Bạn đang ở: Trang chủ Đọc sách trực tuyến Bài nói cho người tìm kiếm Đạo: Ba kho báu - Tập 1
 
 
Bài nói cho người tìm kiếm

Đạo: Ba kho báu - Tập 1 - (2)

2. Bình thường

Câu hỏi thứ nhất:

    

Tôi có tới nhầm chỗ không? Tôi chỉ muốn là bình thường và hạnh phúc. Tôi muốn một người phụ nữ để yêu, và yêu tôi; bạn bè dành thời gian cho nhau và tận hưởng. Tôi không muốn chứng ngộ. Tôi có tới nhầm chỗ không?

Nhiều thế kỉ giáo dục sai đã hoàn toàn làm tâm trí bạn lẫn lộn về chứng ngộ. Chính từ này dường như là siêu nhiên, thế giới khác; chính từ này dường như là cái gì đó ở sau cái chết hay dành cho những người đã chết. Điều này hoàn toàn sai.

Nếu bạn muốn hạnh phúc, không có cách nào khác hơn là chứng ngộ. Nếu bạn muốn là người bình thường, không ai đã từng là bình thường mà lại không chứng ngộ. Nếu bạn muốn yêu và được yêu, điều đó là không thể được nếu không có chứng ngộ. Cho nên bạn sẽ phải hiểu khái niệm của tôi về chứng ngộ. Nó chỉ là thông thường, lành mạnh, nhận biết, toàn thể, toàn bộ.

Mọi tâm trí đều đang tìm kiếm cái phi thường nào đó. Đó chính là điều bản ngã là gì: bao giờ cũng cố gắng là ai đó nói riêng, bao giờ cũng sợ là không ai cả, bao giờ cũng sợ cái trống rỗng, bao giờ cũng cố gắng trút đầy cái trống rỗng bên trong bằng bất kì cái gì và mọi thứ. Mọi con người đều tìm kiếm cái phi thường - và điều đó tạo ra khổ. Điều đó là không thể được. Tính không ai cả mới chính là bản chất của bạn, vô hiện hữu mới chính là chất liệu tạo nên bạn. Dù bạn có cố gắng tới đâu thì bạn cũng chẳng bao giờ thành công cả; ngay cả Alexanders cũng thất bại. Bạn không thể là ai đó được bởi vì điều đó là không thể được theo chính bản chất của mọi vật. Bạn chỉ có thể là không ai cả. Nhưng chẳng có gì sai trong việc là không ai cả; trong thực tế, khoảnh khắc bạn chấp nhận tính không ai cả, ngay lập tức phúc lạc bắt đầu tuôn trào từ bạn theo đủ mọi hướng - bởi vì khổ biến mất. Khổ là cái bóng của bản ngã, cái bóng của tâm trí tham vọng. Khổ có nghĩa là bạn đang làm điều gì đó không thể được và bởi vì bạn đang không làm được trong điều đó nên bạn mới khổ. Bạn đang làm điều gì đó phi tự nhiên, đang cố gắng làm nó và đang thất bại, cho nên bạn cảm thấy thất vọng, khổ.

Địa ngục chẳng là gì ngoài kết quả cuối cùng của nỗ lực không thể được, phi tự nhiên. Cõi trời chẳng là gì ngoài việc là tự nhiên.

Bạn là không ai cả. Bạn được sinh ra như một người không ai cả, không tên tuổi, không hình dạng. Bạn sẽ chết đi như một người không ai cả. Tên tuổi và hình dạng chỉ là trên bề mặt; sâu bên dưới bạn chỉ là không gian bao la. Và điều đó là đẹp, bởi vì nếu bạn là ai đó, bạn sẽ bị giới hạn. Cũng tốt là Thượng đế không cho phép bất kì ai được là ai đó; nếu bạn là ai đó, bạn sẽ hữu hạn, giới hạn, bạn sẽ là một sinh linh bị cầm tù. Không, Thượng đế không cho phép điều đó. Ngài cho bạn tự do để mang tính không ai cả - vô hạn, không tận cùng. Nhưng bạn không sẵn sàng. Với tôi, chứng ngộ tất cả đều là hiện tượng này: nhận ra, hiểu ra, chấp nhận sự kiện rằng người ta là không ai cả. Bỗng nhiên bạn chấm dứt cố gắng điều không thể được. Bỗng nhiên bạn chấm dứt việc tự kéo mình lên bằng dây giày của mình. Bạn hiểu ra cái ngớ ngẩn của nó - và bạn chấm dứt. Và tiếng cười lan toả khắp bản thể bạn. Bỗng nhiên bạn bình thản và tự chủ. Chính nỗ lực muốn là ai đó đang tạo ra rắc rối.

Và khi bạn cố gắng là ai đó, thì bạn không thể yêu được. Tâm trí tham vọng không thể yêu được. Đấy là điều không thể được, bởi vì người đó đầu tiên phải hoàn thành tham vọng của mình. Người đó phải hi sinh mọi thứ cho nó. Người đó sẽ cứ hi sinh tình yêu của mình. Nhìn người tham vọng mà xem - nếu họ theo đuổi tiền bạc, họ bao giờ cũng trì hoãn yêu. Ngày mai khi đã tích luỹ được nhiều tiền, họ sẽ yêu; ngay bây giờ đấy là điều không thể được. Điều đó là không thực tế theo bất kì cách nào; ngay bây giờ họ không thể đảm đương được nó. Yêu là thảnh thơi còn họ chạy theo cái gì đó để thành đạt - mục tiêu. Có thể nó là tiền bạc, có thể nó là quyền lực, danh vọng, chính trị. Làm sao họ có thể yêu bây giờ được? Họ không thể ở đây và bây giờ - còn yêu là hiện tượng ở đây và bây giờ. Yêu tồn tại chỉ trong hiện tại, tham vọng tồn tại trong tương lai: yêu và tham vọng chưa bao giờ gặp gỡ.

Bạn không thể yêu được. Và nếu bạn có thể yêu, làm sao bạn có thể được người nào khác yêu? Tình yêu là giao cảm sâu sắc của hai con người đã sẵn sàng ở cùng nhau - khoảnh khắc này, không phải ngày mai; người sẵn sàng là toàn bộ trong khoảnh khắc này và quên đi mọi quá khứ và tương lai. Yêu là quên lãng quá khứ và tương lai và là việc nhớ tới khoảnh khắc này, khoảnh khắc rung động này, khoảnh khắc sống động này. Yêu là chân lí của khoảnh khắc này.

Tâm trí tham vọng chưa bao giờ ở đây cả, nó bao giờ cũng là việc đi. Làm sao bạn có thể yêu một người đang chạy được? Người đó bao giờ cũng trong cuộc đua, trong thi thố; người đó không có thời gian. Hay người đó nghĩ rằng ở đâu đó trong tương lai, khi mục tiêu được đạt tới, khi người đó đã đạt tới quyền lực mình tìm kiếm, giầu có mình tìm kiếm, thế thì người đó sẽ thảnh thơi và yêu. Điều này sẽ không xảy ra, bởi vì mục tiêu sẽ chẳng bao giờ đạt được cả.

Tham vọng sẽ không bao giờ được hoàn thành. Chính bản chất của nó là không được hoàn thành. Bạn có thể hoàn thành một tham vọng; lập tức cả nghìn tham vọng khác nảy sinh ra từ nó. Tham vọng không bao giờ chấm dứt. Nếu bạn theo kịp nó, nếu bạn hiểu, nó có thể chấm dứt ngay bây giờ. Nhưng nếu bạn cho nó năng lượng, làm sao bạn có thể yêu được? Đó là lí do tại sao mọi người khổ thế khi cố gắng là ai đó - khổ bởi vì họ không có được tình yêu, khổ bởi vì họ không thể yêu được.

Tình yêu là cực lạc: cực lạc của vô trí, cực lạc của hiện tại, cực lạc của trạng thái vô tham vọng, cực lạc của cái trống rỗng. Bất kì khi nào người yêu hiện hữu, thì đều không có ai: chỉ tình yêu tồn tại. Khi hai người yêu gặp nhau, họ không phải là hai. Họ có thể có vẻ là hai với bạn, từ bên ngoài. Nhưng câu chuyện bên trong lại hoàn toàn khác: họ không là hai. Khoảnh khắc họ gặp gỡ, cái hai biến mất, chỉ tình yêu tồn tại và tuôn chảy. Làm sao điều đó có thể được nếu bạn còn chưa là trống rỗng bên trong, cái không, để cho không có rào chắn nào, không có gì giữa bạn và người yêu của bạn? Nếu bạn là ai đó và người yêu của bạn cũng là ai đó, thế thì hai người không gặp gỡ mà là bốn: hai người thực là không ai cả, người đang đứng ở hậu cảnh và hai ai đó - hai bản ngã giả đang bắt tay, âu yếm, làm những động tác yêu. Đấy là vở kịch để xem: lố bịch! Bất kì khi nào những người yêu gặp nhau, đều không có ai cả, và hai cái không ai cả thì không thể là hai được. Làm sao hai cái không lại có thể là hai được? Những cái không không có lằn ranh - cái không là bao la. Hai cái không trở thành một. Hai ai đó vẫn còn là hai.

Đó là lí do tại sao yêu trở thành một chuyện xấu thế - yêu được bạn gọi, chứ không phải tôi gọi. Tình yêu của bạn là một chuyện xấu, cái xấu nhất. Nó phải là như thế. Nó đáng ra có thể là hiện tượng đẹp nhất trên thế giới nhưng nó đã trở thành cái xấu nhất: người yêu thường xuyên đánh nhau, cãi nhau, tạo ra khổ lẫn cho nhau. Sartre nói, "Người kia là địa ngục." Ông ấy nói điều gì đó về tình yêu của bạn đấy. Bất kì khi nào bạn một mình, bạn đều cảm thấy được thảnh thơi, bất kì khi nào bạn ở cùng với người yêu, căng thẳng lại phát sinh. Bạn không thể sống một mình được bởi vì cái không ai cả sâu sắc nhất đang khao khát... nó có cơn khát, cơn đói sâu sắc. Cho nên bạn không thể vẫn còn một mình được. Bạn phải di chuyển - bạn tìm kiếm sự cùng nhau, nhưng khoảnh khắc bạn cùng nhau thì nó lại là khổ. Mọi quan hệ đều tạo ra khổ chứ không cái gì khác. Chừng nào bạn còn chưa chứng ngộ, tình yêu chỉ trở thành xung đột, cãi nhau. Dần dần người ta thu được việc điều chỉnh cho nó. Điều đó có nghĩa là dần dần người ta trở nên mụ mẫm, không nhạy cảm. Đó là lí do tại sao toàn thế giới lại trông chết thế, cũ rích thế. Nó bốc mùi. Mọi quan hệ đều thành cũ rích, chúng đã trở thành xấu.

Cho nên nếu bạn muốn thực sự yêu và được yêu... điều đó không thể được ngay bây giờ như bạn hiện thế; bạn phải biến mất. Bạn phải ra đi - để cho cái không, vốn dĩ tinh khôi, được còn lại, cái không, vốn dĩ tươi tắn, được để lại sau. Chỉ thế thì đoá hoa của tình yêu mới có thể nở ra. Hạt mầm có đó nhưng bản ngã lại giống như tảng đá, và hạt mầm không thể mọc ra trên nó được.

Và bạn nói bạn muốn là người bình thường? - và bạn muốn yêu? - và bạn muốn bạn bè? - và bạn muốn tận hưởng? Đây đích xác là điều chứng ngộ tất cả là gì! Nhưng nếu bạn đi tới các tu sĩ và tới các nhà thuyết giảng và tới các tôn giáo có tổ chức và các nhà thờ, thì chứng ngộ của họ lại khác. Họ chống lại tình yêu; họ chống lại tính thông thường; họ chống lại tình bạn; họ chống việc tận hưởng; họ chống lại mọi thứ mà bản chất của bạn tự nhiên tìm kiếm. Họ là những kẻ đầu độc lớn.

Nhưng nếu bạn tới tôi, bạn đã tới đúng người rồi - đúng người theo nghĩa là chứng ngộ của tôi là của thế giới này. Tôi không nói rằng không có thế giới khác. Tôi không nói rằng sự tồn tại trái đất này là sự tồn tại duy nhất - không. Đừng hiểu lầm tôi. Nhưng cái kia phụ thuộc vào cái này, thế giới kia phụ thuộc vào thế giới này, và bầu trời kia phụ thuộc vào trái đất này. Nếu bạn muốn đi lên cao hơn, bạn phải bắt rễ sâu hơn ở đây trong đất này. Bạn cần gốc rễ trong cuộc sống này, thế thì hoa sẽ tới trong cuộc sống khác. Cuộc sống khác không chống lại cuộc sống này; trong thực tế cuộc sống khác chỉ là việc nở hoa của cuộc sống này. Thượng đế không chống lại thế giới này, ngài không ở ngoài nó; ngài ở bên trong nó, ẩn bên trong nó. Bạn không cần đi ngược lại thế giới để tìm ngài - nếu bạn đi bạn sẽ chẳng bao giờ tìm ra ngài. Ngài ẩn ở đây và bây giờ. Bạn phải tìm, bạn phải đi sâu vào trong sự tồn tại này - và đó là cách duy nhất để tìm ra ngài. Toàn bộ cuộc sống này, toàn bộ sự tồn tại này không là gì ngoài ngôi đền, và ngài đang ẩn trong nó. Đừng trốn khỏi nó.

Tôi không chống lại cuộc sống này; trong thực tế tôi không chống lại điều gì cả. Tôi ủng hộ mọi thứ, bởi vì nếu nó tồn tại thì phải có mục đích cho nó chứ. Thượng đế không thể tạo ra cái gì không mục đích nào cả - ngài không điên. Sự tồn tại là rất có mục đích, có ý nghĩa; nếu cuộc sống này tồn tại, nó có nghĩa là cuộc sống khác không thể tồn tại mà không có nó. Điều đó là cơ sở.

Nhưng bạn mang khái niệm của mình khi bạn tới tôi. Khi bạn tới tôi và tôi nói về chứng ngộ, bạn hiểu tôi dưới dạng của điều bạn đã từng được dạy về chứng ngộ. Khi bạn tới tôi và tôi nói về từ bỏ, sannyas, bạn hiểu điều gì đó khác, không phải là điều tôi đang nói. Tôi phải dùng ngôn ngữ của bạn, và lời tất cả làm hỏng đi. Chúng đã được dùng cả triệu lần bởi hàng triệu người với ý nghĩa khác nhau, nghĩa khác nhau; và tôi đang trao cho chúng những chiều hướng mới của nghĩa.

Người chứng ngộ là người nhận biết hoàn toàn về cái trống rỗng bên trong của mình và không đánh nhau với nó; thay vì thế, người đó tận hưởng nó, nó là phúc lạc. Qua việc tận hưởng sự trống rỗng của mình mà người đó trở thành sẵn có cho người khác; người khác có thể tận hưởng, người khác có thể tới và tham dự vào bí ẩn của người này. Cánh cửa của người đó để mở, người đó mời bạn bè và người yêu tới, và người đó sẵn sàng chia sẻ, người đó sẵn sàng cho. Khi bạn cho cái trống rỗng của mình, bạn chẳng bao giờ sợ việc cho đó bởi vì bạn không thể vét cạn cái trống rỗng được. Bạn cứ cho mãi, bạn cứ cho mãi - nó bao giờ cũng có đó, bạn không thể vét cạn nó được. Chỉ cái hữu hạn mới có thể bị vét cạn, đó là lí do tại sao chúng lại tạo ra tính keo kiệt - bạn sợ phải cho. Người cảm thấy mình trống rỗng, thì sao người đó phải sợ việc cho? Người đó có thể cho bản thân mình một cách toàn bộ, và chừng nào mà điều đó còn chưa thể được thì tình yêu cũng là không thể được. Tình yêu là hiện tượng thiêng liêng, tình yêu không ô uế. Mọi tình yêu xứng với cái tên đó đều linh thiêng. Và khi bạn đi vào trong tình yêu, bạn đi vào trong thế giới của thuần khiết, hồn nhiên. Khi bạn yêu bạn đi vào trong ngôi đền của điều thiêng liêng.

Tận hưởng đi! Tôi không ủng hộ buồn rầu và mặt dài. Tôi không ở đây để làm cho bạn khổ hơn - bạn đã quá khổ rồi. Tôi không ở đây để cho bạn nhiều buồn bã. Tôi ở đây để thức tỉnh bạn tới phúc lạc là quyền tập ấm của bạn, tự nhiên sẵn có cho bạn. Nhưng bạn đã quên mất cách tiếp cận tới nó, và bạn đang đi sai hướng: bạn tìm nó ở đâu đó nơi không có nó; bạn tìm nó ở bên ngoài và nó ở bên trong; bạn tìm nó ở nơi xa xôi còn nó ở gần; bạn tìm nó ở các vì sao xa xăm và nó ở ngay phía trước bạn.

Trong tiếng Anh có hai từ - hay. Một là "hiển nhiên" (obvious): hiển nhiên có nghĩa là chỉ ngay phía trước bạn. Nó có nghĩa gốc Latin là ở ngay phía trước bạn. Và thế rồi có từ khác: "vấn đề" (problem). Nó có gốc Hi Lạp cũng có nghĩa là ở ngay trước bạn. Nghĩa gốc của 'hiển nhiên" và 'vấn đề" là một. Hiển nhiên là vấn đề, cái ở ngay trước bạn là vấn đề - bởi vì bạn không thể thấy nó được, mắt bạn đang vẩn vơ ở những vùng đất xa. Cái hiển nhiên đã trở thành vấn đề. Và chứng ngộ là trở nên nhận biết về cái hiển nhiên, và khi bạn trở nên nhận biết về cái hiển nhiên thì vấn đề biến mất.

Sống một cuộc sống không có vấn đề là sống cuộc sống chứng ngộ. Nó là cách hiện hữu hoàn toàn khác: nó chẳng liên quan gì tới thành đạt cả, nó chẳng liên quan gì tới học hành, nó chẳng liên quan gì tới nỗ lực, công phu. Điều duy nhất được cần tới là thêm chút ít tỉnh táo để cho bạn có thể nhìn, thấy, quan sát cái ở trước bạn. Giải pháp ở gần hơn, rất rất gần với bạn hơn là bạn tưởng. Đừng tìm nó ở xa xăm; nó tồn tại bên trong bạn. Một khi bạn đã lắng đọng vào bên trong, định tâm, bắt rễ, tôi sẽ cho bạn mọi tự do - đi và yêu. Đi và hiện hữu trong thế giới này; bây giờ bạn sẽ có khả năng tận hưởng nó, bạn sẽ có khả năng nếm trải nó, bạn sẽ có khả năng thấm sâu vào những khả năng sâu sắc nhất của nó. Và bất kì khi nào bạn đi vào trong cõi giới của chiều sâu đó, bao giờ bạn cũng sẽ thấy điều thiêng liêng ở đó. Trong tình yêu, đi sâu và bạn sẽ thấy Thượng đế; trong thức ăn, ăn tốt, với tỉnh táo, nhận biết, và bạn sẽ thấy Thượng đế.

Upanishads nói annam brahm - thức ăn là Thượng đế. Và Upanishads nói rằng dục cũng là anh em, anh em sinh đôi, của phúc lạc tối thượng cuối cùng. Anh em sinh đôi của phúc lạc tối thượng cuối cùng - dục! Bạn đã kết án nó quá nhiều. Nó có thể là bậc thang thấp nhất của chiếc thang nhưng nó thuộc vào chiếc thang. Bậc cao nhất thuộc vào nó cũng như bậc thấp nhất; trong thực tế, mọi thứ đều thuộc vào Thượng đế và là điều thiêng liêng.

Đây là chứng ngộ: có khả năng thấy trong mọi thứ nhịp đập thiêng liêng. Tôn giáo không chống lại điều gì cả, tôn giáo là việc tìm ra sự linh thiêng ở mọi nơi. Và có nó đó, đang chờ đợi bạn.

Bạn đã tới đúng chỗ rồi. Tâm trí bạn có thể muốn trốn khỏi đây, bởi vì điều này sẽ là cái chết của tâm trí bạn. Nó là đúng chỗ cho bạn, nhưng sai chỗ cho tâm trí. Nó là tuyệt đối đúng chỗ cho sự hiện hữu của bạn, nhưng cho tham vọng của bạn, bản ngã bạn, lòng tự hào của bạn, cái ngu xuẩn của bạn, thì nó là chỗ sai nhất mà bạn không thể nào tìm thấy ở đâu trên thế giới vào khoảnh khắc này.

Cho nên bạn quyết định đi. Nếu bạn muốn là ngu xuẩn, trốn đi. Thế thì tâm trí sẽ cứ lừa bạn rằng bạn đang trong tình yêu và tận hưởng - và bạn biết mình không tận hưởng, và bạn biết mình không trong tình yêu. Thế rồi tâm trí có thể cứ lừa phỉnh bạn rằng bạn đang si mê - bạn không thể si mê được. Bạn thậm chí không có đó để mà si mê. Bạn không tồn tại. Bạn không có sự hiện hữu tích hợp theo bất kì cách nào. Bạn có thể vẩn vơ xung quanh và tự lừa dối mình nhưng nếu bạn thực sự muốn được một phụ nữ yêu và bạn muốn người phụ nữ yêu, và bạn muốn có bạn bè, và bạn muốn tận hưởng cuộc sống - tôi đang trao cho bạn mọi chìa khoá mở nó.

Câu hỏi thứ hai:

Thầy nói rằng Lão Tử là người hiếm hoi nhất trong những người tìm kiếm. Thế thì làm sao thầy gọi ông ấy là toàn bộ?

 

Ông ấy là người hiếm hoi nhất trong những người tìm kiếm bởi vì ông ấy là toàn bộ. Tâm trí sợ tính toàn bộ, tâm trí bao giờ cũng tìm sự hoàn hảo. Tâm trí là kẻ cầu toàn.

Cố hiểu hai chiều hướng này: chiều hướng của hoàn hảo và chiều hướng của toàn bộ. Với hoàn hảo, bản ngã có thể tồn tại hoàn hảo; trong thực tế, nó không thể tồn tại mà không có chiều hoàn hảo. Bản ngã bao giờ cũng cố gắng ngày một hoàn hảo hơn, và khi bạn muốn là hoàn hảo thì bạn phải chọn - bạn không thể toàn bộ được. Nếu bạn muốn khôn, bạn phải chọn: bạn phải bỏ ngu đi, bạn phải tranh đấu chống lại dốt nát. Và nếu bạn muốn khôn hoàn hảo, bạn phải cắt bỏ đi tất cả mọi khả năng về dốt nát, về ngu xuẩn, về điên khùng.

Nhưng con người toàn bộ hoàn toàn khác. Người đó là khôn trong cái ngu; người đó là ngu trong cái khôn của mình. Người đó biết rằng mình là kẻ dốt nát - đó là cái khôn của người đó. Trong người đó các mặt đối lập gặp gỡ. Lão Tử nói: mọi người dường như khôn chỉ trừ ta. Ta dường như là ngu. Mọi người đều đang cố gắng là khôn, cố gắng là có hiểu biết, cố gắng là thông minh - cắt xén, che giấu, kìm nén cái ngu. Nhưng cái ngu có vẻ đẹp của riêng nó - nếu nó có thể được nối cùng với cái khôn. Thế thì khôn là toàn bộ. Và con người khôn ngoan vĩ đại nhất theo chiều hướng toàn bộ thì bao giờ cũng là người ngu nữa. Họ đơn giản và hồn nhiên tới mức họ có vẻ như ngu ngốc. Lão Tử phải đã nhìn vào cái ngu của nhiều người. Ông ấy là vậy; ông ấy là cả hai. Và đó là điều khó khăn: tâm trí tìm kiếm sự hoàn hảo. Ai sẽ tới với Lão Tử? Không ai muốn vừa ngu vừa khôn cả. Và bạn thậm chí cũng không thể nào hiểu nổi làm sao người ta lại có thể là cả hai. Làm sao người ta có thể là cả hai được?

Người ta kể lại rằng một nhà huyền môn Sufi đi chu du và tới một thành phố. Và tên tuổi của ông ta đã tới đó từ trước khi ông ta tới, danh tiếng của ông ta mọi người đều đã biết. Cho nên mọi người tụ tập lại và nói, "Xin thầy giảng điều gì đó cho chúng tôi."

Nhà huyền môn này nói, "Ta không phải là người khôn, bởi vì ta ngu nữa. Quí vị sẽ bị lẫn lộn bởi giáo huấn của ta, cho nên tốt hơn cả là để cho ta im lặng." Nhưng ông ta càng cố gắng tránh nó, thì họ lại càng nài nỉ hơn, họ lại càng trở nên bị hấp dẫn bởi cá tính của ông ta.

Cuối cùng ông ta đành nhường và ông ta nói, "Thôi được rồi. Thứ sáu này ta sẽ tới nhà thờ Mô ha mét giáo..." Đó là một làng Mô ha mét giáo. "... và các vị muốn ta nói gì?"

Họ nói, "Tất nhiên là về Thượng đế."

Thế là ông ta tới - cả làng tụ tập lại, ông ta đã tạo ra xúc động thế. Ông ta đứng tại bục giảng kinh và hỏi một câu hỏi, "Quí vị có biết gì về điều ta định nói về Thượng đế không?"

Dân làng tất nhiên đáp lại, "Không, chúng tôi không biết thầy định nói gì."

"Vậy thì," ông ta nói, "điều đó là vô dụng, bởi vì nếu quí vị không biết chút nào, quí vị sẽ không có khả năng hiểu được. Một chút ít chuẩn bị là cần thiết, mà quí vị lại hoàn toàn chưa được chuẩn bị gì cả. Điều đó sẽ là vô ích và ta sẽ không nói." Ông ta bỏ đi khỏi nhà thờ.

Dân làng lấy làm lúng túng: phải làm gì? Họ thuyết phục ông ấy tới vào thứ sáu sau. Thứ sáu tới ông ấy lại tới. Ông ấy hỏi cùng câu hỏi ấy; mọi dân làng đều sẵn sàng. Ông ấy hỏi, "Quí vị có biết điều ta định nói với các vị không?"

Họ nói, "Có chứ, tất nhiên rồi."

Thế là ông ấy nói, "Thế thì chẳng cần phải nói nữa. Nếu quí vị đã biết rồi - chấm dứt. Sao lại phải làm phiền ta một cách không cần thiết và phí thời gian của quí vị làm gì?" Ông ấy bỏ nhà thờ đi.

Dân làng hoàn toàn phân vân: phải làm gì với con người này đây? Nhưng bây giờ mối quan tâm của họ sắp phát điên. Ông ấy phải che giấu điều gì đó! Cho nên họ lại thuyết phục ông ấy bằng cách nào đó.

Ông ấy tới, và lần nữa ông ấy lại hỏi cùng câu hỏi cũ, "Quí vị có biết ta định nói gì không?"

Bây giờ dân làng đã trở nên chút ít khôn hơn. Họ nói, "Một nửa chúng tôi biết, một nửa chúng tôi không biết."

Nhà huyền môn nói, "Thế thì không có nhu cầu. Những người biết có thể nói cho những người không biết. "

Đây là người khôn và ngu - người đó có vẻ ngu nhưng người đó lại rất khôn trong cái ngu của mình; người đó trông có vẻ rất khôn nhưng người ấy lại hành xử như kẻ ngu. Nếu bạn hiểu cuộc sống, bạn càng đi sâu hơn bạn sẽ càng hiểu hơn rằng cái toàn thể mới đáng chọn lựa. Điều đó nghĩa là không có nhu cầu chọn. Việc chọn sẽ chặt cắt cái toàn thể ra và bất kì cái gì bạn thu được cũng đều là mẩu mảnh và chết. Khôn và ngu là cùng nhau trong cuộc sống; nếu bạn cắt chúng ra thế thì khôn sẽ tách ra và ngu sẽ tách ra, nhưng cả hai sẽ chết. Nghệ thuật lớn lao nhất của cuộc sống là để cho chúng trưởng thành cùng nhau theo quân bình đến mức mà cái khôn của bạn mang phẩm chất nào đó của cái ngu, cái ngu của bạn mang phẩm chất nào đó của cái khôn. Thế thì bạn là toàn bộ.

Đó là lí do tại sao: người hiếm hoi nhất là người tìm kiếm sẽ tới với Lão Tử. Ông ấy sẽ dường như là ngớ ngẩn bởi vì đôi khi ông ấy sẽ hành xử như người khôn và đôi khi ông ấy sẽ hành xử như người ngu. Và bạn không thể dựa vào ông ấy được, và ông ấy không thể dự đoán được, và không ai biết được ông ấy định làm gì vào khoảnh khắc tiếp - ông ấy sống khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia. Và bạn không thể làm ra học thuyết từ ông ấy được: ông ấy không phải là người khôn, ông ấy là người ngu nữa. Cái ngu đó sẽ quấy rối bạn. Và ông ấy bao giờ cũng không nhất quán - trên bề mặt. Tất nhiên, sâu bên dưới tồn tại sự nhất quán, tuyệt đối nhất quán: ông ấy nhất quán tới mức cái khôn và ngu của ông ấy cũng nhất quán, nhưng để hiểu được điều đó thì bạn phải đi sâu hơn vào con người này. Chỉ quen biết trên bề mặt sẽ chẳng có tác dụng, chỉ quen thuộc sẽ không có tác dụng; bạn sẽ cần satsang. Bạn sẽ phải trong tham dự sâu với sự hiện hữu của ông ấy, chỉ thế thì bạn mới có khả năng hiểu được tính toàn bộ.

Phật là khôn, Mahavira là khôn. Bạn không thể tìm ra một chút ít ngu nào trong họ, họ là hoàn hảo. Lão Tử thì không, Trang Tử thì không, Liệt Tử thì không. Họ là mâu thuẫn, ngược đời, nhưng đấy là chỗ cái đẹp của họ hiện hữu. Phật là đơn điệu. Nếu bạn hiểu Phật hôm nay thì bạn đã hiểu Phật hôm qua và bạn đã hiểu ngày mai của ông ấy nữa. Ông ấy là một điều nhất quán - rõ ràng, logic, đi theo đường thẳng, tuyến tính.

Nhưng Lão Tử dích dắc, ông ấy chạy như người điên. Bạn sẽ hiểu, khi chúng ta đi vào châm ngôn của ông ấy; bạn sẽ hiểu rằng ông ấy chạy như người điên. Khẳng định của ông ấy không tạo ra nghĩa trên bề mặt. Chúng là những phát biểu nhạy cảm nhất, nhưng để biết tới nghĩa này bạn sẽ phải thay đổi hoàn toàn. Phật là trên bề mặt - logic, hợp lí; bạn có thể hiểu ông ấy mà không trở thành thiền nhân; không tuôn chảy vào trong sự hiện hữu của ông ấy bạn vẫn có thể hiểu được ông ấy. Ông ấy là có thể hiểu được; nhưng không thế với Lão Tử. Tính toàn bộ này... Lão Tử chấp nhận thế giới này và thế giới khác, và ông ấy chấp nhận toàn bộ. Ông ấy không bận tâm về thế giới khác; ông ấy biết rằng thế giới khác đang phát triển ra từ thế giới này - cái kia đang phát triển ra từ cái này, cho nên sao phải bận tâm về nó? Sống cái này đẹp nhất có thể được đi, toàn bộ nhất có thể được đi, và cái kia sẽ tới từ nó một cách tự nhiên. Nó sẽ là phát triển tự nhiên.

Nếu bạn gặp Lão Tử thì ông ấy sẽ gây phân vân. Lúc này ông ấy sẽ nói điều gì đó, lúc khác ông ấy sẽ nói điều gì đó khác; ông ấy sẽ khẳng định một câu và trong câu tiếp ông ấy sẽ mâu thuẫn lại nó. Đó là lí do tại sao chỉ rất hiếm người tìm kiếm mới đạt tới ông ấy; đó là lí do tại sao không tồn tại tôn giáo có tổ chức cho Lão Tử. Nó không thể tồn tại được. Chỉ cá nhân người tìm kiếm mới có thể đạt tới ông ấy bởi vì tôn giáo có tổ chức phải là những người cầu toàn, phải tương ứng với tâm trí, phải tương ứng với bạn; bởi vì tôn giáo có tổ chức có nghĩa là tôn giáo quan tâm nhiều hơn tới đám đông, quan tâm nhiều hơn tới quần chúng. Nó phải tồn tại với quần chúng và với đám đông.

Lão Tử có thể vẫn còn không tì vết, thuần khiết. Ông ấy không thoả hiệp. Tính toàn bộ của ông ấy trở thành không thể nào hiểu nổi - đó là lí do tại sao hiếm người tìm kiếm đạt tới ông ấy, bởi vì ông ấy là toàn bộ.

Người càng toàn bộ thì người đó càng trở thành không thể nào hiểu nổi, bởi vì người đó càng trở thành giống Thượng đế. Người đó không rõ ràng. Người đó không giống như khu vườn do con người tạo ra; người đó là vùng hoang vu, rừng rậm, không qui tắc, không kế hoạch, một sự phát triển hoang dã, ngoài ý muốn. Đó là cái đẹp. Dù khu vườn do con người trồng có đẹp đến đâu, thì con người rõ ràng có đó, bàn tay con người rõ ràng có đó. Mọi thứ đều được con người lập kế hoạch, cắt xén, gieo trồng - đối xứng, và mọi thứ. Nhưng trong rừng hoang bạn không có đối xứng nào, bạn không thấy logic nào. Nếu Thượng đế là người làm vườn, ngài phải là kẻ điên. Sao ngài cho phát triển rừng như vậy? Phật giống như người làm vườn, người làm vườn của cung điện hoàng gia; Lão Tử giống như rừng hoang: bạn có thể bị lạc trong nó. Bạn sẽ cảm thấy sợ và nguy hiểm sẽ ẩn nấp tại mọi bước đi và mọi cái bóng sẽ gây cho bạn kinh hoàng đến chết. Đó là lí do tại sao Khổng Tử nói: Chớ có lại gần ông ta. Không ai biết lối của ông ấy cả. Hoặc là ông ấy điên hoặc ông ấy là con người khôn ngoan nhất. Nhưng chẳng ai biết ông ấy là ai cả


Câu hỏi thứ ba:

Tôi có ham muốn mãnh liệt để hội nhập với vũ trụ, nhưng tôi vẫn còn bị tách biệt, lo âu, vô gia cư - tại sao vậy? Cái gì giữ tôi lại, và cái gì cần được làm?

 

Chính ham muốn hội nhập với vũ trụ đang giữ bạn tách rời. Vứt bỏ cái ham muốn đó đi và có hội nhập.

Bạn không thể hội nhập bằng ham muốn mãnh liệt được, bởi vì chính ham muốn đó sẽ giữ bạn tách rời. Ai là người ham muốn này? Ham muốn mãnh liệt này thuộc về ai? Ham muốn mãnh liệt tạo ra bản ngã mãnh liệt - và sự ngăn chặn. Và ai bảo bạn rằng bạn tách rời và bạn cần được hội nhập? Bạn chưa bao giờ tách rời cả, cho nên tại sao bạn chuồn đi? Bạn đã hội nhập rồi.

Nhìn khác biệt về quan điểm này. Lão Tử nói bạn được hội nhập trong sự tồn tại, bạn không tách rời. Bạn chưa bao giờ hiện hữu, bạn không bao giờ có thể bị tách rời. Làm sao điều đó là có thể được? Bạn tồn tại trong đại dương của điều thiêng liêng, hay Đạo, hay bất kì cái gì bạn có thể đặt tên nó. Làm sao bạn có thể tách rời được? Cho nên đầu tiên là khái niệm sai về "Mình tách rời," thế rồi khái niệm sai nữa nảy sinh từ khái niệm thứ nhất - rằng "Mình phải hội nhập." Và nếu bạn cố gắng hội nhập, bạn sẽ còn tách rời. Nhìn và quan sát và thấy: bạn chưa bao giờ tách rời cả. Ai thở trong bạn? Bạn nghĩ là bạn sao? Ai sống trong bạn? Bạn nghĩ là bạn sao? Ai được sinh ra trong bạn? Bạn có bất kì khái niệm nào không? Cái mà được sinh ra trong bạn, cái mà đang sống trong bạn, cái mà đang thở trong bạn, là cái toàn thể. Và đây chỉ là các ý nghĩ: làm sao hội nhập? - thế thì bạn sẽ chẳng bao giờ có khả năng hội nhập cả. Nhìn vào tình trạng của vấn đề. Bạn đã trong nó rồi.

Người ta nói rằng khi Lin Chi tới thầy mình, kêu khóc với nước mắt chảy ròng ròng từ đôi mắt và hỏi cách trở thành vị phật, thầy đánh cho anh ta một cái rõ mạnh vào mặt, tát anh ta thật đau.

Anh ta choáng váng và anh ta nói, "Thầy làm gì thế? Tôi có đòi hỏi điều gì sai đâu?"

Thầy nói, "Có đấy. Đây là điều sai nhất mà người ta có thể hỏi. Cứ hỏi lần nữa và ta sẽ đánh ông còn mạnh hơn. Ngu xuẩn làm sao! Ông là phật... và ông hỏi cách trở thành phật sao?"

Một khi bạn rơi vào cái bẫy của cách trở thành vị phật, thì hàng triệu kiếp bạn sẽ bỏ lỡ toàn bộ vấn đề. Bạn bao giờ cũng là vị phật rồi.

Chuyện xảy ra trong một kiếp riêng của Phật. Trong kiếp sống quá khứ của ông ấy, ông ấy nghe nói về một người đã trở thành vị phật. Cho nên ông ấy tới và chạm chân người đó. Nhưng ông ấy hoàn toàn ngạc nhiên, bởi vì khi ông ấy chạm chân vị Phật, thì vị Phật lập tức chạm chân ông ấy.

Thế là ông ấy nói, "Điều này gây khó xử quá. Tôi chạm chân thầy bởi vì tôi là người dốt nát, cứ tìm và kiếm mãi. Nhưng sao thầy chạm chân tôi? Thầy là người đã chứng ngộ."

Vị Phật cười và ông ấy nói, "Anh có thể không biết. Ta thấy anh còn chưa biết mình là ai. Nhưng ta biết anh rõ lắm. Một khi ta đã hiểu ra ta là ai, ta hiểu toàn thể sự tồn tại này là gì. Nhưng anh có thể còn chưa nhận biết. Có thể mất chút thời gian cho anh trở nên nhận biết mình là ai."

Phật tính không phải là thành đạt. Nó chỉ là việc nhận ra bạn là ai, nó chỉ là việc nhớ ra. Cho nên đừng hỏi tôi về cách hội nhập. Và nếu bạn có ham muốn mãnh liệt để hội nhập, thì ham muốn càng mãnh liệt sẽ càng khó cho người hội nhập. Ham muốn là rào chắn. Xin vứt bỏ ham muốn đi và nhìn khắp xung quanh. Bạn là ai? Thượng đế tồn tại, không phải bạn. Bạn là một khái niệm giả, một ý tưởng, một cái bong bóng trong đầu - một bong bóng không khí, có vậy thôi. Bình tĩnh lại một chút đi. Và nhìn quanh: bạn bao giờ cũng trong đại dương, bạn chưa bao giờ ở đâu khác cả. Bạn không thể ở nơi khác được, bởi vì chẳng cái gì khác tồn tại cả. Không có chỗ nào ngoại trừ Thượng đế - hay Đạo. Cho nên bạn càng nhận sớm cái ngu xuẩn của ham muốn này, của sự hội nhập này, thì càng tốt. Bạn đã là cái bạn đang tìm kiếm rồi.

Đây là thông điệp của mọi người đã thức tỉnh: bạn đã là cái bạn đang tìm kiếm. Bạn đã là mục tiêu. Bạn chưa bao giờ rời khỏi nhà.

Có một câu chuyện hay - nó có vẻ báng bổ chút ít, nhưng chỉ phật tử thiền mới có thể làm điều đó. Họ yêu thầy mình nhiều, họ yêu Phật nhiều tới mức họ thậm chí có thể chấp nhận việc báng bổ.

Có một câu chuyện rằng một con khỉ tới Phật.

Khỉ đại diện cho con người, khỉ có nghĩa là tâm trí. Tâm trí khỉ. Charles Darwin đã đi tới biết điều đó rất rất chậm, nhưng chúng ta bao giờ cũng nhận biết rằng con người phải đã bắt nguồn từ khỉ, bởi vì con người vẫn mang tính khỉ. Bạn cứ quan sát tâm trí, việc huyên thuyên thường xuyên của nó, và thế rồi quan sát con khỉ trên cây. Bạn sẽ thấy sự tương đồng.

Một con khỉ tới Phật, và nó không phải là con khỉ thường. Nó là vua khỉ, hầu vương - điều đó nghĩa là hoàn toàn là khỉ.

Con khỉ nói với Phật, "Ta muốn trở thành vị phật."

Phật nói, "Ta chưa từng nghe nói về bất kì ai đã trở thành phật trong khi vẫn còn là khỉ."

Con khỉ nói, "Ông không biết quyền năng của ta. Ta không phải là khỉ thường đâu." Chẳng con khỉ nào nghĩ rằng nó là khỉ thường cả, mọi con khỉ đều nghĩ rằng chúng là phi thường; đó là một phần của tính khỉ của nó. Nó nói, "Ta không phải là khỉ thường đâu. Ông đang nói cái gì vậy? Ta là vua của khỉ."

Thế là Phật hỏi, "Mi có quyền năng ngoại lệ hay phi thường nào? Mi có thể biểu diễn cho ta xem không? "

Con khỉ nói, "Ta có thể nhảy tới cùng trời cuối đất." Nó đã nhảy nhót trên mọi cây cối. Nó biết cách nhảy.

Thế là Phật nói, "Được rồi. Lên lòng bàn tay ta rồi nhảy tới cùng trời cuối đất xem sao."

Con khỉ cố gắng và cố gắng, và nó thực sự là một con khỉ rất quyền năng, một con khỉ rất mạnh mẽ. Nó đi như tên bắn, và nó đi mãi nó đi mãi... nó đi mãi. Nhiều tháng và - câu chuyện kể - nhiều năm trôi qua. Và thế rồi con khỉ đi tới cùng trời cuối đất.

Nó cười; nó nói, "Trông kìa! Chỗ cùng trời cuối đất đây rồi!" Nó nhìn xuống. Đấy là một vực thẳm: năm cột trụ đang đứng đó để đánh dấu biên giới. Bây giờ nó phải quay về. Nhưng làm sao nó có thể chứng minh rằng nó đã ở chỗ năm cây cột trụ đó? Thế là nó đái gần một cây cột trụ - một con khỉ! - để đánh dấu nó!

Nhiều năm trôi qua và nó quay về. Khi nó về tới Phật nó nói, "Ta đã tới chỗ cùng trời cuối đất, và ta đã để lại một đánh dấu."

Nhưng Phật nói, "Nhìn quanh lại xem sao."

Nó chẳng đi chút nào. Năm cột trụ đó là năm ngón tay của Phật. Và chúng bốc mùi khai... Nó đã ở đó với mắt nhắm... phải đã mơ màng.

Tâm trí là con khỉ với mắt nhắm, mơ màng. Bạn chưa bao giờ đi đâu cả, bạn bao giờ cũng ở đây và bây giờ - bởi vì chẳng cái gì khác tồn tại cả. Chỉ mở mắt ra thôi. Chỉ mở mắt ra và nhìn quanh, và bỗng nhiên bạn sẽ cười. Bạn bao giờ cũng được bắt rễ vào sự hiện hữu tối thượng, không có nhu cầu hội nhập. Nhu cầu duy nhất là trở nên tỉnh táo về nơi bạn đang hiện hữu, bạn là ai.

Và vứt bỏ cái ngu xuẩn về ham muốn mãnh liệt đó. Ham muốn là rào chắn; ham muốn mãnh liệt tất nhiên là rào chắn lớn hơn. Ham muốn che mờ tâm trí. Ham muốn tạo ra khói quanh bạn, bức màn khói, và thế thì bạn không thể thấy được cái gì thực tế là hoàn cảnh.

Câu hỏi thứ tư:

Thầy đã nói về hài hoà của các cái đối lập. Tôi cảm thấy rằng ghét giết chết yêu và giận dữ giết chết từ bi. Các cực đoan đang đánh nhau bên trong tôi. Làm sao tôi có thể tìm ra hài hoà?

 

Bạn hoàn toàn sai. Nếu ghét giết chết yêu và giận dữ giết chết từ bi thế thì không có khả năng nào - không có khả năng nào có đó cho yêu hay từ bi. Thế thì bạn bị bắt, thế thì bạn không thể thoát ra khỏi nó. Bạn đã sống với ghét hàng triệu kiếp rồi - nó phải đã giết chết yêu. Bạn đã sống với giận dữ hàng triệu kiếp rồi - nó phải đã sát hại từ bi. Nhưng nhìn xem... yêu vẫn có đó, ghét tới rồi đi; yêu còn lại. Giận dữ tới rồi đi; từ bi còn lại. Ghét không có khả năng giết chết yêu; đêm không có khả năng giết chết ngày và bóng tối không có khả năng sát hại ánh sáng. Không, chúng vẫn tồn tại.

Cho nên điều đầu tiên cần hiểu là: chúng đã không bị giết chết. Đấy là một điều. Và điều thứ hai sẽ là có thể chỉ về sau, khi bạn thực sự yêu. Bạn không thực sự yêu; đó là rắc rối, không phải là ghét. Ghét không phải là rắc rối - bạn không thực sự yêu. Bóng tối không phải là rắc rối - bạn không có ánh sáng. Nếu ánh sáng có đó, bóng tối biến mất. Bạn đã không yêu. Bạn viển vông, bạn tưởng tượng, bạn mơ mộng - nhưng bạn đã không yêu.

Yêu đi. Nhưng tôi không nói rằng chỉ bởi yêu mà ghét sẽ lập tức biến mất - không. Ghét sẽ tranh đấu lại. Mọi người đều muốn tồn tại. Ghét sẽ vật lộn. Bạn càng yêu nhiều, ghét sẽ càng tới mạnh hơn. Nhưng bạn sẽ ngạc nhiên: ghét tới và đi. Nó không giết chết tình yêu; thay vì thế, nó làm cho tình yêu mạnh thêm. Tình yêu có thể hấp thu cả ghét nữa. Nếu bạn yêu một người, trong khoảnh khắc nào đó bạn có thể ghét. Nhưng điều đó không phá huỷ yêu; thay vì thế, nó đem lại giầu có cho yêu.

Trong thực tế ghét là gì? - nó là xu hướng đi xa. Yêu là gì? - xu hướng xích lại gần hơn. Ghét là xu hướng tách ra, xu hướng phân li. Yêu là xu hướng kết hợp, lại gần, trở nên gần hơn, trở thành một. Ghét là trở thành hai, độc lập. Yêu là trở thành một, tương thuộc. Bất kì khi nào bạn ghét, bạn đều chạy xa khỏi người yêu của mình. Nhưng trong cuộc sống bình thường đi xa lại cần trở lại lần nữa. Nó cũng giống như khi bạn ăn: bạn đói cho nên bạn ăn, thế thì cơn đói qua đi bởi vì bạn đã ăn. Khi bạn yêu một người điều đó cũng tựa thức ăn. Tình yêu là thức ăn - rất tinh tế, tâm linh, nhưng nó là thức ăn: nó nuôi dưỡng. Khi bạn yêu một người thì cơn đói rút đi; bạn cảm thấy được thoả mãn, thế rồi bỗng nhiên việc chuyển động ra xa bắt đầu và các bạn tách ra. Nhưng thế thì các bạn lại cảm thấy đói; các bạn sẽ lại tới gần hơn, cận kề hơn, để yêu, để rơi vào nhau. Bạn ăn, thế rồi trong bốn, năm, sáu giờ, bạn quên mất thức ăn; bạn không cứ ngồi mãi ở bếp, bạn không cứ ngồi mãi ở bếp ăn tập thể. Bạn đi xa; sau sáu giờ bỗng nhiên bạn bắt đầu quay lại - cơn đói đang tới.

Yêu có hai bộ mặt cho nó: đói và thoả mãn. Bạn hiểu lầm yêu với đói. Một khi bạn hiểu rằng không có ghét mà chỉ có tình huống để tạo ra đói, thế thì ghét trở thành một phần của yêu. Thế thì nó làm giầu thêm cho yêu. Thế thì giận dữ trở thành một phần của từ bi, nó làm giầu cho từ bi. Từ bi mà không có khả năng nào của giận dữ sẽ bất lực, nó sẽ không có năng lượng trong nó. Từ bi với khả năng của giận dữ có sức mạnh, sức chịu đựng. Yêu không có ghét sẽ trở thành nhạt nhẽo. Thế thì hôn nhân sẽ có vẻ như cầm tù, bạn không thể đi xa được. Yêu có ghét thì có sự tự do trong đó - nó chưa bao giờ trở nên nhạt nhẽo.

Trong toán học của tôi về cuộc sống thì chia lìa xảy ra bởi vì mọi ngày bạn cứ trì hoãn chúng. Thế thì chia lìa cứ tích luỹ lại và một ngày nào đó sự kết hợp hoàn toàn bị giết chết bởi nó, bị phá huỷ bởi nó. Nếu bạn hiểu tôi, tôi sẽ gợi ý bạn đừng chờ đợi: mọi ngày hãy chia lìa và kết hợp lại. Nó nên là nhịp điệu cũng giống như ngày và đêm, cơn đói và sự thoả mãn, mùa hè và mùa đông, sống và chết. Nó nên giống như điều đó. Vào buổi sáng bạn yêu, vào buổi trưa bạn ghét. Khi bạn yêu thì bạn thực sự yêu, bạn yêu một cách toàn bộ; khi bạn ghét thì bạn thực sự ghét, bạn ghét một cách toàn bộ. Và bỗng nhiên bạn sẽ thấy cái đẹp của nó: cái đẹp là trong tính toàn bộ.

Ghét toàn bộ cũng đẹp, đẹp như yêu toàn bộ; giận dữ toàn bộ cũng đẹp, đẹp như từ bi toàn bộ. Cái đẹp là ở trong tính toàn bộ. Giận dữ một mình trở thành xấu, ghét một mình trở thành xấu - nó chỉ là thung lũng không có đồi núi, không có đỉnh cao. Nhưng với đỉnh cao thì thung lũng trở thành cảnh đẹp - từ đỉnh cao thung lũng trở thành đáng yêu, từ thung lũng đỉnh cao trở thành đáng yêu.

Bạn di chuyển; dòng sông cuộc sống của bạn di chuyển giữa đôi bờ. Và dần dần, càng ngày bạn càng hiểu nhiều hơn về toán học của cuộc sống, bạn sẽ không nghĩ rằng ghét là chống lại yêu: nó là bù nhau. Bạn sẽ không nghĩ rằng giận dữ là chống lại từ bi: nó là bù nhau. Thế thì bạn không nghĩ rằng nghỉ ngơi là chống lại làm việc: nó là bù nhau - hay rằng đêm là chống lại ngày: nó là bù nhau. Chúng làm thành tổng thể hoàn chỉnh.

Bởi vì bạn đã không yêu, nên bạn sợ ghét - bạn sợ bởi vì yêu của bạn không đủ mạnh: ghét có thể phá huỷ nó. Bạn không chắc chắn liệu bạn có yêu hay không, đó là lí do tại sao bạn sợ ghét và giận. Bạn biết rằng nó có thể làm tan tành hoàn toàn cả ngôi nhà. Bạn không chắc chắn liệu ngôi nhà có thực sự tồn tại hay chỉ là tưởng tượng, ngôi nhà tưởng tượng. Nếu nó là tưởng tượng thì ghét sẽ phá huỷ nó; nếu nó là thực thì ghét sẽ làm cho nó mạnh thêm. Sau cơn bão im lặng hạ xuống. Sau ghét những người yêu lại tươi tắn để rơi vào nhau - hoàn toàn tươi tắn, dường như họ lại gặp nhau lần đầu tiên. Họ cứ gặp nhau đi gặp nhau lại, cứ lại là lần đầu tiên.

Những người yêu nhau bao giờ cũng gặp gỡ lần đầu tiên. Nếu họ gặp lần thứ hai, tình yêu đã già đi rồi, nhạt nhẽo rồi. Nó sẽ thành chán. Những người yêu bao giờ cũng rơi vào tình yêu hàng ngày, tươi tắn, trẻ trung. Bạn nhìn vào người phụ nữ của mình và bạn thậm chí không thể nào nhận ra rằng bạn đã thấy cô ấy trước đây - mới thế. Bạn nhìn vào người đàn ông của mình và anh ta dường như là người lạ, bạn lại rơi vào tình yêu lần nữa.

Ghét không phá huỷ yêu, nó chỉ phá huỷ cái nhạt nhẽo của nó. Nó là việc lau chùi, và nếu bạn hiểu nó thì bạn sẽ biết ơn nó. Và nếu bạn có thể biết ơn ghét nữa, thì bạn đã hiểu; bây giờ chẳng cái gì có thể phá huỷ được tình yêu của bạn. Bây giờ lần đầu tiên bạn mới thực sự bắt rễ; bây giờ bạn có thể hấp thu cơn bão và có thể được làm mạnh thêm qua nó, có thể được giầu có thêm qua nó.

Bạn đừng nhìn cuộc sống như hai mặt, đừng nhìn vào cuộc sống như xung đột - nó không phải vậy. Tôi đã biết - nó không phải vậy. Tôi đã kinh nghiệm - nó không phải vậy. Nó là một tổng thể, một mảnh, và mọi thứ khít trong nó. Bạn chỉ phải tìm ra cách để chúng khít vào nhau, cách để cho phép chúng khít nhau. Cho phép chúng khít vào nhau. Nó là một tổng thể đẹp.

Và nếu bạn hỏi tôi, nếu như có khả năng về một thế giới không có ghét, tôi sẽ không chọn nó; nó sẽ hoàn toàn chết và chán ngán. Nó có thể ngọt ngào, nhưng quá ngọt - bạn sẽ khao khát muối. Nếu một thế giới mà có thể không có giận dữ, tôi sẽ không chọn nó, bởi vì chỉ từ bi mà không có giận dữ thì sẽ không có cuộc sống trong nó. Cái đối lập cho sự giằng co, cái đối lập cho sự tôi luyện. Khi sắt thường được đưa qua lửa, nó trở thành thép; không có lửa nó không thể thành thép được. Và nhiệt độ càng cao, thép sẽ càng được tôi, càng mạnh. Nếu từ bi của bạn có thể trải qua giận dữ, nhiệt độ giận dữ càng cao thì tôi luyện và sức mạnh của từ bi càng lớn.

Phật là từ bi. Ông ấy là một chiến binh. Ông ấy xuất thân từ dòng giống kshatriya, võ sĩ đạo. Ông ấy phải đã dẫn đến một cuộc sống rất giận dữ - và thế rồi bỗng nhiên, từ bi. Mahavira xuất thân từ dòng giống kshatriya. Trong thực tế, điều này có vẻ ngớ ngẩn nhưng nó có nhất quán chắc chắn cho nó: tất cả các thầy giáo vĩ đại về bất bạo lực đều xuất thân từ dòng giống kshatriya. Không Brahmin nào đã thuyết giảng về bất bạo lực. Chúng ta biết chỉ mỗi một Brahmin, người được biết như một trong các avatars, Parusharam. Ông ấy là người bạo hành nhất mà thế giới đã từng biết tới - một brahmin, người bạo hành nhất! Hai mươi bốn tirthankaras của người Jainas tất cả đều là kshatriyas, Phật là một kshatriya. Họ nói về bất bạo lực, từ bi; họ đã sống bạo lực, họ biết bạo lực là gì, họ đã trải qua nó. Cho dù một brahmin cố gắng bất bạo lực, thì cái bất bạo lực của người đó cũng không thể sâu hơn làn da. Chỉ một kshatriya, một chiến binh, người đã sống qua lửa, mới có từ bi mạnh hay có khả năng về nó.

Cho nên nhớ lấy, nếu bên trong trái tim bạn các cực đoan đang đánh nhau, đừng chọn lựa. Cho phép chúng cả hai có đó. Là ngôi nhà lớn, có đủ chỗ bên trong. Đừng nói, "Mình sẽ chỉ từ bi, không giận dữ; mình sẽ chỉ yêu, không ghét." Bạn sẽ bị suy kiệt.

Hãy có căn phòng lớn; để cả hai ở đó. Và không cần tạo ra đánh nhau giữa chúng; không có đánh nhau. Đánh nhau tới từ tâm trí của bạn, từ giáo huấn của bạn, từ giáo dục, ước định. Cả thế giới nói với bạn: Yêu đi. Đừng ghét. Làm sao bạn có thể yêu mà không ghét được? Jesus nói, "Yêu kẻ thù của mình." Và tôi bảo bạn, "Ghét người yêu của mình " - thế thì điều đó trở thành một toàn thể đầy đủ. Bằng không thì châm ngôn của Jesus còn chưa đầy đủ. Ông ấy nói, "Yêu kẻ thù của mình." Bạn chỉ ghét; ông ấy nói yêu nữa. Nhưng phần kia lại bị bỏ lỡ. Tôi bảo bạn: Ghét cả bạn mình nữa; ghét cả người yêu nữa. Và đừng sợ. Thế thì dần dần bạn sẽ thấy không có khác biệt giữa kẻ thù và bạn bè, bởi vì bạn ghét và yêu kẻ thù và bạn yêu và ghét người bạn. Đấy sẽ chỉ là vấn đề về đồng tiền lật sấp hay lật ngửa. Thế thì bạn là kẻ thù và kẻ thù là bạn. Thế thì phân biệt đơn giản biến mất.

Bạn đừng tạo ra đánh nhau bên trong, cho phép chúng cả hai có đó. Chúng cả hai sẽ được cần tới - cả hai sẽ cho bạn hai cánh; chỉ thế thì bạn mới có thể bay.

Câu hỏi cuối cùng:

Lão Tử có thể là siêu nhân, ông ấy có thể là chính tột đỉnh của chân lí, nhưng chính tột đỉnh của ông ấy lại làm cho ông ấy thành vô dụng cho người thường như chúng tôi. Mặt khác, liệu không thể nói được rằng Mahavira và Moses và Mohammed là thực dụng và có ích hơn sao?

 

Họ có ích đấy. Họ thực dụng nhiều hơn, ích lợi nhiều hơn. Nhưng họ có ích bởi vì họ không làm thay đổi bạn hoàn toàn; họ thoả hiệp, họ không làm biến đổi bạn toàn bộ. Họ có vẻ có ích; họ thực dụng, điều đó là chắc chắn - Mohammed hay Moses - tuyệt đối thực dụng bởi vì với tâm trí bạn thì họ khớp. Đó là lí do tại sao họ có vẻ thực dụng. Bất kì điều gì bạn nghĩ là thực dụng thì họ cũng nghĩ là thực dụng.

Lão Tử là hoàn toàn khác với tâm trí bạn và đó là khả năng biến đổi. Với Mohammed bạn sẽ không được biến đổi. Bạn có thể trở thành người Mô ha mét giáo, bạn có thể trở thành người tốt, bạn thậm chí có thể trở thành người đức hạnh, nhưng bạn sẽ vẫn còn trên cùng con đường mòn - chiều hướng sẽ không thay đổi. Với Mahavira bạn sẽ vẫn còn như cũ - tốt hơn nhưng vẫn như cũ, có sửa đổi nhưng vẫn như cũ, được tinh luyện, tô vẽ, đổi mới - nhưng vẫn như cũ. Với Lão Tử bạn sẽ bị phá huỷ hoàn toàn và sẽ được tái sinh. Ông ấy là cái chết và sự phục sinh.

Cố hiểu tại sao nó lại là như vậy. Bạn có thể hiểu Mahavira; tính toán của ông ấy là của tâm trí bạn - logic của ông ấy không vượt ra ngoài bạn. Đó là lí do tại sao ông ấy có vẻ thực dụng. Và không phải là trùng hợp ngẫu nhiên mà tất cả các tín đồ của ông ấy đều trở thành nhà kinh doanh - những người tính toán, toán học, thực dụng. Không phải là trùng hợp ngẫu nhiên mà tất cả người Jaina đều trở thành nhà kinh doanh: họ toán học hơn, láu cá hơn, tính toán. Và không phải là trùng hợp ngẫu nhiên mà những người Do Thái là những người tính toán nhất trên trái đất, cộng đồng tính toán nhất - láu cá. Người Jaina và người Do Thái gần như là một; người Jaina là người Do Thái của Ấn Độ. Tại sao điều đó lại là như vậy? Moses là thực dụng, Mahavira cũng thực dụng.

Tôi nhớ tới một giai thoại; nó thuộc về chính lúc bắt đầu của thế giới.

Thượng đế đang đi tìm một cộng đồng sẽ nhận mười lời răn của ông ấy. Thế giới đang trải qua chút ít chao đảo, và đạo đức và luân lí được cần tới. Cho nên ông ấy tiếp cận nhiều cộng đồng, nhưng chẳng ai chấp nhận cả.

Ông ấy tới người Hindus và nói, "Ta có mười điều răn tặng các ông. Đây là toàn bộ triết lí về cuộc sống."

Và người Hindus hỏi: "Thí dụ xem nào? Nói cho chúng tôi về một lời răn..."

Và Thượng đế nói, "Chân thực. Lương thiện."

Người Hindus nói, "Điều đó sẽ là khó trong thế giới của maya. Trong ảo tưởng này, người ta cần cái không thực nữa. Đôi khi, trong thế giới của mơ này... làm sao người ta có thể bao giờ cũng thật được? Điều đó sẽ là khó, và tại sao tạo ra khó khăn không cần thiết?"

Ông ấy đi hỏi các chủng tộc khác. Một số dân tộc nói rằng đòi hỏi là quá nhiều nếu không được ngoại tình, bởi vì cuộc sống mất mọi thích thú. Ngoại tình đem lại cho cuộc sống thích thú, tưởng tượng. Điều đó sẽ quá nhiều, thế thì cuộc sống sẽ không đáng sống.

Và Thượng đế trở nên thất vọng. Từ khắp nơi ông ấy đều bị bác bỏ.

Và tương truyền rằng ông ấy tới Moses, và ông ấy nói: "Ta có mười lời răn dành cho ông. " Bây giờ ông ấy sợ bởi vì đây là chủng tộc cuối cùng. "Ông có thích lấy chúng không?"

Ông ấy đã trông đợi rằng Moses sẽ hỏi, "Những lời răn này là gì?" Nhưng ông này chẳng bao giờ hỏi cả. Ông này hỏi: "Giá thế nào? Nó giá bao nhiêu?"

Và Thượng đế nói, "Cho không đấy."

Và Moses nói, "Thế thì tôi sẽ lấy hai bộ."

Tính toán, toán học, láu cá, thông minh - người Do Thái chỉ chiếm hai phần trăm số người trên thế giới nhưng họ chiếm mười tám phần trăm giải thưởng Nobel! Hai phần trăm số người và mười tám phần trăm giải thưởng Nobel! Đấy là hiện tượng rất rất khó. Hai phần trăm số người nhưng họ chạy hầu khắp cả thế giới, và ở mọi nơi họ đều bị bác bỏ, ở mọi nơi đều bị lên án. Nhưng họ thực dụng thế và láu cá thế. Ba người đã cai trị cả thế kỉ này tất cả đều là người Do Thái: Marx, Freud, Einstein. Ba người đã cai trị toàn thế giới - họ tất cả đều là người Do Thái.

Tại sao điều đó lại xảy ra như vậy? Đơn giản. Họ không phải là không thực dụng. Lão Tử là không thực dụng. Lão Tử trong thực tế ca ngợi tính không thực dụng.

Có một câu chuyện:

Lão Tử đi cùng với các đệ tử của mình và họ đến một khu rừng nơi hàng trăm thợ mộc đang chặt cây, bởi vì một cung điện lớn đang được xây dựng. Cho nên cả khu rừng đã gần như bị chặt hết, nhưng mỗi một cây vẫn còn đứng đó, một cây lớn với hàng nghìn cành - lớn đến mức mười nghìn người có thể ngồi dưới bóng của nó. Lão Tử bảo các đệ tử đi và hỏi tại sao cái cây này lại chưa bị chặt khi cả khu rừng đã bị chặt và đem đi.

Các đệ tử đi và họ hỏi các thợ mộc, "Sao các ông không chặt cây này?"

Các thợ mộc nói, "Cây này hoàn toàn vô dụng. Ông không thể làm được gì từ nó cả bởi vì mọi cành của nó đều có nhiều đầu mẩu thế trong nó. Chẳng cái gì thẳng cả. Ông không thể nào làm đồ đạc từ nó được. Ông không thể nào dùng nó làm chất đốt bởi vì khói nguy hiểm cho mắt lắm - ông hầu như sẽ bị mù. Cái cây này hoàn toàn vô dụng. Đó là lí do tại sao."

Họ quay về. Lão Tử cười và ông ấy nói, "Cứ giống cái cây này đi. Nếu ông muốn sống còn trong thế giới này, cứ giống cái cây này - hoàn toàn vô dụng. Thế thì chẳng ai sẽ hại ông. Nếu ông thẳng, ông sẽ bị chặt, ông sẽ trở thành đồ đạc trong nhà ai đó. Nếu ông đẹp, ông sẽ bị bán ở chợ, ông sẽ trở thành món hàng. Cứ giống cái cây này đi, hoàn toàn vô dụng. Thế thì chẳng ai có thể làm hại ông. Và ông sẽ to lớn và bao la, và hàng nghìn người có thể tìm thấy bóng mát dưới ông. "

Lão Tử đi qua một thành. Tất cả mọi thanh niên của thành này đều bị buộc vào lính.

Họ bắt gặp một người gù. Lão Tử nói, "Đi hỏi tại sao người này đã bị bỏ lại và không bị bắt lính."

Người gù nói, "Làm sao tôi có thể bị bắt lính được? Ông xem đấy, tôi là người gù. Tôi chẳng dùng được."

Các đệ tử trở về và Lão Tử nói, "Nhớ lấy. Cứ giống như người gù này. Thế thì các ông sẽ không bị bắt lính để giết người hay bị giết. Vô dụng đi."

Lão Tử có logic hoàn toàn khác với tâm trí bạn. Ông ấy nói: Là người cuối cùng. Đi vào trong thế giới dường như bạn không hiện hữu. Vẫn còn không được biết tới. Đừng cố gắng là người đầu tiên, bằng không bạn sẽ bị vứt đi. Đừng tranh đua, đừng cố gắng chứng tỏ giá trị của mình. Không cần. Vẫn còn vô dụng và tận hưởng.

Tất nhiên ông ấy là không thực dụng. Nhưng nếu bạn hiểu ông ấy, bạn sẽ thấy rằng ông ấy là người thực tế nhất ở tầng sâu hơn, trong chiều sâu - bởi vì cuộc sống là để tận hưởng và mở hội, cuộc sống không để trở thành một thứ tiện dụng. Cuộc sống giống nhiều với thơ ca hơn là món hàng trong chợ; nó nên giống thơ ca, bài ca, điệu vũ, đoá hoa bên vệ đường, nở hoa chẳng vì ai nói riêng, toả hương thơm của nó theo gió, không địa chỉ nào, không là ai cả nói riêng, chỉ tận hưởng bản thân nó, là bản thân nó.

Lão Tử nói: Nếu bạn cố gắng rất láu cá, nếu bạn cố gắng rất hữu dụng, thì bạn sẽ bị sử dụng. Nếu bạn cố gắng rất thực dụng, ở đâu đó chỗ này hay chỗ khác bạn sẽ bị khai thác, bởi vì thế giới không thể bỏ người thực dụng một mình được. Lão Tử nói: Vứt mọi ý tưởng này đi. Nếu bạn muốn là bài thơ, cực lạc, thế thì quên tiện dụng đi. Bạn vẫn còn đúng với bản thân mình. Là bản thân mình. Những người hippy có câu ngạn ngữ: Làm việc của bạn. Lão Tử là người hippy đầu tiên trên thế giới. Ông ấy nói: Là bản thân bạn và làm việc của bạn và đừng bận tâm về bất kì cái gì khác. Bạn không ở đây để bị bán. Cho nên đừng nghĩ tới tiện dụng, chỉ nghĩ về phúc lạc của bạn. Phúc lạc đi, và nếu cái gì đó tuôn chảy ra từ phúc lạc của bạn thì nó đều tốt - chia sẻ nó. Nhưng đừng bó buộc bản thân mình chỉ là một thứ tiện dụng bởi vì đấy là cách tự tử xảy ra. Người ta tự giết mình. Đừng tự tử.

Mọi thầy giáo trên thế giới sẽ thực tế hơn Lão Tử, đó là lí do tại sao họ có nhiều hấp dẫn. Đó là lí do tại sao họ có tổ chức lớn: người Ki tô giáo - gần nửa thế giới đã trở thành người Ki tô giáo - người Mô ha mét giáo, Hindu giáo, Jaina giáo, Sikh giáo - họ tất cả đều là kẻ tiện dụng. Lão Tử đứng một mình, đơn độc. Lão Tử đứng trong sự tồn tại độc tấu.

Nhưng Lão Tử là hiếm hoi và duy nhất. Nếu bạn có thể hiểu ông ấy thì bạn cũng có thể trở thành hiếm hoi và duy nhất. Và cách thức là thành bình thường - thế thì bạn trở thành phi thường; cách thức chỉ là người cuối cùng, và thế thì bỗng nhiên bạn là người đầu tiên; cách thức là không công bố, không kể công, và thế thì chẳng ai có thể lấy điều đó khỏi bạn được; cách thức là tồn tại như không hiện hữu, như không ai cả, và thế thì theo một cách bí ẩn và tinh tế, bạn và chỉ bạn mới trở thành ai đó - ai đó mà toàn thể sự tồn tại cảm thấy được ân huệ với, cảm thấy được ân huệ bởi, ai đó mà với người đó toàn thể sự tồn tại mở hội.

 
 
 
 

Bài  mới nhất

Bài  xem nhiều

Đăng  nhập