi vì cái đẹp đơn giản ném bạn vào trong. Mặt trời đẹp, và tất cả những mầu sắc chói sáng kia trong mây, và bạn sẽ sợ nhìn vào nó bởi vì cái đẹp lớn lao thế nhất định ném bạn vào trong. Cái đẹp lớn lao thế làm dừng việc suy nghĩ: trong một khoảnh khắc tâm trí trong kính nể đến mức nó quên mất cách nghĩ, cách cứ vặn vẹo và thêu dệt. Việc nói bên trong đi tới điểm dừng, điểm đứng lại, và bạn bỗng nhiên ở trong.

Mọi người sợ âm nhạc vĩ đại, mọi người sợ thân thiết sâu sắc. Chuyện tình của mọi người chỉ là chuyện lao vào rồi bỏ trốn. Họ không đi sâu vào lẫn nhau bởi vì đi sâu vào bản thể của nhau, nỗi sợ có đó - bởi vì cái vũng bản thể của người kia sẽ phản xạ bạn. Trong cái vũng đó, trong tấm gương đó của bản thể người kia, nếu bạn không được tìm thấy, nếu tấm gương vẫn còn trống rỗng, nếu nó không phản xạ gì, thì sao?

Mọi người sợ tình yêu. Họ chỉ giả vờ, họ chỉ chơi trò chơi nhân danh tình yêu. Họ sợ thiền; thậm chí nhân danh thiền, nhiều nhất họ cứ làm những cách nghĩ mới. Đó là điều Thiền định Siêu việt của Maharishi Mahesh Yogi đang là - nó chẳng là thiền cũng không siêu việt. Nó đơn giản là việc tụng mật chú, và tụng mật chú thì không là gì ngoài quá trình của ý nghĩ, ý nghĩ tập trung. Nó lại là phương cách mới, phương cách không thiền. Mọi người đang lặp lại lời cầu nguyện Ki tô giáo, lời cầu nguyện Mô ha mét giáo, lời cầu nguyện Hindu giáo, đủ mọi cách để tránh thiền. Đây không phải là thiền, nhớ lấy. Tâm trí tinh ranh tới mức nhân danh thiền nó đã tạo ra nhiều hiện tượng giả.

Thiền là khi bạn không làm điều gì cả, khi tâm trí không vận hành chút nào. Không vận hành đó của tâm trí là thiền - không tụng niệm, không mật chú, không hình ảnh, không tập trung. Người ta đơn giản hiện hữu. Trong hiện hữu đó bản ngã biến mất, và cùng bản ngã, cái bóng của bản ngã cũng biến mất. Cái bóng đó là sợ hãi.

Sợ hãi là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Từng người đều phải trải qua nó và phải đi tới hiểu biết nào đó về nó. Bản ngã cho bạn nỗi sợ rằng một ngày nào đó bạn có thể phải chết. Bạn cứ tự lừa dối mình rằng cái chết xảy ra chỉ cho người khác, và theo một cách nào đó bạn cũng đúng: hàng xóm nào đó chết, người quen nào đó chết, người bạn nào đó chết, vợ bạn chết, mẹ bạn chết - điều đó bao giờ cũng xảy ra cho ai đó khác, chưa bao giờ cho bạn. Bạn có thể che giấu sự kiện này: có thể bạn là ngoại lệ, bạn sẽ không chết. Bản ngã đang cố gắng bảo vệ bạn.

Nhưng mỗi lần ai đó chết, cái gì đó trong bạn trở nên lung lay. Mỗi cái chết lại là một cái chết nhỏ cho bạn. Đừng bao giờ bảo ai đó tới hỏi chuông điểm hồn ai, nó cho cả ba. Mỗi cái chết đều là cái chết của bạn. Ngay cả khi chiếc lá khô rơi khỏi cây, đấy cũng là cái chết của bạn. Do đó chúng ta cứ tự bảo vệ mình.

Ai đó đang chết và chúng ta nói về tính bất tử của linh hồn, và chiếc lá đã rụng khỏi cây và chúng ta nói "Chẳng có gì phải lo nghĩ cả. Chẳng mấy chốc mùa xuân sẽ tới và cây sẽ lại có tán lá mới. Đây chỉ là thay đổi, chỉ vỏ ngoài là đang thay đổi."

Mọi người tin vào tính bất tử của linh hồn không phải vì họ biết nhưng bởi vì họ sợ. Một người càng hèn nhát, càng nhiều khả năng rằng người đó sẽ tin vào tính bất tử của linh hồn - không phải là người đó mang tính tôn giáo, người đó đơn giản hèn nhát. Tin tưởng vào tính bất tử của linh hồn chẳng liên quan gì tới tôn giáo cả. Người tôn giáo biết rằng "tôi không hiện hữu", và rồi bất kì cái gì còn lại cũng đều là bất tử - nhưng điều đó chẳng liên quan gì tới 'tôi' cả. Cái 'tôi' này không bất tử, cái 'mình' này không bất tử. Cái 'tôi' này rất tạm thời; nó được chúng ta chế tạo ra.

Sợ hãi là cái bóng của cái 'tôi', và bởi vì cái 'tôi' bao giờ cũng tỉnh táo ở đâu đó sâu bên dưới rằng "tôi sẽ phải biến mất trong cái chết "... Nỗi sợ cơ bản là về cái chết; tất cả mọi nỗi sợ khác chỉ là phản xạ của cái sợ cơ bản này. Và cái đẹp là ở chỗ cái chết cũng phi tồn tại như bản ngã, và giữa hai cái phi tồn tại này - bản ngã và cái chết - cây cầu là nỗi sợ.

Sợ hãi là rất bất lực, nó không có sức mạnh. Bạn nói, "Nếu nó là không bản chất, thế thì làm sao nó lại xoay xở có sức mạnh thế đối với tôi?" Bạn muốn tin vào nó - đó là sức mạnh của nó. Bạn không sẵn sàng lấy cú nhẩy vào trong chiều sâu bên trong của mình và đối mặt với cái trống rỗng bên trong của mình - đó là sức mạnh của nó. Bằng không thì nó là bất lực, hoàn toàn bất lực. Chẳng cái gì được sinh ra từ sợ hãi cả. Yêu cho việc sinh, yêu mang tính sáng tạo; sợ là bất lực.

Ông và bà Smith đưa nhau ra trước toà.

"Tôi muốn li dị với kẻ lập dị này," người vợ nói.

"Tôi muốn gạt bỏ cái rìu chiến này," người chồng la lên.

Quan toà: "Ông bà có bao nhiêu con?"

Vợ: "Ba con."

Quan toà: "Sao ông bà không duy trì hôn nhân thêm một năm nữa và có thêm đứa con nữa, thế thì ông bà sẽ có bốn đứa. Ông bà mỗi người có thể lấy hai đứa và cả hai sẽ được thoả mãn."

Chồng: "Ấy à, nhưng giả sử chúng tôi có con sinh đôi thì sao?"

Vợ: "Ha! Trông cái máy sinh đôi nhỏ của tôi đây này. Nếu tôi phụ thuộc vào ông ấy, tôi đã không có ba đứa này!"

Nỗi sợ hoàn toàn bất lực. Nó chưa bao giờ tạo ra bất kì cái gì. Nó không thể sáng tạo được; nó không có khả năng đó. Nhưng nó có thể phá huỷ toàn thể cuộc sống của bạn, nó có thể bao quanh bạn như bóng tối, mây đen, nó có thể khai thác tất cả mọi năng lượng của bạn. Nó sẽ không cho phép bạn đi vào trong bất kì kinh nghiệm sâu sắc nào về cái đẹp, thơ ca, tình yêu, vui vẻ, lễ hội, thiền. Không, nó sẽ giữ bạn chỉ trên bề mặt bởi vì nó có thể tồn tại chỉ trên bề mặt. Nó là gợn sóng trên bề mặt.

Đi vào, nhìn vào, và nếu nó trống rỗng, thì sao? Thế thì đó là bản tính của chúng ta, thế thì đó là điều chúng ta đang là. Tại sao người ta lại phải lo nghĩ về cái trống rỗng? Cái trống rống đẹp như bầu trời vậy. Bản thể bên trong của bạn không là gì ngoài bầu trời bên trong. Bầu trời là trống rỗng, nhưng chính bầu trời trống rỗng đó ôm giữ tất cả, toàn thể sự tồn tại này, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, trái đất, hành tinh. Chính bầu trời trống rỗng tạo không gian cho tất cả mọi thứ đang có. Chính bầu trời trống rỗng là nền cho tất cả mọi thứ tồn tại. Mọi thứ tới rồi đi và bầu trời vẫn còn lại như cũ.

Theo đích xác cùng cách đó, bạn có bầu trời bên trong; nó cũng trống rỗng. Mây tới rồi đi, hành tinh sinh ra rồi biến mất, sao phát sinh rồi chết, và bầu trời bên trong vẫn còn như cũ, còn nguyên, không có vết gì, không có sẹo. Chúng ta gọi bầu trời bên trong đó là sakshin, nhân chứng - và đó là mục đích toàn thể của thiền.

Đi vào trong, tận hưởng bầu trời bên trong đi. Nhớ lấy, bất kì điều gì bạn có thể thấy, bạn đều không là nó. Bạn có thể thấy các ý nghĩ, thế thì bạn không phải là các ý nghĩ; bạn có thể thấy các tình cảm của mình, thế thì bạn không là tình cảm của mình; bạn có thể thấy giấc mơ của mình, ham muốn, kí ức, tưởng tượng, phóng chiếu, thế thì bạn không phải là chúng. Cứ khử bỏ dần tất cả mọi thứ bạn có thể thấy. Thế rồi một ngày nào đó khoảnh khắc vô cùng sẽ tới, khoảnh khắc có ý nghĩa nhất của cuộc sống người ta, khi chẳng cái gì còn lại để bị bác bỏ. Tất cả mọi thứ được thấy đều đã biến mất và chỉ người thấy có đó. Người thấy đó là bầu trời trống rỗng.

Biết điều đó là vô sợ hãi, và biết điều đó là tràn đầy tình yêu. Biết điều đó là Thượng đế, là bất tử.

Sao tôi vẫn sợ bộc lộ bản thân mình thế?

Ai không sợ? Bộc lộ bản thân mình tạo ra nỗi sợ lớn. Điều đó là tự nhiên, bởi vì bộc lộ bản thân mình nghĩa là bộc lộ tất cả mọi rác rưởi bạn mang trong tâm trí mình, những rác đã được chất đống trong nhiều thế kỉ, trong nhiều, nhiều kiếp sống. Bộc lộ bản thân mình nghĩa là bộc lộ tất cả yếu đuối của người ta, những giới hạn, thiếu sót. Bộc lộ bản thân mình chung cuộc nghĩa là bộc lộ sự mong manh của người ta. Cái chết... Bộc lộ bản thân mình nghĩa là bộc lộ cái trống rỗng của người ta.

Đằng sau tất cả những rác rưởi này của tâm trí có một chiều hướng của cái trống rỗng hoàn toàn. Người ta hổng hoác không có Thượng đế, người ta chỉ là trống rỗng và chẳng có gì mà không có Thượng đế. Người ta muốn che giấu sự trần trụi này, sự trống rỗng này, cái xấu xí này. Người ta che đậy nó bằng hoa đẹp, người ta trang hoàng những vỏ bọc đó. Ít nhất người ta cũng giả vờ rằng người ta là cái gì đó, ai đó. Và đây không chỉ là cái gì đó mang tính cá nhân cho bạn; đây là cái phổ dụng, đây là trường hợp cho mọi người.

Không ai có thể cởi mở bản thân mình như cuốn sách. Nỗi sợ giữ chặt bạn: "Mọi người sẽ nghĩ gì về mình?" Từ chính tuổi thơ của mình bạn đã từng được dạy đeo mặt nạ, mặt nạ đẹp. Không cần có khuôn mặt đẹp, chỉ mặt nạ đẹp sẽ có tác dụng; và mặt nạ thì rẻ. Biến đổi khuôn mặt bạn là gian nan. Tô vẽ khuôn mặt bạn rất đơn giản.

Bây giờ bỗng nhiên việc phơi bày khuôn mặt thật của bạn làm cho bạn rùng mình trong cốt lõi sâu nhất của bản thể mình. Run rẩy phát sinh: Mọi người có thích nó không? mọi người có chấp nhận bạn không? mọi người có yêu bạn, kính trọng bạn không? Ai biết? - bởi vì họ đã yêu mặt nạ của bạn, họ đã kính trọng tính cách của bạn, họ đã ca ngợi cái vỏ ngoài của bạn. Bây giờ nỗi sợ phát sinh: "Nếu mình bỗng nhiên trở thành trần trụi liệu họ vẫn còn yêu mình, kính trọng mình, ca ngợi mình, hay họ tất cả sẽ trốn khỏi mình? Họ có thể quay lưng lại, mình có thể bị bỏ một mình."

Do đó mọi người cứ giả vờ. Từ nỗi sợ mới có giả vờ, từ nỗi sợ mới phát sinh tất cả những cái giả. Người ta cần vô sợ hãi để đích thực.

Một trong các luật cơ bản của cuộc sống là thế này: bất kì cái gì bạn che giấu sẽ cứ phát triển, và bất kì cái gì bạn phơi bày, nếu nó sai nó biến mất, bay hơi trong mặt trời, còn nếu nó đúng nó được nuôi dưỡng. Chính điều đối lập xảy ra khi bạn che giấu điều gì đó. Cái đúng bắt đầu chết đi bởi vì nó không được nuôi dưỡng; nó cần gió và mưa và mặt trời. Nó cần toàn thể tự nhiên sẵn có cho nó. Nó có thể phát triển chỉ với chân lí, nó được nuôi dưỡng trên chân lí. Dừng việc nuôi dưỡng nó và nó bắt đầu ngày một quắt queo lại. Và mọi người đang bỏ đói thực tại của mình và nuôi béo cái không thực của mình.

Khuôn mặt không thực của bạn được nuôi dưỡng nhờ dối trá, cho nên bạn phải cứ bịa ra ngày một nhiều dối trá hơn. Để hỗ trợ cho một dối trá bạn sẽ phải nói dối thêm một trăm lần, bởi vì dối trá chỉ có thể được hỗ trợ bởi dối trá lớn hơn. Cho nên khi bạn ẩn nấp đằng sau mẽ ngoài, cái thực chết đi và cái không thực phát đạt, trở thành ngày một béo hơn. Nếu bạn bộc lộ bản thân mình, cái không thực sẽ chết, nhất định chết, bởi vì cái không thực không thể còn lại trong công khai. Nó chỉ có thể còn lại nơi bí mật, nó chỉ có thể còn lại trong bóng tối, nó chỉ có thể còn lại trong đường hầm của vô thức của bạn. Nếu bạn đem nó ra ý thức nó bắt đầu bay hơi.

Đó là toàn bộ bí mật của thành công của phân tâm học. Nó là một bí mật đơn giản, nhưng là toàn thể bí mật của phân tâm học. Các nhà phân tâm giúp đem ra tất cả những cái ở bên trong vô thức của bạn, trong cõi tối tăm của bản thể bạn, tới mức độ của ý thức. Người đó mang nó lên bề mặt nơi bạn có thể thấy được nó, người khác có thể thấy được nó, và phép màu xảy ra: ngay khi bạn thấy, nó bắt đầu cái chết của nó. Và nếu bạn có thể kể lại nó cho ai đó khác - đó là điều bạn làm trong phân tâm học, bạn bộc lộ bản thân mình cho nhà phân tâm - ngay cả việc bộc lộ cho một người thôi cũng đủ đem tới thay đổi lớn trong con người bạn. Nhưng bộc lộ cho nhà phân tâm cũng bị giới hạn: bạn đã bộc lộ chỉ cho một người, theo cách riêng tư sâu sắc, với điều kiện là người đó sẽ không làm điều đó công khai. Đó là một phần của nghề nghiệp của bác sĩ trị liệu, nhà phân tâm, nhà trị liệu; đó là một phần của lời thề của người đó rằng người đó sẽ không nói điều đó cho bất kì ai, điều đó sẽ được giữ bí mật. Cho nên nó được bộc lộc rất giới hạn, nhưng dẫu sao thì nó cũng vẫn có ích. Và nó là việc bộc lộ chuyên nghiệp; nó vẫn có ích. Phải mất nhiều năm, đó là lí do tại sao; điều có thể được thực hiện trong vài ngày phải mất vài năm trong phân tâm học - bốn năm, năm năm và thế rồi việc phân tâm chẳng bao giờ hoàn chỉnh. Thế giới vẫn còn chưa biết tới một trường hợp nào của phân tâm toàn bộ, của quá trình được hoàn thành, được kết thúc, được chấm dứt, không, còn chưa đâu. Mà thậm chí nhà phân tâm cũng không phân tích tâm lí một cách đầy đủ - bởi vì việc phơi bày bản thân nó là rất giới hạn và có điều kiện. Nhà phân tâm lắng nghe bạn cứ dường như người đó không nghe, bởi vì người đó không kể điều đó cho bất kì ai. Nhưng cho dù thế thì nó vẫn có ích, nó giúp làm nhẹ gánh vô cùng.

Nếu bạn có thể phơi bày bản thân mình một cách tôn giáo - không ở chỗ riêng tư, không cho nhà chuyên môn, mà đơn giản trong tất cả mối quan hệ của mình - đó chính là điều sannyas tất cả là vậy. Nó chính là tự phân tâm học. Nó là phân tâm hai mươi tư tiếng, hết ngày nọ tới ngày kia. Nó là phân tâm theo đủ mọi loại tình huống: với vợ, với bạn, với họ hàng, với kẻ thù, với người lạ, với ông chủ, với người phục vụ. Trong hai mươi bốn giờ bạn đều kể ra.

Nếu bạn cứ phơi bày bản thân mình... Lúc ban đầu điều đó sẽ thực sự rất kinh hãi, nhưng chẳng mấy chốc bạn sẽ bắt đầu thu được sức mạnh bởi vì một khi chân lí được lộ ra nó trở thành mạnh hơn và cái phi chân lí chết đi. Và với chân lí trở nên mạnh hơn bạn trở nên được bắt rễ, bạn trở nên định tâm. Bạn bắt đầu trở thành cá nhân; cá tính biến mất và cá nhân xuất hiện.

Cá tính là hư huyễn, cá nhân là bản chất. Cá tính chỉ là mẽ ngoài, cá nhân là chân lí của bạn. Cá tính bị áp đặt từ bên ngoài; nó là diện mạo cá thể, cái mặt nạ. Cá nhân là thực tại của bạn - nó là như Thượng đế đã làm ra bạn. Cá tính là phức hợp xã hội, sự đánh bóng xã hội. Cá nhân là nguyên liệu, hoang sơ, mạnh mẽ, với sức mạnh vô cùng.

Chỉ lúc đầu nỗi sợ mới có đó. Do đó mới cần Thầy, để cho lúc đầu thầy có thể cầm tay bạn, để cho lúc đầu thầy có thể hỗ trợ bạn, để cho lúc đầu thầy có thể đưa bạn đi vài bước cùng thầy. Thầy không phải là nhà phân tâm; thầy là thế và còn hơn nhiều nữa. Nhà phân tâm là nhà chuyên môn, thầy không phải là nhà chuyên môn. Việc giúp đỡ mọi người không phải là nghề của thầy, nó là thiên hướng của thầy. Nó là tình yêu của thầy, nó là từ bi của thầy. Và bởi vì nó là từ bi của thầy nên thầy chỉ đưa bạn đi xa đủ mức bạn cần tới thầy. Khoảnh khắc thầy cảm thấy rằng bạn có thể đi theo cách riêng của mình thầy bắt đầu tuột tay mình ra khỏi tay bạn. Mặc dầu bạn vẫn muốn níu bám, thầy không thể cho phép điều đó.

Một khi bạn sẵn sàng, dũng cảm, táo bạo, một khi bạn đã nếm trải tự do của chân lí, tự do của việc phơi bày thực tại của mình, bạn có thể đi theo cách riêng của mình. Bạn có thể là ánh sáng lên chính mình.

Nhưng sợ là tự nhiên bởi vì từ chính thời thơ ấu bạn đã được dạy những điều giả dối, và bạn đã trở nên bị đồng nhất quá nhiều với cái giả tới mức vứt bỏ nó gần có vẻ như tự tử. Và nỗi sợ phát sinh bởi vì cuộc khủng hoảng căn cước lớn nảy sinh.

Trong năm mươi năm, sáu mươi năm, bạn đã là một loại người nào đó. Bây giờ người hỏi phải đã tới sáu mươi tuổi - trong sáu mươi năm bạn đã từng là một loại người nào đó. Bây giờ, tại pha cuối cùng của cuộc sống của bạn, việc vứt bỏ căn cước đó và bắt đầu học về bản thân mình từ ABC là đáng sợ. Cái chết đang tới gần hơn mỗi ngày - đây có phải là lúc để bắt đầu bài học mới không? Ai biết được liệu bạn có khả năng hoàn thành nó hay là không? Ai biết? Bạn có thể làm mất đi căn cước cũ và bạn có thể không có đủ thời gian, đủ năng lượng, đủ dũng cảm để đạt tới căn cước mới. Cho nên bạn sẽ chết đi trong pha cuối cùng của cuộc đời mình mà không có căn cước? Bạn có định sống trong pha cuối cùng của cuộc đời mình mà không có căn cước không? Đó sẽ là một loại điên khùng, sống mà không có căn cước nào; trái tim chìm đắm, trái tim co lại. Người ta nghĩ, "Bây giờ như thế là được, cứ tiếp tục thêm vài ngày nữa. Tốt hơn cả là sống với cái cũ, cái quen thuộc, cái an toàn, cái thuận tiện." Bạn đã trở thành thiện nghệ về điều đó rồi. Và nó đã là đầu tư lớn, bạn đã để sáu mươi năm cuộc sống của mình vào nó rồi. Bằng cách nào đó bạn đã xoay xở, bằng cách nào đó bạn đã tạo ra ý tưởng về mình là ai, và bây giờ tôi bảo bạn vứt bỏ cái ý tưởng đó đi vì bạn không là cái đó!

Không ý tưởng nào là cần để biết tới bản thân bạn. Thực tế, tất cả mọi ý tưởng đều phải bị vứt bỏ, chỉ thế thì bạn mới có thể biết được mình là ai.

Sợ là tự nhiên. Đừng kết án nó, và đừng cảm thấy rằng nó là cái gì đó sai. Nó chính là một phần của toàn thể giáo dục xã hội này. Chúng ta phải chấp nhận nó và vượt ra ngoài nó; không kết án nó mà chúng ta phải vượt ra ngoài nó.

Phơi bày ra, dần dần - không có nhu cầu lấy bước nhẩy mà bạn không thể đảm đương được; đi từng bước một, dần dần. Nhưng rồi chẳng mấy chốc bạn sẽ nếm trải chân lí, và bạn sẽ ngạc nhiên là tất cả sáu mươi năm đó đã là phí hoài cực kì. Căn cước cũ của bạn sẽ bị mất đi, bạn sẽ có quan niệm hoàn toàn mới. Nó sẽ không thực sự là căn cước mà là tầm nhìn mới, cách nhìn mới về mọi thứ, viễn cảnh mới. Bạn sẽ không thể nói 'tôi' lần nữa với cái gì đó đằng sau nó; bạn sẽ dùng từ này bởi vì nó hữu dụng, nhưng bạn sẽ biết vào mọi lúc rằng từ này không mang nghĩa nào, không bản chất, không bản chất tồn tại chút nào; rằng đằng sau cái 'tôi' này ẩn giấu một đại dương, vô hạn, bao la, thiêng liêng.

Bạn sẽ chẳng bao giờ đạt tới căn cước khác; căn cước cũ của bạn sẽ mất đi, và lần đầu tiên bạn sẽ bắt đầu cảm thấy bản thân mình như con sóng trong đại dương của Thượng đế. Cái đó không phải là căn cước bởi vì bạn không trong nó. Bạn đã biến mất, Thượng đế đã tràn ngập bạn.

Nếu bạn có thể liều bỏ cái giả, chân lí có thể là của bạn. Và điều đó xứng đáng với nó, bởi vì bạn liều bỏ chỉ cái giả và bạn thu được chân lí. Bạn không liều bỏ cái gì và bạn thu được tất cả.


Tôi đã phát hiện ra rằng tôi chán với bản thân mình và tôi cảm thấy không hăng hái. Thầy đã nói chấp nhận bản thân mình, dù chúng ta là bất kì cái gì. Tôi không thể chấp nhận được cuộc sống, vẫn biết rằng tôi đang bỏ lỡ điều gì đó của niềm vui bên trong. Phải làm gì đây?

Tôi đã nghe... có một kiểu thuốc an thần mới không làm thảnh thơi bạn - chỉ làm cho bạn đào thêm vào căng thẳng.

Thử nó xem sao! Thử nó và thử nó và thử nó nữa - là một người Mĩ đi! - nhưng không quá ba lần. Thử nó, thử nó và thử nó lần nữa, và thế rồi dừng lại bởi vì chẳng có vấn đề gì trong việc xuẩn ngốc.

Bạn hỏi tôi:

“Tôi đã phát hiện ra rằng tôi chán với bản thân mình...”

Đây là một phát hiện lớn lao. Vâng, tôi ngụ ý điều đó! Rất ít người nhận biết rằng họ chán - và họ đang chán, hoàn toàn chán. Mọi người khác đều biết điều đó ngoại trừ họ. Biết rằng người ta bị chán là sự bắt đầu lớn lao; bây giờ vài điều ngụ ý phải được hiểu.

Con người là con vật duy nhất cảm thấy chán; đó là một đặc quyền lớn, đó là một phần của chân giá trị của con người. Bạn có thấy con trâu nào chán, con lừa nào chán không? Chúng không chán. Chán đơn giản có nghĩa là cách thức bạn đang sống bị sai rồi; do đó nó có thể trở thành một biến cố lớn, hiểu biết rằng "Mình đang chán và cái gì đó cần phải được làm, biến đổi nào đó là cần thiết." Cho nên đừng nghĩ rằng điều đó là xấu, rằng bạn đang cảm thấy chán - nó là dấu hiệu tốt, sự bắt đầu tốt, sự bắt đầu rất thuận lợi. Nhưng đừng dừng lại ở đó.

Sao người ta cảm thấy chán? Người ta cảm thấy chán bởi vì người ta đã sống trong các hình mẫu chết do những người khác trao lại cho bạn. Từ bỏ những hình mẫu đó đi, bước ra khỏi các hình mẫu đó đi! Bắt đầu sống theo cách riêng của mình.

Chỉ người đích thực mới không chán, người rởm nhất định chán. Người Ki tô giáo sẽ chán, người Jaina sẽ chán, người Parsi sẽ chán, người quốc gia sẽ chán, bởi vì họ chia cuộc sống ra làm hai phần. Cuộc sống thực của họ vẫn còn bị kìm nén và họ bắt đầu giả vờ một cuộc sống không thực. Chính cuộc sống không thực tạo ra chán chường. Nếu bạn đang làm một việc bạn được ngụ ‎ý làm, bạn sẽ không bao giờ chán.

Cái ngày tôi rời khỏi nhà để vào đại học bố mẹ tôi, bố tôi, gia đình tôi, tất cả mọi người đều muốn tôi trở thành nhà khoa học - có nhiều tương lai hơn cho nhà khoa học - hay ít nhất thì cũng là bác sĩ, hay kĩ sư. Tôi từ chối thẳng thừng. Tôi nói, "Con sẽ làm điều con muốn làm, bởi vì con không muốn sống cuộc sống chán chường. Là nhà khoa học con có thể thành công - con có thể có kính trọng, tiền bạc, quyền lực, danh vọng - nhưng sâu bên dưới con sẽ vẫn còn chán bởi vì đó không phải là điều con đã từng muốn làm."

Họ bị sốc bởi vì họ không thể thấy được viễn cảnh trong nghiên cứu về triết học; triết học là chủ đề nghèo nàn nhất trong các đại học. Họ miễn cưỡng đồng ý, biết rằng tôi sẽ phí hoài tương lai của mình. Nhưng chung cuộc họ đã thừa nhận họ sai.

Vấn đề không phải là tiền bạc, quyền lực và danh vọng; đó là vấn đề cái gì bản chất bạn muốn làm. Làm nó, bất luận kết quả, và chán của bạn sẽ biến mất. Bạn phải tuân theo ý tưởng của người khác, bạn phải làm mọi thứ theo cách "đúng", bạn phải làm mọi thứ như chúng phải được làm. Đây là những hòn đá tảng của chán chường.

Toàn thể nhân loại đều chán bởi vì người đáng là nhà huyền môn thì lại là nhà toán học, người đáng là nhà toán học thì lại là nhà chính trị, người đáng là nhà thơ lại là nhà kinh doanh. Mọi người đều là ai đó khác; không ai ở nơi người đó đáng ở. Người ta phải liều. Chán chường có thể biến mất trong một khoảnh khắc nếu bạn sẵn sàng liều.

Bạn hỏi tôi: “Tôi đã phát hiện ra rằng tôi chán với bản thân mình...” Bạn chán với bản thân mình bởi vì bạn đã không chân thành với bản thân mình, bạn đã không chân thực với bản thân mình, bạn đã không kính trọng bản thể riêng của mình.

Và bạn nói: “Tôi cảm thấy không hăng hái.” Làm sao cảm thấy hăng hái được? Hăng hái tuôn chảy chỉ khi bạn đang làm điều bạn muốn làm, dù nó là bất kì cái gì.

Vincent Van Gogh đã hạnh phúc mênh mông chỉ với các bức tranh. Không bức tranh nào được bán cả, không ai đã từng ca ngợi ông ấy, và ông ấy đói, ông ấy chết. Anh ông ấy đã cho ông ấy một khoản tiền nhỏ cho nên ông ấy có thể ít nhất cũng xoay xở để sống còn - bốn ngày một tuần ông ấy sẽ nhịn ăn, và ba ngày một tuần ông ấy sẽ ăn. Ông ấy phải nhịn ăn trong bốn ngày đó bởi vì nếu không, ông ấy lấy đâu ra vải vẽ, bút vẽ và chổi vẽ? Nhưng ông ấy hạnh phúc mênh mông - hăng hái của ông ấy vẫn tuôn chảy.

Ông ấy chết khi ông ấy chỉ mới ba mươi ba; ông ấy tự tử. Nhưng tự tử của ông ấy còn tốt hơn nhiều cái gọi là sống của bạn, bởi vì ông ấy tự tử chỉ khi ông ấy đã vẽ xong điều ông ấy muốn vẽ. Cái ngày ông ấy hoàn thành bức vẽ về mặt trời lặn, đã từng là ham muốn cháy bỏng nhất của ông ấy, ông ấy đã viết một bức thư nói, "Công trình của tôi đã được thực hiện, tôi đã được hoàn thành. Tôi rời bỏ thế giới này với mãn nguyện vô cùng." Ông ấy tự tử, nhưng tôi sẽ không gọi điều đó là tự tử. Ông ấy đã sống một cách toàn bộ, ông ấy đã đốt cháy ngọn nến cuộc sống từ cả hai đầu cùng nhau trong sự mãnh liệt vô cùng.

Bạn có thể sống hàng trăm tuổi nhưng cuộc sống của bạn sẽ chỉ là bó xương khô, trọng lượng, trọng lượng chết. Bạn nói, “Thầy đã nói chấp nhận bản thân mình, dù chúng ta là bất kì cái gì. Tôi không thể chấp nhận được cuộc sống - vẫn biết rằng tôi đang bỏ lỡ điều gì đó của niềm vui bên trong.”

Khi tôi nói chấp nhận bản thân mình, tôi không nói chấp nhận hình mẫu cuộc sống của bạn - đừng cố hiểu lầm tôi. Khi tôi nói chấp nhận bản thân mình, tôi nói bác bỏ mọi thứ khác - chấp nhận bản thân mình đi. Nhưng bạn phải đã diễn giải nó theo cách riêng của mình. Đó là cách mọi sự diễn ra...

Người sao Hoả hạ đĩa bay của mình xuống Manhattan và, ngay khi vừa nhô ra, một kẻ ăn xin tiến tới. "Thưa ngài," người này nói, "Tôi có thể xin một hào được không?"

Người sao Hoả hỏi, "Một hào là gì?"

Người ăn xin nghĩ một phút, rồi nói, "Ông đúng đấy. Tôi có thể xin hai mươi nhăm xu được không?"

Tôi đã không nói điều bạn đã hiểu. Bác bỏ tất cả những cái đã được áp đặt lên bạn đi - tôi không nói chấp nhận nó. Chấp nhận cốt lõi bên trong nhất của bạn, điều bạn đã mang từ cõi bên kia và rồi bạn sẽ không cảm thấy rằng bạn bỏ lỡ cái gì đó. Khoảnh khắc bạn chấp nhận bản thân mình không điều kiện nào, bỗng nhiên bột phát của niềm vui xảy ra. Hăng hái của bạn bắt đầu tuôn chảy, cuộc sống thực sự trở thành cực lạc.

Bạn bè của một thanh niên nào đó cho rằng anh ta đã chết, nhưng anh ta chỉ trong trạng thái mê man. Khi đúng lúc để tránh bị đem đi chôn anh ta ra dấu hiệu sống, người ta hỏi anh ta cảm thấy chết thế nào.

"Chết ư!" anh ta kêu lên. "Tôi không chết. Mọi lúc tôi đều biết cái gì đang diễn ra. Và tôi biết tôi không chết nữa, bởi vì chân tôi lạnh và tôi đói."

"Nhưng làm sao sự kiện đó lại làm cho anh nghĩ anh vẫn còn sống?" một trong những người tò mò hỏi.

"Thế này, tôi đã biết rằng nếu tôi ở trên thiên đường tôi sẽ không đói, còn nếu tôi ở chỗ khác thì chân tôi sẽ không lạnh."

Người ta có thể chắc chắn rằng bạn vẫn không chết: bạn đói, chân bạn lạnh. Dậy và chạy một chút đi!

Một người nghèo, thiếu giáo dục và mọi chiếu cố xã hội, yêu một cô gái con nhà triệu phú. Cô ấy mời anh ta về nhà để gặp bố mẹ mình tại khu nhà thanh lịch của họ. Anh ta bị choáng bởi những đồ đạc giầu có, người hầu và tất cả các dấu hiệu giầu sang khác, nhưng bằng cách nào đó anh ta xoay xở để có vẻ thảnh thơi - mãi cho tới lúc ăn tối. Ngồi ở chiếc bàn ăn đồ sộ, ngà ngà say dưới tác dụng của rượu, anh ta đánh một cái rắm to.

Người bố của cô gái nhìn lên và nhìn thẳng vào con chó của mình đang nằm dưới chân người nghèo. "Kẻ lang thang!" ông ấy nói với giọng đe doạ.

Người nghèo được nhẹ nhõm rằng lời trách mắng đã được dồn lên con chó, và rồi vài phút sau anh ta lại đánh rắm lần nữa.

Ông chủ của anh ta nhìn vào con chó và lại nói, "Kẻ lang thang!" bằng giọng quát tháo ầm ĩ.

Vài phút sau anh ta lại đánh rắm lần thứ ba. Khuôn mặt người giầu nhăn nhúm lại trong cơn cuồng nộ. Ông ta gầm lên, "Kẻ lang thang, đồ chết tiệt cút ngay khỏi đây trước khi nó ỉa vung vãi lên khắp chúng mày!"

Vẫn còn thời gian - thoát ra khỏi sự cầm tù mà bạn đã sống mãi cho tới giờ đi! Chỉ cần chút ít dũng cảm, chút ít dũng cảm của kẻ liều lĩnh. Và chẳng có gì để mất cả, nhớ lấy. Bạn chỉ có thể mất đi xiềng xích của mình - bạn có thể mất cái chán của mình, bạn có thể mất cảm giác chán chường thường xuyên của mình ở bên trong rằng cái gì đó bị mất. Còn cái gì khác có đó để mà mất? Thoát ra khỏi con đường mòn và chấp nhận bản thể riêng của mình - chống lại Moses, Jesus, Phật, Mahavira, Krishna, chấp nhận bản thân mình. Trách nhiệm của bạn không phải là hướng tới Phật hay Zarathustra hay Kabir hay Nanak; trách nhiệm của bạn là chỉ hướng tới chính bản thân mình.

Có trách nhiệm đi - và khi tôi dùng từ trách nhiệm, xin nhớ đừng diễn giải nhầm nó. Tôi không nói về nghĩa vụ, phận sự, tôi đơn giản dùng từ này theo nghĩa đen: đáp ứng với thực tại, có trách nhiệm.

Bạn phải đã sống cuộc sống vô trách nhiệm, hoàn thành đủ mọi loại trách nhiệm mà người khác trông đợi bạn hoàn thành. Cái gì có đó mà mất? Bạn chán - đây là tình huống tốt. Bạn mất hăng hái, bạn còn cần gì hơn để thoát ra khỏi nhà tù? Nhảy ra khỏi nó, đừng nhìn lại!

Họ nói: Nghĩ hai lần trước khi bạn nhảy. Tôi nói: Nhảy trước rồi nghĩ nhiều tuỳ thích!

Tôi cảm thấy thích được hạ xuống mặt trăng... tôi nghĩ nếu tôi biết nỗi sợ là gì thì nó sẽ không có đó. Một cảm giác rằng bất kì cái gì cũng có thể xảy ra... bất kì cái gì!

Đôi khi có nỗi sợ lớn, và nó không thể nào có địa chỉ. Không có nguyên nhân cho nó, không có lí do cho nó. Có thể đó là điều tạo nên nỗi sợ. Khi có nguyên nhân cho nó, bạn biết nguyên nhân là gì, và khi có nguyên nhân bạn có thể tìm ra cách giải thích, bạn có thể phân tích, bạn có thể có cái gì đó để níu bám vào. Nhưng có một đặc tính của sợ - thỉnh thoảng nó mới tới - với nó thực sự không có nguyên nhân.

Đây là điều các nhà sinh tồn gọi là 'cảm giác lo lắng', phiền não, nỗi sợ tồn tại - không phải thế này hay thế nọ mà là sự tồn tại cực độ. Bởi vì hiện hữu thường xuyên bị bao quanh bởi vô hiện hữu; hiện hữu tồn tại trong vô hiện hữu. Hiện hữu gần giống như hòn đảo trong đại dương của vô hiện hữu. Hiện hữu là rất tí hon còn vô hiện hữu lại bao la.

Chính tính bao la cực độ này của vô hiện hữu, và ở giữa vô hiện hữu này, là hiện hữu nhỏ bé. Không có lí do khác cho sợ hãi: cảm giác đó là đủ để lôi trái đất ra khỏi chân người ta. Người ta bắt đầu rơi vào vực thẳm và bởi vì người ta không thể chỉ ra được nó và nói “Tôi sợ điều này điều nọ” nên nhiều phiền não hơn nảy sinh, bởi vì không có gì để giải thích nó cả.

Mọi người đi tới nhà phân tâm không thực sự được chữa trị mà chỉ để tìm ra lí do cho khổ của họ. Và việc phân tâm có ích nhiều lắm, không phải bởi vì nó là cách chữa mà chỉ bởi vì nó cung cấp cách giải thích. Và khi người này nghĩ mình biết cách giải thích người đó cảm thấy rất thoải mái. Bây giờ mọi sự rất rõ ràng. Bây giờ người đó có thể nói ra lời, bây giờ người đó có thể trí thức hoá, hợp lí hoá.

Cho nên đây là điều gì đó mà thỉnh thoảng mọi người đều bắt gặp. Và điều đó là tốt nếu chúng ta có thể trải qua nó; không cần né tránh nó. Nếu bạn né tránh nó, bạn bỏ lỡ một cơ hội. Nếu bạn có thể trải qua nó, ngay chỗ đầu tiên nó có vẻ giống như việc đập vỡ và rất nguy hiểm, cứ dường như toàn thể quá khứ đang biến mất, người ta đang chết. Nhưng chẳng mấy chốc người ta bắt đầu cảm thấy an toàn, an ninh - trong chính tính không an ninh của nó. Người ta thảnh thơi trong vô hiện hữu và tất cả nỗi sợ biến mất. Cho nên cái có vẻ như phá vỡ lúc ban đầu lại chứng tỏ là bước đột phá lúc cuối cùng.

Trải qua nó và đừng cố gắng tìm nguyên nhân. Bởi vì tâm trí sẽ cố. Tâm trí sẽ nói "Cái này hay cái nọ là nguyên nhân tại sao mình lại phát hoảng." Không có nguyên nhân cho nó. Không có lí do cho nó. Đơn giản đi vào trong nó mọi đêm trong bốn mươi, năm mươi hay sáu mươi phút. Chỉ ngồi im lặng trong phòng, cho phép tất cả mọi cái vô hiện hữu tràn ngập hiện hữu của bạn. Để cho hòn đảo của hiện hữu biến mất trong vô hiện hữu. Trở thành cái không. Chấp nhận nỗi sợ và đi vào trong nó, và bạn sẽ đi ra khỏi nó rất tươi tắn, rất sống động, và rất vô sợ hãi.

Để vô sợ hãi, người ta phải trải qua sợ hãi - và loại sợ hãi này, không loại sợ hãi thông thường nào khác sẽ có tác dụng. Hử? có nỗi sợ rằng bạn trai bạn có thể bỏ bạn. Đó là nỗi sợ nhưng đó là thông thường bởi vì bạn có thể tìm ra biết bao nhiêu bạn trai khác; nó không mấy là nỗi sợ. Có nỗi sợ rằng bạn có thể không có đủ tiền để sống, nhưng người ta bao giờ cũng có thể làm cái gì đó về điều đó. Những nỗi sợ này là rất tầm thường, chúng không mang tính tồn tại. Mọi người sống trong những nỗi sợ đó, đó là lí do tại sao họ chẳng bao giờ trở thành vô sợ hãi. Đây là nỗi sợ người ta phải sống qua.

Cho nên đừng cố gắng tìm bất kì cách giải thích nào cho nó; không có cách nào. Đi vào trong nó đi. Quan sát và đi vào trong nó sâu nhất có thể được. Đi với mọi nỗi sợ, nhưng đi. Đi mặc cho mọi nỗi sợ. Và cái gì đó đẹp đẽ sẽ tới từ nó, cái gì đó giống như hoa hồng sẽ sinh ra từ nó. Hiện hữu của bạn sẽ ngày một trở nên tích hợp hơn. Nếu người ta chấp nhận thách thức của vô hiện hữu, thì hiện hữu tích hợp. Cho nên không có gì để lo nghĩ cả. Nỗi sợ có đó và bạn phải đi vào trong nó.

Thiền về nỗi sợ cái trống rỗng

Làm điều đó thành vấn đề là mọi đêm trước khi bạn đi ngủ, nhắm mắt lại và trong hai mươi phút đi vào cái trống rỗng của bạn. Chấp nhận nó, để nó có đó. Nỗi sợ nảy sinh - để điều đó ở đó nữa. Run rẩy với sợ hãi nhưng không bác bỏ không gian đang được sinh ra ở đó. Trong hai hay ba tuần bạn sẽ có khả năng cảm thấy cái đẹp của nó, bạn sẽ có khả năng cảm thấy phúc lành của nó. Một khi bạn đã chạm tới phúc lành đó, nỗi sợ sẽ biến mất theo cách riêng của nó. Bạn không tranh đấu với nó.

Ngồi quì trên sàn, hay trong một tư thế thoải mái cho bạn. Nếu đầu bạn bắt đầu ngả về phía trước - nó sẽ thế đấy - cho phép nó. Bạn sẽ gần như đi vào tư thế bụng mẹ, hệt như đứa trẻ vẫn còn trong bụng mẹ. Đầu bạn sẽ bắt đầu chạm đầu gối, hay chạm sàn - cho phép nó. Đi vào trong bụng mẹ riêng của bạn và chỉ ở đó. Không kĩ thuật, không mật chú, không nỗ lực - chỉ ở đó. Quen với cái đang đó. Nó là cái gì đó bạn chưa từng biết tới. Tâm trí bạn sợ hãi bởi vì nó tới từ chính chiều hướng không biết và rất khác. Tâm trí không thể đối phó được với nó. Nó chưa bao giờ biết tới cái gì giống như thế trước đó, cho nên nó đơn giản là thách đố; nó muốn phân loại và dán nhãn cho nó.

Nhưng cái biết là tâm trí và cái không biết là Thượng đế. Cái không biết chưa bao giờ trở thành một phần của cái biết. Một khi nó trở thành một phần của cái biết, nó không còn là Thượng đế không biết nữa. Cái không biết vẫn còn là cái không thể biết. Ngay cả khi bạn đã biết nó, nó vẫn còn là cái không biết. Bí ẩn không bao giờ được giải. Bí ẩn mang bản chất cố hữu là không giải được.

Cho nên mọi đêm đi vào trong không gian đó. Nỗi sợ sẽ có đó, run rẩy sẽ có đó; điều đó nữa cũng là tốt. Dần dần nỗi sợ sẽ ngày một ít đi và hân hoan sẽ tới ngày một nhiều hơn. Trong vòng ba tuần một hôm bỗng nhiên bạn sẽ thấy phúc lành thế nảy sinh, bột phát của năng lượng, loại vui sướng như vậy của bản thể bạn, cứ dường như đêm đã qua và mặt trời đã tới trên đường chân trời.

Thiền làm tan biến hình mẫu cũ về sợ hãi

Tôi đã thấy rằng tôi vẫn còn lặp lại một hình mẫu mà tôi đã chấp nhận khi còn là đứa trẻ. Bất kì khi nào bố mẹ tôi quở mắng tôi hay nói điều gì đó về tôi là tôi cảm thấy phản đối, tôi sẽ chốt lại, chạy mất và tự an ủi mình với ý tưởng rằng tôi có thể làm mà chẳng cần mọi người, tôi có thể xoay xở một mình. Bây giờ, tôi bắt đầu thấy rằng tôi phản ứng với bạn bè mình theo cùng cách.

Đấy chỉ là một thói quen cũ đã trở thành cứng nhắc. Thử làm cái đối lập của nó. Bất kì khi nào bạn cảm thấy khép kín - mở mình ra. Nếu bạn muốn đi, thì đừng đi; nếu bạn muốn không nói, thì nói. Nếu bạn muốn thôi biện luận, đừng thôi mà nhảy vào trong nó với hăng hái nhất có thể được.

Bất kì khi nào tình huống nảy sinh tạo ra nỗi sợ, luôn có hai phương án - hoặc là bạn tranh đấu hoặc là bạn bỏ chạy. Đứa trẻ nhỏ thường không thể tranh đấu được - đặc biệt ở các nước truyền thống. Ở Mĩ, đứa trẻ sẽ tranh đấu nhiều tới mức bố mẹ sẽ phải bỏ chạy! Nhưng ở các nước cổ, các nước gắn chặt với truyền thống - hay trong các gia đình có giá trị truyền thống vẫn còn rất mạnh - đứa trẻ không thể tranh đấu được. Cách duy nhất là khép lại, tự bao bọc mình bên trong mình như sự bảo vệ. Cho nên bạn đã học được mẹo bỏ chạy.

Bây giờ khả năng duy nhất là ở chỗ bất kì khi nào bạn cảm thấy mình đang cố thoát, dính lấy đó đi, bướng bỉnh, và tiến hành cuộc đấu tranh ra trò. Chỉ trong một tháng thử cái đối lập và thế thì bạn sẽ thấy. Một khi bạn có thể làm điều đối lập, tôi sẽ bảo bạn cách vứt bỏ cả hai. Cả hai đều phải bị vứt bỏ, bởi vì chỉ thế thì con người mới trở thành vô sợ hãi - và bởi vì cả hai đều sai. Bởi vì cái sai này đã đi quá sâu vào trong bạn, nó phải được làm cân bằng bởi cái kia.

Cho nên trong một tháng bạn là một chiến binh thực thụ - về bất kì cái gì. Và bạn sẽ cảm thấy rất tốt, thực sự tốt, hừ? Bởi vì bất kì khi nào người ta trốn, người ta cảm thấy rất tồi tệ, kém cỏi. Đây là thủ đoạn hèn nhát - khép mình lại. Trở nên bạo dạn đi, hử? Thế rồi chúng ta sẽ vứt bỏ cả hai, bởi vì là bạo dạn, sâu bên dưới, cũng là hèn nhát. Khi bạo dạn và hèn nhát cả hai biến mất thế thì người ta trở thành vô sợ hãi. Thử điều đó đi!

Thiền về tin cậy

Nếu bạn cảm thấy khó tin cậy, thế thì bạn phải quay lại. Bạn phải đào sâu vào trong kí ức của mình. Bạn phải đi vào trong quá khứ của mình. Bạn phải lau sạch tâm trí mình khỏi các dấu ấn quá khứ. Bạn phải có một đống rác lớn từ quá khứ của; đổ nó đi.

Đây là chìa khoá để làm điều đó: nếu bạn có thể quay trở lại không chỉ như kí ức, mà như việc sống lại. Làm nó thành việc thiền. Mọi ngày, vào buổi đêm, trong một giờ hãy quay lại. Cố gắng tìm ra tất cả những điều đã xảy ra trong thời thơ ấu của bạn. Bạn càng có thể đi sâu càng tốt - bởi vì chúng ta đang che giấu nhiều điều đã xảy ra, nhưng chúng ta không cho phép chúng bật ra trong ý thức. Cho phép chúng nổi lên bề mặt đi. Bằng việc đi mọi ngày, bạn sẽ cảm thấy ngày một sâu hơn. Trước hết bạn sẽ nhớ ở đâu đó khi bạn mới ở độ bốn hay năm tuổi, và bạn sẽ không thể đi ra ngoài điều đó. Bỗng nhiên, bức trường thành Trung Quốc sẽ đối diện với bạn. Nhưng cứ đi - dần dần, bạn sẽ thấy rằng bạn đang đi sâu hơn: ba tuổi, hai tuổi. Mọi người đã đạt tới điểm họ được sinh ra từ bụng mẹ. Đã có những người đã đạt tới trong kí ức về bụng mẹ, và có những người đã đạt tới bên ngoài điều đó, vào trong kiếp khác khi họ chết.

Nhưng nếu bạn có thể đạt tới điểm nơi bạn được sinh ra, và bạn có thể làm nhẹ bớt khoảnh khắc đó, nó sẽ là từ đau đớn sâu sắc, nỗi đau. Bạn sẽ gần như cảm thấy dường như bạn được sinh lại lần nữa. Bạn có thể la hét như đứa trẻ la hét lần đầu tiên. Bạn sẽ cảm thấy ngạt thở như đứa trẻ đã cảm thấy ngạt thở khi lần đầu tiên nó ra khỏi bụng mẹ - bởi vì trong vài giây nó đã không có khả năng thở được. Có ngạt thở lớn: thế rồi nó la hét và hơi thở tới, và bước chuyển của nó trở nên mở ra, phổi nó bắt đầu vận hành. Bạn có thể phải đi tới điểm đó. Từ đó bạn quay lại. Lại đi tiếp, quay lại, mọi đêm. Điều đó sẽ mất ít nhất từ ba đến chín tháng, và mọi ngày bạn sẽ cảm thấy nhẹ gánh hơn, ngày một nhẹ gánh hơn, và tin cậy sẽ nảy sinh đồng thời, ngay bên cạnh. Một khi quá khứ là rõ ràng và bạn đã thấy tất cả những điều đã xảy ra, bạn được tự do với nó. Đây là chìa khoá: nếu bạn trở nên nhận biết về bất kì cái gì trong kí ức mình, bạn được tự do với nó. Nhận biết giải thoát, vô ý thức tạo ra tù túng. Thế thì tin cậy sẽ trở thành có thể.

Thiền biến đổi sợ hãi thành tình yêu

Bạn có thể ngồi trong ghế hay bạn có thể ngồi theo bất kì tư thế nào bạn cảm thấy thoải mái. Rồi khoanh tay trong lòng, với tay phải ở dưới tay trái - tư thế này là quan trọng vì tay phải được nối với não trái, và nỗi sợ bao giờ cũng tới từ não trái. Tay trái được nối với não phải, và dũng cảm tới từ phía bên phải.

Não trái là chỗ của lập luận, và lập luận là hèn nhát. Đó là lí do tại sao bạn sẽ không thấy người bạo dạn và người trí thức cùng nhau. Và bất kì khi nào bạn tìm thấy người bạo dạn, bạn sẽ không tìm thấy người trí thức. Người đó sẽ phi lí, nhất định như vậy. Não phải là trực giác... cho nên đây chính là biểu tượng, và không chỉ biểu tượng: nó đưa năng lượng vào tư thế nào đó, vào mối quan hệ nào đó.

Cho nên tay phải để xuống dưới tay trái và cả hai ngón cái nối với nhau. Thế rồi bạn thảnh thơi, nhắm mắt lại, và để cho quai hàm dưới được thảnh thơi một chút - không phải là bạn bó buộc nó... chỉ thảnh thơi để cho bạn bắt đầu thở bằng mồm. Đừng thở bằng mũi, bắt đầu thở bằng mồm; điều đó rất thảnh thơi. Và khi bạn không thở bằng mũi thì các hình mẫu cũ của tâm trí không vận hành thêm nữa. Điều này sẽ là điều mới, và trong hệ thống thở mới một thói quen mới có thể được hình thành dễ dàng.

Thứ hai, khi bạn không thở qua mũi thì nó không kích thích não bạn. Nó đơn giản không đi tới não: nó đi thẳng vào ngực. Bằng không kích thích và cọ sát thường xuyên diễn ra. Đó là lí do tại sao việc thở thay đổi trong các lỗ mũi chúng ta lặp đi lặp lại. Việc thở thông qua một mũi cọ sát một bên của não, qua bên kia, cọ vào bên kia của não. Sau bốn mươi phút chúng lại thay đổi.

Cho nên đơn giản ngồi trong tư thế này, thở bằng mồm. Mũi có hai, mồm không hai. Không có thay đổi khi bạn thở qua mồm: Nếu bạn ngồi trong một giờ bạn sẽ thở theo cùng cách. Sẽ không có thay đổi; bạn sẽ vẫn còn trong một trạng thái. Thở qua mũi bạn không thể vẫn còn trong một trạng thái. Trạng thái tự động thay đổi; không có việc biết của bạn nó vẫn thay đổi.

Cho nên điều này sẽ tạo ra một trạng thái thảnh thơi mới, rất im lặng, bất nhị, và năng lượng của bạn sẽ tuôn chảy theo cách mới. Đơn giản ngồi im lặng không làm gì cả trong ít nhất bốn mươi phút. Nếu điều đó có thể được thực hiện trong một giờ thì sẽ có ích nhiều lắm. Cho nên nếu có thể, bắt đầu bằng bốn mươi phút, thế rồi dần dần đạt tới sáu mươi phút. Làm điều này hàng ngày.

Và trong lúc đó đừng bỏ lỡ bất kì cơ hội nào; bất kì cơ hội nào tới, đi vào trong nó đi. Bao giờ cũng chọn cuộc sống và bao giờ cũng chọn việc làm; đừng bao giờ rút lui, đừng bao giờ trốn chạy. Tận hưởng bất kì cơ hội nào tới trên con đường của bạn để làm cái gì đó, để mang tính sáng tạo.

Và câu hỏi cuối cùng: Nỗi sợ về Thượng đế

Ý tưởng về một Thượng đế con người theo dõi chúng ta, cho dù là một giả thuyết, lại không có ích theo bất kì cách nào sao? - bởi vì chính ý tưởng vứt bỏ đi ý tưởng về Thượng đế làm cho tôi sợ hãi vô cùng.

Sao bạn lại cảm thấy sợ hãi về việc vứt bỏ ý tưởng về Thượng đế? Chắc chắn ý tưởng về Thượng đế bằng cách nào đó đang ngăn cản bạn khỏi sợ. Cho nên khoảnh khắc bạn vứt bỏ nó, bạn bắt đầu cảm thấy sợ. Đó là một loại bảo vệ tâm lí, đó chính là nó là gì.

Đứa trẻ nhất định sợ hãi. Trong bụng mẹ nó không sợ. Tôi chưa từng nghe nói rằng bất kì đứa trẻ nào trong bụng mẹ lại nghĩ tới việc đi tới giáo đường hay nhà thờ hay đọc Kinh Thánh hay Koran hay Gita; hay thậm chí bận tâm về liệu Thượng đế có hay không. Tôi không thể quan niệm được bất kì cách nào rằng đứa trẻ trong bụng mẹ quan tâm tới Thượng đế, tới quỉ, tới cõi trời, tới địa ngục. Để làm gì? Nó đã trong thiên đường rồi. Mọi sự không thể tốt hơn chúng đang đấy.

Nó hoàn toàn được bảo vệ trong ngôi nhà ấm cúng, ấm áp, nổi trong các hoá chất nuôi dưỡng. Và bạn sẽ ngạc nhiên - trong chín tháng đó đứa trẻ lớn lên nhiều hơn nó sẽ lớn trong chín năm, theo tỉ lệ. Trong chín tháng nó du hành qua cuộc hành trình dài thế; từ chỗ gần như không là gì nó trở thành một sinh linh. Trong chín tháng nó trải qua hàng triệu năm tiến hoá, từ chính sinh linh ban đầu cho tới nay. Nó trải qua tất cả các pha.

Và cuộc sống tuyệt đối an toàn: không cần làm việc gì, không sợ chết đói, đói; mọi thứ đều được thân thể người mẹ làm. Sống chín tháng trong bụng mẹ trong tuyệt đối an ninh tạo ra vấn đề mà đã sinh ra cái gọi là tôn giáo của bạn.

Khi đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ, điều đầu tiên xảy ra cho nó là nỗi sợ.

Điều đó là hiển nhiên. Nhà nó bị mất, an ninh của nó bị mất. Hơi ấm của nó, mọi thứ bao quanh nó, tất cả những điều nó đã biết như thế giới của mình hoàn toàn bị mất, và nó bị ném vào một thế giới kì lạ, mà nó chẳng biết gì cả. Nó phải bắt đầu việc thở riêng của mình.

Phải mất vài giây cho đứa trẻ nhận ra sự kiện là nó phải thở bây giờ trở đi theo cách riêng của mình - việc thở của mẹ nó sẽ không giúp ích nữa. Chỉ để đem nó về với cảm giác của mình mà bác sĩ cầm lộn ngược nó xuống, và đánh vào mông nó, thật mạnh. Bắt đầu thế đấy! Và đón chào thế đấy!

Và chỉ từ cú đánh đó mà nó bắt đầu thở. Bạn đã bao giờ quan sát rằng bất kì khi nào bạn sợ, việc thở của mình thay đổi không? Nếu bạn còn chưa quan sát điều đó trước đây, bạn có thể quan sát điều đó bây giờ. Bất kì khi nào bạn sợ, hơi thở của bạn sẽ thay đổi, ngay lập tức. Và khi bạn thoải mái, ở nhà, không sợ điều gì, bạn sẽ thấy việc thở của mình rơi vào hài hoà, và hoà hợp sâu sắc, trở thành ngày một im lặng hơn. Trong thiền sâu đôi khi điều xảy ra là bạn cảm thấy dường như việc thở của mình đã dừng lại. Nó không dừng, nhưng nó gần như dừng.

Sự bắt đầu của đứa trẻ là nỗi sợ mọi thứ. Trong chín tháng nó đã trong bóng tối, và trong bệnh viện hiện đại, nơi nó sắp được sinh ra, sẽ có đèn ống chói loà khắp xung quanh. Và trên mắt nó, võng mạc của nó, cái chưa bao giờ thấy ánh sáng trước đây, ngay cả ánh sáng của cây nến, điều này là quá nhiều. Ánh sáng này là cú sốc cho mắt nó.

Và bác sĩ không để chậm vài giây - ông ta cắt ngay mối nối vẫn nối liền giữa nó và người mẹ, niềm hi vọng an ninh cuối cùng... và một sinh linh tí hon như thế. Và bạn biết điều đó hoàn toàn rõ, rằng không ai bất lực hơn con của con người, không con nào khác trong sự tồn tại.

Đó là lí do tại sao ngựa đã không bịa ra giả thuyết về Thượng đế. Voi đã không nghĩ về ý tưởng Thượng đế; không có nhu cầu. Con của voi lập tức bắt đầu bước đi và nhìn quanh và thám hiểm thế giới. Nó không bất lực như con của con người. Thực tế, nhiều thứ phụ thuộc vào bất lực của con con người mà bạn có thể ngạc nhiên: gia đình bạn, xã hội bạn, văn hoá của bạn, tôn giáo của bạn, triết học của bạn - mọi thứ đều phụ thuộc vào bất lực của con con người.

Trong con vật, gia đình không tồn tại bởi lí do đơn giản là đứa con không cần bố mẹ. Con người phải quyết định vì hệ thống nào đó. Người bố và người mẹ phải ở cùng nhau để chăm sóc đứa trẻ. Nó là kết quả của chuyện tình của họ; đây là việc làm của họ. Bây giờ nếu con con người bị bỏ một mình, cũng giống như nhiều con vật đang thế, bạn không thể tưởng tượng được rằng nó sẽ sống sót: không thể được! Nó sẽ đi đâu để kiếm thức ăn? Nó sẽ đi hỏi ai? Nó sẽ đi hỏi cái gì?

Có lẽ nó đã tới quá sớm chăng? Và có vài nhà sinh học nghĩ rằng con con người được sinh ra mà chưa đủ chín - chín tháng là không đủ - bởi vì nó tới bất lực thế. Nhưng thân thể con người lại tới mức người mẹ không thể mang đứa con hơn chín tháng, bằng không cô ấy sẽ chết và cái chết của cô ấy sẽ có nghĩa là cái chết của đứa con.

Người ta đã tính toán rằng nếu đứa con có thể sống trong bụng mẹ ít nhất ba năm, thế thì có lẽ sẽ không có nhu cầu cho người bố và người mẹ và gia đình, và xã hội và nền văn hoá, và Thượng đế và tu sĩ. Nhưng đứa con không thể sống được trong bụng mẹ trong ba năm. Tình huống sinh học kì lạ này đã ảnh hưởng tới toàn thể hành vi con người, việc suy nghĩ, cấu trúc gia đình, xã hội; và điều này đã gây ra nỗi sợ.

Kinh nghiệm đầu tiên của đứa con là sợ hãi, và kinh nghiệm cuối cùng của con người cũng là sợ hãi.

Sinh cũng là một loại chết; bạn nên nhớ nhìn vào nó theo cách nhìn của trẻ con. Nó đã sống trong một thế giới nào đó, tuyệt đối thoả mãn. Nó không cần bất kì cái gì, nó không tham lam bất kì cái gì thêm. Nó đơn giản tận hưởng sự hiện hữu, tận hưởng sự trưởng thành - và thế rồi bỗng nhiên nó bị tống ra ngoài.

Với đứa trẻ, kinh nghiệm này là kinh nghiệm về cái chết: cái chết của toàn thể thế giới của nó, của an ninh của nó, của nhà ấm cúng của nó. Các nhà khoa học nói rằng chúng ta còn chưa có khả năng tạo ra nhà ấm cúng như bụng mẹ. Chúng ta đã cố gắng - tất cả mọi nhà của chúng ta đều chỉ là nỗ lực để tạo ra nhà ấm cúng đó.

Chúng ta thậm chí đã cố gắng làm giường nước, để cho bạn cùng cảm giác. Chúng ta có bồn tắm nước nóng; nằm dài ra trong chúng bạn có thể có cảm giác chút ít của đứa trẻ. Những người biết cách tắm nóng thực sự cũng sẽ cho ít muối vào trong đó, bởi vì trong bụng mẹ rất mặn - đích xác khối lượng muối trong nước biển. Nhưng bạn có thể nằm dài trong bồn tắm được bao lâu? Chúng ta có những kiểu bồn cô lập không là gì ngoài việc tìm cùng bụng mẹ mà bạn đã đánh mất.

Sigmund Freud không phải là người chứng ngộ - thực tế ông ấy là một người có chút ít gàn gàn, nhưng đôi khi người gàn dở cũng hát những bài ca hay. Đôi khi ông ấy có những ý tưởng có ý nghĩa. Chẳng hạn, ông ấy nghĩ ý tưởng này về đàn ông làm tình với đàn bà chẳng là gì ngoài nỗ lực đi vào bụng mẹ lần nữa. Có thể có điều gì đó trong nó. Người này dở hơi, ý tưởng này dường như khó nắm bắt hơn; nhưng ngay cả một người như Sigmund Freud là gàn dở ông ấy vẫn phải được lắng nghe rất chăm chú.

Tôi cảm thấy rằng có cái gì đó của chân lí trong điều đó: việc tìm kiếm bụng mẹ, cùng lối đi như người đó đã bước ra từ đó... Người đó không thể nào vào lại bụng mẹ kia, điều đó đúng. Thế thì người đó tạo ra đủ mọi loại vật; người đó bắt đầu làm ra hang động, nhà cửa, máy bay. Bạn thấy bên trong máy bay rồi đấy - cũng không có gì đáng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó bạn thấy rằng trong máy bay người ta nổi trong bồn tắm nước nóng, có muối. Máy bay có thể cho bạn đích xác cùng tình huống, nhưng nó sẽ không cho sự thoả mãn.

Đứa trẻ đã không biết cái gì khác cả. Chúng ta cố gắng làm cho nó thành ấm cúng: chỉ ấn nút và cô chiêu đãi viên có đó. Chúng ta làm nó thành thoải mái nhất có thể được, nhưng chúng ta không thể làm nó thoải mái được như trong bụng mẹ. Bạn đã không cần ngay cả việc bấm nút. Thậm chí trước khi bạn đói bạn đã được cho ăn. Thậm chí trước khi bạn cần không khí, nó đã tới bạn. Bạn chẳng có trách nhiệm chút nào.

Cho nên đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ, nếu nó cảm thấy điều đó chút nào, thì phải cảm thấy điều đó như cái chết. Nó không thể cảm thấy điều đó như việc sinh, điều đó là không thể được. Đó là ý tưởng của chúng ta - ý tưởng của những người đang đứng ngoài - chúng ta nói rằng đây là việc sinh.

Và lần thứ hai, lại một ngày nào đó, sau nỗ lực của cả đời... Người đó đã có khả năng làm cái gì đó - một ngôi nhà nhỏ, một gia đình, một nhóm bạn bè nhỏ, chút ít hơi ấm, một góc nhỏ đâu đó trên thế giới nơi người đó có thể thảnh thơi và là chính mình, nơi người đó được chấp nhận. Khó khăn - cuộc vật lộn cả đời, và bỗng nhiên, một ngày nào đó, người đó lại thấy mình đang bị tống ra.

Bác sĩ đã lại tới - và đây là người đã đánh người đó! Nhưng lần đó là bắt đầu việc thở; lần này, như chúng ta biết tới... Bây giờ chúng ta ở bờ bên này, chúng ta không biết bờ bên kia. Bờ bên kia bị bỏ lại cho tưởng tượng; đó là lí do tại sao cõi trời và địa ngục... và mọi loại tưởng tượng đã thành lung tung.

Chúng ta ở bờ bên này và người này sắp chết. Với chúng ta người đó sắp chết; có lẽ người đó lại sắp được sinh ra. Nhưng điều đó chỉ người đó biết, và người đó không thể quay lại mà bảo chúng ta, "Đừng lo; tôi không chết đâu, tôi vẫn còn sống." Người đó không thể quay lại vào bụng mẹ của mình để có thoáng nhìn cuối cùng và nói lời tạm biệt với mọi người, mà người đó cũng không thể quay lại bây giờ, mở mắt ra và nói lời tạm biệt với tất cả các bạn, và nói, "Đừng lo nghĩ. Tôi không chết đâu, tôi đang được sinh ra."

Ý tưởng của người Hindu về tái sinh không là gì ngoài sự phóng chiếu của việc sinh thông thường. Với bụng mẹ - nếu bụng mẹ nghĩ - đứa trẻ là chết. Với đứa trẻ - nếu nó nghĩ - đó là việc chết. Nhưng nó được sinh ra; đấy không phải là việc chết, đấy là việc sinh. Người Hindu đã phóng chiếu cùng ý tưởng này về cái chết. Từ phía bên này điều đó có vẻ như người đó đang chết, nhưng từ phía bên kia... Nhưng phía bên kia là tưởng tượng của chúng ta; chúng ta có thể làm nó như chúng ta muốn nó.

Mọi tôn giáo đều làm cho phía bên kia thành con đường khó khăn bởi vì mọi xã hội và mọi nền văn hoá đều tuỳ thuộc vào địa lí khác nhau, lịch sử khác nhau. Chẳng hạn: người Tây Tạng không thể nghĩ về cõi bên kia lạnh được - ngay cả lạnh cũng là đáng sợ, lạnh là không thể được. Người Tây Tạng nghĩ rằng người chết ấm, trong một thế giới mới bao giờ cũng ấm.

Người Ấn Độ không thể nghĩ được rằng nơi đó bao giờ cũng ấm. Ngay cả nóng trong bốn tháng ở Ấn Độ cũng là quá nhiều, nhưng đối với vĩnh hằng mà vẫn còn ấm - bạn sẽ bị nấu chín! Họ không có ý tưởng gì về điều hoà nhiệt độ, nhưng cách người Hindus mô tả thiên đường của mình, nơi đó gần như được điều hoà nhiệt độ - bao giờ cũng có khí mát, không nóng không lạnh, nhưng mát mẻ. Trời bao giờ cũng mùa xuân, mùa xuân Ấn Độ - tất cả hoa đều nở, gió đầy hương thơm, chim chóc hót véo von, mọi thứ đều sống động; nhưng không có khí ấm, chỉ khí mát. Điều đó họ nhắc nhở chúng ta lặp đi lặp lại: khí mát tiếp tục chảy.

Đây là tâm trí của bạn đang phóng chiếu ý tưởng này; bằng không, với người Tây Tạng hay với người Ấn Độ hay với người Mô ha mét giáo, điều đó không thể khác được. Người Mô ha mét giáo không thể nghĩ được rằng thế giới khác lại sẽ là sa mạc - người đó đã chịu đựng nhiều thế ở sa mạc A rập. Thế giới bên kia là ốc đảo - ốc đảo khắp nơi. Không phải là sau hàng trăm dặm đường bạn mới tìm thấy một ốc đảo nhỏ với chút nước và vài cái cây, không - toàn ốc đảo ở khắp mọi nơi, và sa mạc không có ở đâu cả.

Chúng ta phóng chiếu, nhưng với người đang sắp chết đấy lại là cùng quá trình mà người đó đã có lần kinh nghiệm. Một sự kiện nổi tiếng là vào thời điểm chết, nếu một người không trở nên vô ý thức, không rơi vào cơn mê, người đó bắt đầu nhớ lại toàn thể vòng đời của mình. Người đó cứ đi lùi về khoảnh khắc đầu tiên của cuộc đời mình khi người đó được sinh ra. Dường như có ý nghĩa là khi người đó rời khỏi thế giới này người đó có thể có cái nhìn về tất cả những điều đã xảy ra. Chỉ trong vài giây toàn thể lịch chuyển động qua, cứ dường như nó chuyển động trong cuốn phim của bạn.

Lịch đó cứ diễn ra, bởi vì trong cuốn phim hai giờ họ phải bao quát nhiều năm... nếu lịch này diễn ra theo nhịp độ thông thường, bạn sẽ ngồi trong rạp chiếu phim trong hai năm; ai sẽ có khả năng đảm đương được điều đó? Không, lịch này cứ diễn ra, ngày tháng cứ thay đổi, nhanh chóng. Nó thậm chí còn trôi nhanh hơn vào lúc chết. Trong một khoảnh khắc toàn thể cuộc sống chớp loé lên, và dừng lại vào khoảnh khắc đầu tiên. Nó là cùng quá trình đang xảy ra lại - cuộc sống đã đi xong một vòng tròn.

Tại sao tôi lại muốn bạn nhớ điều này? - bởi vì Thượng đế của bạn không là gì ngoài nỗi sợ của ngày đầu tiên của bạn, điều cứ diễn ra mãi cho tới khoảnh khắc cuối cùng, trở nên ngày một lớn hơn. Đó là lí do tại sao khi một người còn trẻ người đó có thể là kẻ vô thần, người đó có thể đảm đương là vậy, nhưng khi người đó già hơn thì việc là kẻ vô thần trở thành khó khăn chút ít. Nếu, khi người đó lại gần nấm mồ của mình, một chân đặt vào nấm mồ, bạn hỏi người đó, "Ông vẫn là người vô thần chứ?" người đó sẽ nói, "Tôi đang có ý nghĩ thứ hai" - bởi vì sợ... cái gì sẽ xảy ra? Toàn thể thế giới của người đó đang biến mất.

Ông tôi không phải là người tôn giáo, không chút nào. Ông ấy gần với Zorba người Hi Lạp: ăn, uống và vui vẻ; không có thế giới khác, tất cả những cái này đều vô nghĩa. Bố tôi là người rất tôn giáo; có lẽ đấy là vì ông tôi - sự phản ứng, khác biệt thế hệ. Nhưng đấy chỉ là sự lộn ngược trong gia đình tôi: ông tôi là người vô thần và có lẽ bởi vì chủ nghĩa vô thần của ông mà bố tôi biến thành người hữu thần. Và bất kì khi nào bố tôi đi đền thờ, ông tôi đều cười và ông nói, "Lại thế rồi! Đi nữa đi, lãng phí cả đời mình trước những cái tượng ngu xuẩn kia!"

Tôi yêu Zorba bởi nhiều lí do; một trong các lí do là ở chỗ trong Zorba tôi tìm thấy lại ông tôi. Ông thích đồ ăn nhiều tới mức ông thường không tin cậy vào bất kì ai; ông sẽ tự mình chuẩn bị nó. Trong đời mình tôi đã từng là khách trong hàng nghìn gia đình ở Ấn Độ, nhưng tôi chưa bao giờ nếm cái gì ngon như qua việc nấu nướng của ông tôi. Và ông tôi lại thích nấu nhiều tới mức mọi tuần đều có một bữa tiệc cho tất cả các bạn bè của ông - và ông sẽ chuẩn bị cả ngày.

Mẹ tôi và cô tôi và người phục vụ và người nấu bếp - mọi người đều bị tống khỏi bếp. Khi ông tôi nấu nướng, không ai được quấy rầy ông. Nhưng ông lại rất thân thiện với tôi; ông cho phép tôi quan sát và ông nói, "Học đi, đừng lệ thuộc vào người khác. Chỉ cháu mới biết vị giác của mình. Ai khác có thể biết nó được?"

Tôi nói, "Điều đó ở ngoài cháu rồi; cháu quá lười, nhưng cháu có thể quan sát. Cả ngày nấu nướng sao? - cháu không thể làm được điều đó đâu." Cho nên tôi đã chẳng học gì cả, nhưng chính quan sát lại là niềm vui - cách ông làm việc, gần giống như nhà điêu khắc hay nhạc sĩ hay hoạ sĩ. Nấu nướng không chỉ là nấu nướng, nó là nghệ thuật đối với ông. Và nếu cái gì chỉ đạt chút ít dưới tiêu chuẩn của ông, ông sẽ ném nó đi ngay lập tức. Ông sẽ nấu lại nó... và tôi sẽ nói, "Nhưng nó hoàn toàn được cơ mà."

Ông sẽ nói, "Cháu biết nó không hoàn hảo, nó chỉ được thôi. Nhưng ông là người cầu toàn. Chừng nào nó còn chưa đạt chuẩn của ông, ông sẽ không đưa nó cho bất kì ai đâu. Ông yêu thích thức ăn của mình."

Ông hay làm nhiều loại đồ uống... và bất kì cái gì ông làm, cả gia đình cũng đều chống lại ông, họ nói rằng ông chỉ là người gây phiền nhiễu. Ông sẽ không cho phép bất kì ai vào bếp, và buổi tối ông tụ tập tất cả những người vô thần trong thị trấn. Và chỉ để thách thức người Jaina giáo, ông sẽ đợi cho tới lúc mặt trời lặn. Ông sẽ không ăn trước khi mặt trời lặn bởi vì người Jaina giáo nói, "Ăn trước lúc mặt trời lặn; sau khi mặt trời lặn việc ăn là không được phép." Chốc chốc ông lại bảo tôi ra xem mặt trời đã lặn hay chưa.

Ông làm cho cả gia đình khó chịu. Và họ không thể giận ông được - ông là gia trưởng, người già nhất - nhưng họ giận tôi. Điều đó dễ hơn. Họ nói, "Sao cháu cứ đi ra đi vào mãi để xem mặt trời đã lặn hay chưa? Cái ông già kia làm cho cháu mê mẩn rồi, hoàn toàn mê."

Tôi rất buồn bởi vì tôi chỉ bắt gặp cuốn sách Zorba người Hi Lạp, khi ông tôi đã chết. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy ở dàn thiêu đám tang ông là ở chỗ ông sẽ thích nó nếu tôi dịch nó cho ông và đọc nó cho ông. Tôi đã đọc nhiều sách cho ông. Ông không được giáo dục, ông chỉ có thể viết chữ kí của mình, có thế thôi. Ông cũng không thể đọc hay viết - nhưng ông lại rất tự hào về điều đó.

Ông hay nói, "Điều tốt là bố của ông đã không buộc ông phải tới trường, bằng không thì ông ấy đã làm hư hỏng cả ông. Những cuốn sách này làm hư hỏng người ta nhiều thế." Ông sẽ nói với tôi, "Nhớ lấy, bố cháu bị hư hỏng rồi, bác cháu bị hư hỏng rồi; họ liên tục đọc các sách tôn giáo, kinh sách, và nó toàn là thứ rác rưởi. Khi họ đọc thì ông sống; và cũng tốt là biết qua việc sống."

Ông hay bảo tôi, "Họ sẽ cho cháu vào đại học - họ sẽ không nghe lời ông đâu. Và ông không thể có ích gì nhiều, bởi vì nếu bố cháu và mẹ cháu cứ nhất quyết, họ sẽ cho cháu vào đại học. Nhưng thận trọng, đừng bị lạc vào sách vở."

Ông thích thú những cái nhỏ bé. Tôi hỏi ông, "Mọi người đều tin vào Thượng đế, sao ông không tin, Baba?" Tôi đã gọi ông là Baba; đó là từ dành cho người ông ở Ấn Độ.

Ông nói, "Bởi vì ông không sợ."

Một câu trả lời rất đơn giản: "Sao ông lại phải sợ? Không có nhu cầu sợ; ông chẳng làm điều gì sai, ông chẳng làm hại ai. Ông đã sống cuộc sống của mình một cách vui vẻ. Nếu có Thượng đế nào, và đôi khi ông gặp ngài, ngài không thể giận ông được. Ông sẽ giận ngài: ‘Sao ông lại tạo ra thế giới này? - đây mà là loại thế giới à?' Tôi không sợ đâu."

Khi ông sắp chết tôi lại hỏi ông, bởi vì các bác sĩ đều nói rằng vấn đề chỉ là vài phút nữa thôi. Mạch của ông mất dần, tim ông đang co lại, nhưng ông vẫn đầy ý thức. Tôi hỏi ông, "Baba, một câu hỏi..."

Ông mở mắt ra và nói, "Ông biết câu hỏi của cháu: sao ông không tin vào Thượng đế? Ông đã biết rằng cháu sẽ hỏi câu hỏi này khi ông chết. Cháu có cho rằng cái chết sẽ làm ông sợ không? Ông đã sống vui vẻ thế và đầy đủ thế, chẳng có tiếc nuối rằng ông chết.

"Ông sẽ làm gì khác vào ngày mai? Ông đã làm nó tất cả rồi, chẳng còn lại cái gì. Và nếu mạch của ông có chậm dần lại và nhịp đập tim ông chậm lại, ông nghĩ mọi thứ sẽ hoàn toàn tốt, bởi vì ông cảm thấy rất an bình, rất bình thản, rất im lặng. Dù ông chết hoàn toàn hay sống, ông không thể nói ngay bây giờ được. Nhưng một điều cháu nên nhớ: ông không sợ."

Ông bảo tôi, “Khoảnh khắc ông nghĩ tới việc vứt bỏ Thượng đế, nỗi sợ trào lên.” Đó là chỉ dẫn đơn giản rằng với tảng đá của ý tưởng về Thượng đế, bạn đang kìm nén nỗi sợ; cho nên khoảnh khắc bạn loại bỏ tảng đá đó đi, nỗi sợ trào lên.

Nếu nỗi sợ trào lên, điều đó có nghĩa là bạn phải đối diện với nó; không có cách nào để giúp bạn che đậy nó bằng ý tưởng về Thượng đế. Bạn không thể có tin tưởng lần nữa, cái đó bị phá huỷ rồi. Bạn không thể có tin tưởng vào Thượng đế, bởi vì hoài nghi là thực tại, và tin tưởng là hư cấu. Và không hư cấu nào có thể đứng được trước sự kiện. Bây giờ, Thượng đế đang còn là giả thuyết cho bạn; lời cầu nguyện của bạn sẽ vô dụng. Bạn sẽ biết nó là giả thuyết, bạn không thể quên được rằng nó là giả thuyết.

Một khi bạn đã nghe thấy chân lí, không thể quên được nó. Đó là một trong những phẩm chất của chân lí, rằng bạn không cần nhớ nó. Dối trá phải được liên tục nhớ tới; bạn có thể quên. Người quen với dối trá cần kí ức tốt hơn người quen với chân lí, bởi vì người thực không cần kí ức. Nếu bạn chỉ nói chân lí thì không cần nhớ. Nhưng nếu bạn đang nói lời dối trá, thế thì bạn phải liên tục ghi nhớ bởi vì bạn đã nói lời dối trá cho người này, lời dối trá khác cho người khác, cái gì đó khác cho ai đó khác. Với người bạn đã nói điều gì bạn phải phân loại trong tâm trí mình và giữ nó đấy. Và bất kì khi nào câu hỏi nảy sinh về lời nói dối bạn lại phải nói dối lần nữa, cho nên nó thành chuỗi. Dối trá không tin vào kiểm soát sinh đẻ.

Chân lí là độc thân, nó không có con chút nào; nó thực tế là vô hôn nhân.

Một khi bạn đã hiểu rằng Thượng đế không là gì ngoài giả thuyết được bịa ra bởi các tu sĩ, các chính trị gia, giới quyền lực, các nhà sư phạm - tất cả những người đó đều muốn giữ bạn trong nô lệ tâm lí, những người có quyền lợi được đầu tư nào đó vào sự nô lệ của bạn... Họ tất cả đều muốn giữ bạn sợ hãi, bao giờ cũng sợ hãi, run rẩy sâu bên trong, bởi vì nếu bạn không sợ, thì bạn là nguy hiểm.

Bạn có thể hoặc là người hèn nhát, sợ hãi, sẵn sàng phục tùng, đầu hàng, một người bản thân mình không có chân giá trị, không kính trọng bản thể riêng của mình - hay bạn có thể vô sợ hãi. Nhưng thế thì bạn sẽ là người nổi dậy, bạn không thể tránh được điều đó. Hoặc bạn có thể là một người của tin tưởng hoặc bạn sẽ là một linh hồn nổi dậy. Cho nên những người không muốn bạn là người nổi dậy - vì tính nổi dậy của bạn đi ngược lại với quyền lợi của họ - cứ ép buộc, huấn luyện tâm trí bạn bằng Ki tô giáo, bằng Do Thái giáo, bằng Mô ha mét giáo, bằng Hindu giáo, và họ giữ cho bạn run rẩy sâu bên trong. Đó là quyền lực của họ, cho nên bất kì ai quan tâm tới quyền lực, người có toàn thể cuộc sống không là gì ngoài ý chí nắm quyền, đã dùng cực nhiều giả thuyết về Thượng đế.

Nếu bạn sợ Thượng đế - và nếu bạn tin vào Thượng đế thì bạn phải sợ - bạn phải tuân theo mệnh lệnh và chỉ thị của ngài, sách thiêng của ngài, đấng cứu thế của ngài, hoá thân của ngài - bạn phải tuân theo ngài và các đại lí của ngài.

Thực tế ngài không tồn tại, chỉ đại lí của ngài tồn tại thôi. Đây là việc kinh doanh rất kì lạ. Tôn giáo là việc kinh doanh kì lạ nhất trong tất cả mọi thứ. Không có ông chủ, nhưng có người trung gian: tu sĩ, giám mục, hồng ý giáo chủ, giáo hoàng, đấng cứu thế, toàn thể hệ thống cấp bậc - và trên chóp chẳng có ai cả.

Nhưng Jesus nhận được thẩm quyền của mình và quyền lực từ Thượng đế - đứa con duy nhất của ngài. Giáo hoàng nhận được thẩm quyền của mình từ Jesus - là đại diện đúng đắn duy nhất, không thể sai được. Và điều đó cứ tiếp diễn tới các linh mục thấp nhất... nhưng không có Thượng đế; đó là nỗi sợ của bạn. Bạn đòi hỏi Thượng đế được bịa ra bởi vì bạn không thể sống được một mình. Bạn không có khả năng đối diện với cuộc sống, cái đẹp của nó, niềm vui của nó, đau khổ của nó, phiền não của nó. Bạn đã không sẵn sàng kinh nghiệm chúng theo cách riêng của mình mà không có ai bảo vệ bạn, không có ai đó là cái ô cho bạn. Bạn đòi hỏi Thượng đế là do nỗi sợ. Và chắc chắn có những kẻ lừa gạt ở mọi nơi. Bạn hỏi và họ sẽ đem điều đó cho bạn.

Bạn sẽ phải vứt bỏ ý tưởng này về Thượng đế điều giúp cho bạn vẫn còn không sợ hãi. Bạn sẽ phải trải qua nỗi sợ và chấp nhận nó như một thực tại con người. Không có nhu cầu trốn khỏi nó. Điều cần là đi sâu vào trong nó, và bạn càng đi sâu vào trong nỗi sợ của mình thì bạn sẽ thấy nó càng ít đi.

Khi bạn đã chạm tới đáy tảng đá của nỗi sợ bạn sẽ đơn giản cười, chẳng có gì để sợ cả.

Và khi nỗi sợ biến mất có sự hồn nhiên, và hồn nhiên đó là cái chí thiện, chính tinh hoa của người tôn giáo.

Hồn nhiên đó là quyền năng.

Hồn nhiên đó là phép màu duy nhất có đó.

Từ hồn nhiên bất kì cái gì cũng có thể xảy ra, nhưng bạn sẽ không là người Ki tô giáo từ điều đó, và bạn sẽ không là người Mô ha mét giáo từ điều đó. Từ hồn nhiên bạn sẽ đơn giản trở thành người thường, chấp nhận toàn bộ cái bình thường của mình, và sống nó một cách vui vẻ, cám ơn toàn thể sự tồn tại - không phải với Thượng đế, bởi vì đó là ý tưởng do người khác trao cho bạn.

Nhưng sự tồn tại không phải là ý tưởng. Nó có đó tất cả xung quanh bạn, bên trong và bên ngoài. Khi bạn hoàn toàn hồn nhiên, lời cám ơn sâu sắc - tôi sẽ không gọi nó là lời cầu nguyện bởi vì trong lời cầu nguyện bạn đang hỏi xin điều gì đó, tôi sẽ gọi nó là lời cám ơn ơn sâu sắc - biết ơn nảy sinh. Không phải bạn đang hỏi xin cái gì đó, mà cám ơn vì cái gì đó đã được trao cho bạn.

Biết bao nhiêu điều đã được trao cho bạn. Bạn có xứng với nó không? Bạn có kiếm được nó không? Sự tồn tại cứ rót nhiều thứ lên bạn tới mức yêu cầu thêm nữa là xấu. Cái mà bạn đã nhận được, bạn nên biết ơn vì điều đó. Và điều đẹp đẽ nhất là ở chỗ khi bạn biết ơn, sự tồn tại bắt đầu rót ngày một nhiều lên bạn. Nó trở thành vòng tròn: bạn càng nhận nhiều, bạn càng trở nên biết ơn nhiều; bạn càng trở nên biết ơn nhiều, bạn càng nhận nhiều hơn... và không có chấm dứt cho nó, nó là quá trình vô hạn.

Nhưng nhớ - giả thuyết về Thượng đế đã mất rồi; khoảnh khắc bạn gọi nó là giả thuyết thì ý tưởng về Thượng đế đã bị vứt bỏ rồi. Dù bạn sợ hay không, bạn không thể lấy nó lại được; nó đã kết thúc.

Bây giờ cách duy nhất còn lại là đi vào trong nỗi sợ của bạn.

Im lặng đi vào trong nó, cho nên bạn có thể tìm thấy chiều sâu của nó.

Và đôi khi điều xảy ra là nó không rất sâu sắc.

Một câu chuyện:

Một người bước đi trong đêm trượt chân khỏi một tảng đá. Sợ rằng mình sẽ ngã xuống vực sâu hàng trăm mét, bởi vì người đó biết chỗ đó là thung lũng rất sâu, người đó tóm lấy một cành cây treo trên bờ đá. Trong đêm mọi thứ người đó có thể thấy là vực thẳm không đáy. Người đó hét to; tiếng hét của người đó phản xạ lại - chẳng có ai để nghe.

Bạn có thể hình dung ra người đó và cả đêm tra tấn của người đó. Mọi khoảnh khắc đều có cái chết, tay người đó trở nên lạnh ngắt, người đó đang mất dần sức nắm giữ... và mặt trời ló ra người đó nhìn xuống và cười to: không có vực thẳm. Chỉ quãng hai mét phía dưới là tảng đá. Người đó có thể đã nghỉ ngơi cả đêm, ngủ ngon - tảng đá đủ lớn - nhưng cả đêm đã là ác mộng.

Từ kinh nghiệm của riêng mình tôi có thể nói với bạn: nỗi sợ không sâu hơn vài li đâu. Bây giờ vấn đề là tuỳ ở bạn liệu bạn có muốn cứ níu bám lấy nhánh đó và biến cuộc sống của mình thành cơn ác mộng, hay liệu bạn sẽ thích bỏ nhánh đó và đứng trên đôi chân của mình.

Chẳng có gì để sợ cả.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập